Phép biện chứng của Hêghen. Một trong những thành tựu vĩ đại của triết học cổ điển Đức - Pdf 19

Phép biện chứng của Hêghen – Một trong những thành tựu vĩ đại của TH cổ điển Đức
GVHD: TS.Nguyễn Ngọc Thu 1 SVTH: Trần Đăng Ninh Tiểu luận
Phép biện chứng của Hêghen – Một trong
những thành tựu vĩ đại của TH cổ điển Đức

cổ

điển

Đức



nền

triết

học

được

tạo

nên

từ

cuối

thế

kỷ

XVIII




thế

giới.

Đây



đỉnh

cao

của

thời

kỳ triết

học

Tây

Âu,

đồng

thời


vậy,



trở

thành

một

trong

ba

nguồn

gốc

hình

thành

chủ

nghĩa

Marx

-


hội

không

tưởng

Pháp).

Nền

triết

học

cổ

điển

Đức



khúc

dạo

đầu

cho


hưởng

đầy

tính

bác

học

của triết

học

Tây

Âu



khúc

dạo

đầu

lại

rực




bức

ra

khỏi

những

nốt

nhạc

trời

đầy

màu

sắc

thần

linh

để

khảy lên


qua

những triết

gia

dệt

nên

những

trang

bất

hữu

bởi

thời

gian.

Đặc

biệt




đại

biểu

tiêu

biểu

như:

Canter,

Hegel,
Feurbach.

Tuy

đứng

trên

lập

trường

duy

tâm

nhưng


độc

đáo,

đề

xuất

được



duy

biện

chứng,

logic

biện

chứng,

học thuyết

về

các


của

họ

đó

là phép

biện

chứng.

Với

cách

nhìn

tổng

quát

về

phương

pháp

biện


tri

thức



thành

tựu



nhân

loại

đã

đạt

được. Trong

số

các

nhà

triết


chứng

của

ông



một

tiền

đề



luận

quan trọng

của

triết

học

Mácxit.

Triết


Châu

Âu

đương

thời,

triết

học

của

ông

được

gọi



"tinh

thần

Phổ".

Phép biện


sự

vận

động và

phát

triển

của

các

khái

niệm

được

ông

đồng

nhất

với

biện


điển

Đức



Hegel

đã

đem

lại

cho

triết học

địa

vị

vốn





sứ


sâu

sắc







sở

khoa

học,

Hegel

đã

làm

sáng

tỏ

đối

tượng,


khoa

học

khác



qua

đó,
trình

bày

một

cách

khúc

chiết,

đúng

đắn

bản


của mình, giai cấp tư sản Đức phải tìm cách nào đó để thể hiện tinh thần đó và đã gửi gắm
vào trong triết học cổ điển Đức. Đồng thời, trước đòi hỏi của quá trình phát triển phương
thức sản xuất tư bản ở các nước Tây Âu, khoa học tự nhiên đã đạt nhiều thành tựu lớn:
phát hiện ra điện, phát hiện ra ôxy và bản chất sự cháy của Lavoadie; việc phát hiện ra tế
bào của Lơvenhuc; học thuyết về dưỡng khí của Pritski và Sielo N hững thành tựu đó
chứng tỏ sự hạn chế của phương pháp tư duy siêu hình trong việc lý giải bản chất của các
hiện tượng tự nhiên và thực tiễn xã hội đang diễn ra. Nó đòi hỏi cần có cách nhìn mới,
phương pháp mới, quan niệm mới về vai trò và khả năng của con người. Triết học cổ điển
Đức ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu đó.
2. Những đặc điểm cơ bản:
- Triết học cổ điển Đức có nội dung rất cách mạng nhưng hình thức thể hiện rất rối
Phép biện chứng của Hêghen – Một trong những thành tựu vĩ đại của TH cổ điển Đức
GVHD: TS.Nguyễn Ngọc Thu 4 SVTH: Trần Đăng Ninh

rắm, bảo thủ. Triết học cổ điển Đức là tiếng nói của giai cấp tư sản Đức nhằm phê phán
trật tự xã hội đương thời. Tuy nhiên, tinh thần phê phán đó là tinh thần mang tính ôn hòa.
Người ta nói rằng: triết học cổ điển Đức là sự thể hiện cách mạng tư sản Pháp trên nước
Đức. Triết học cổ điển Đức nhằm phê phán trật tự xã hội đương thời, vẫn còn dưới sự
thống trị của vương triều Phổ. Tuy nhiên, nếu so sánh tinh thần phê phán của triết học cổ
điển Đức vào nửa đầu thế kỷ XIX với tinh thần phê phán của triết học Tây Âu thế kỷ
XVII thì tinh thần phê phán đó mang tính

ôn hòa hơn, nó không quyết liệt bằng tinh thần
phê phán của triết học Tây Âu thế kỷ XVII - XVIII vì nó được bao bọc bởi những vỏ sinh
tâm thần bí trong triết học của Hegel hay Canter, Phicter…
- Triết học cổ điển Đức đã xây dựng phép biện chứng như là học thuyết triết học về
mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển xảy ra trên thế giới.
- Triết học cổ điển Đức đề cao vai trò tích cực của con người với tính cách là chủ thể
của mọi hoạt động cải tạo thế giới – khách thể và khảo sát khách thể gắn liền với hoạt
động thực tiển của chủ thể - con người. Tuy nhiên, họ đã gắn cho con người một vai trò

những sản phẩm hoạt động của con người chỉ là hiện thân của ý niệm tuyệt đối. Học
thuyết ý niệm tuyệt đối nằm trong hệ thống triết học của ông gồm ba phần:
(+)
Khoa học logic:
nghiên cứu ý niệm tuyệt đối ở giai đoạn sơ khai, nhưng lại là
xuất phát điểm của hệ thống, trình bày các quy luật phổ biến của sự vận động và phát
triển.
(+)
Triết học tự nhiên:
triết học đem lại bức tranh về sự phát triển của giới tự nhiên
dưới hình thức duy tâm.
(+)
Triết học tinh thần:
dưới hình thức triết học tinh thần, Hegel đã trình bày lịch sử
của con người và sự tự nhận thức của con người.
- Ý niệm tuyệt đối là
thực thể tinh thần
có trước giới tự nhiên, giống thượng đế sáng
tạo ra giới tự nhiên và toàn thể nhân loại. Theo Hegel, mọi sự vật, hiện tượng trong thế
giới đều được sinh ra bởi một thực thể tinh thần, ý thức, tinh thần có trước vật chất nhưng
đó không phải là ý thức, tinh thần của từng cá nhân, con người cụ thể mà là một thực thể
tinh thần bên ngoài con người và ông đặt tên là ý niệm tuyệt đối. Điều đó chứng tỏ triết
học của Hegel là duy tâm khách quan. Trong quá trình tự vận động biện chứng, nó đạt tới
sự phát triển đầy đủ ngay trước khi giới tự nhiên xuất hiện và khi đạt tới sự phát triển đầy
đủ thì ý niệm tuyệt đối “tha hóa” thành giới tự nhiên. Ý niệm tuyệt đối là một thực thể
tinh thần nên có tính ham hiểu biết, bởi vậy muốn biết mình thì phải tha hóa mình ra thành
cái khác mình. Theo học thuyết ý niệm tuyệt đối điểm khởi đầu là tinh thần và điểm kết
thúc của sự phát triển cũng là tinh thần, chỉ có khác ở chỗ điểm khởi đầu là tinh thần thế
giới còn điểm kết thúc là tinh thần tuyệt đối.
- Như vậy, Triết học của H egel nếu xét về hệ thống thì nó là triết học duy tâm khách

- Đối lập với tư duy siêu hình Hegel là người đầu tiên trình bày giới tự nhiên, lịch sử
và tư duy dưới dạng một quá trình nghĩa là nằm trong sự vận động, biến đổi và phát triển
không ngừng, đồng thời hiểu phát triển là quá trình phủ định biện chứng, trong đó cái mới
ra đời thay thế cái cũ nhưng vẫn kế thừa của cái cũ những mặt tích cực có thể thúc đẩy sự
phát triển. Tự nhiên, lịch sử và tư duy theo H egel trình bày ở dạng quá trình, tức là trong
sự sinh thành, biến đổi và phát triển. Khác với siêu hình, siêu hình cho rằng phát triển là
Phép biện chứng của Hêghen – Một trong những thành tựu vĩ đại của TH cổ điển Đức
GVHD: TS.Nguyễn Ngọc Thu 7 SVTH: Trần Đăng Ninh

sự tăng giảm đơn thuần về lượng, còn Hegel hiểu rằng phát triển là quá trình phủ định từ
thấp đến cao, đó là quá trình phủ định biện chứng. Phủ định biện chứng có hai đặc điểm:
khách quan và kế thừa, kế thừa có sự chọn lọc, phê phán, người đầu tiên khái quát lên tư
tưởng đó là Hegel. Học thuyết của Hegel chứng minh: con cái ra đời từ cha mẹ sẽ kế thừa
những mặt tích cực của cha mẹ, loại bỏ những mặt tiêu cực.
Ví dụ:
chế độ tư bản ra đời
dưới chế độ phong kiến, cũng là quá trình phủ định biện chứng, nó không phủ định sạch
trơn tất cả những chế độ, hệ tư tưởng, những tư tưởng mà chế độ phong kiến đã tạo ra,
không phải đạp đổ tất cả mọi thành quách, đền đài, lăng cẩm mà cũng kế thừa những mặt
tích cực, chọn lọc phát triển chủ nghĩa tư bản.
Với tinh thần biện chứng, khi đánh giá bất kỳ sự vật nào đó phải thấy hai mặt: tích
cực và tiêu cực để từ đó loại bỏ những mặt tiêu cực và kế thừa những mặt tích cực. Như
vậy, tinh thần của biện chứng người đầu tiên khái quát lên là Hegel. Nếu thừa nhận phủ
định biện chứng này thì đánh giá của các nhà chủ nghĩa tư bản đa số đều khách quan. Đối
với Heghen không có gì được gọi là tối hậu, là tuyệt đối, là thiêng liêng cả mà nó chỉ tính
chất quá độ của mọi sự vật, không có gì tồn tại ngoài quá trình không ngừng của sự hình
thành, của sự tiêu vong, của sự tiến triển vô cùng, vô tận từ thấp đến cao.
- Theo Hegel, con người vừa là chủ thể, vừa là kết quả hoạt động của mình, nhận
thức và tư duy của con người được hình thành trong chừng mực con người nhận thức và
cải tạo thế giới. Ý thức của mỗi cá nhân là sự khái quát lại toàn bộ ý thức mà nhân loại đã

quá khứ và trong hiện tại. Đây chính là quan điểm duy tâm của H egel. Những quan hệ xã
hội hình thành nên bản chất của ta, không chỉ trong hiện tại mà còn trong cả quá khứ. Nếu
tách con người hiện tại ra khỏi liên hệ lịch sử thì con người trong hiện tại phát triển phiến
diện và bề ngoài. Người đặt nền móng tư tưởng này chính là Hegel.
- Hegel là người nâng phép biện chứng từ trình độ tự phát lên trình độ lý luận và là
người đầu tiên trình bày phép biện chứng ở dạng nguyên lý, quy luật, phạm trù.
Trải qua nhiều bước thăng trầm của lịch sử, phép biện chứng tồn tại dưới ba hình
thức cơ bản, đó là:

Phép biện chứng chất phác trong thời kỳ cổ đại.

Phép biện chứng duy tâm gắn liền tên tuổi Hegel.

Phép biện chứng duy vật do M arx - Engels sáng lập vào giữa thế kỷ XIX.
Trong thời kỳ cổ đại, các nhà tư tưởng đã khái quát một bức tranh chung về thế giới
mang tính biện chứng dựa trên sự quan sát mang tính trực quan cảm tính.
Ví dụ:
trong thời
kỳ đó, Hecralite đưa ra luận điểm nổi tiếng, cho rằng trong thế giới không có sự vật, hiện
tượng nào đứng im tuyệt đối mà vạn vật vừa tồn tại, vừa không tồn tại, chúng luôn trôi
qua, luôn nằm trong quá trình không ngừng sinh thành, biến đổi và chuyển hóa, cái này
biến hóa thành cái kia và ngược lại. “Con người không ai tắm hai lần ở trong cùng một
dòng sông”, nghĩa là vạn vật không ngừng thay đổi. Theo Hecralite, dòng sông ngày hôm
nay sẽ không là dòng sông của ngày hôm qua vì dòng nước đã thay đổi. Chúng ta ngày
Phép biện chứng của Hêghen – Một trong những thành tựu vĩ đại của TH cổ điển Đức
GVHD: TS.Nguyễn Ngọc Thu 9 SVTH: Trần Đăng Ninh

hôm qua và hôm nay cũng khác nhau bởi theo biến đổi tâm sinh lý trong cơ thể. Tư tưởng
đó là tư tưởng biện chứng. Sau này học trò của Hecralite còn nói lên phép biện chứng còn
hơn cả thầy mình là: “Con người không ai tắm một lần ở trong cùng một dòng sông”. Với

GVHD: TS.Nguyễn Ngọc Thu 10 SVTH: Trần Đăng Ninh

hệ, tác động qua lại với nhau mà còn không ngừng vận động và phát triển từ thấp đến cao,
từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện cho đến hoàn thiện hơn. Nguồn gốc của động
lực và phát triển là sự đấu tranh của những mặt đối lập. Đ ây là tư tưởng hoàn toàn bình
đẳng, hợp lý. Đây cũng là quan điểm của triết học Marx về sau này.
Ví dụ:

Nguyên tử vận động vì nguyên tử là thể thống nhất của những mặt đối lập trong
lòng nó, hạt nhân mang điện tích âm dương.

Cơ thể sống vận động biến đổi vì cơ thể sống là thể thống nhất những mặt đối lập
trong lòng nó, đó là đồng hóa, dị hóa, biến dị, di truyền, hấp thụ, bài tiết.

Nền kinh tế biến đổi, phát triển bởi sự đấu tranh của những mặt đối lập trong lòng
nó: cung và cầu, tích lũy và tiêu dùng, kế hoạch hóa và vô chính phủ…
Cách thức phát triển là chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi
về chất và ngược lại (quy luật vật chất).
Nguyên nhân phát triển là theo con đường xoắn ốc mà mỗi vòng khâu của nó là một
mắc xích quá trình phủ định của phủ định.
Phủ định biện chứng là một sợi dây chuyền diễn ra liên tục và vô tận trong tất cả lĩnh
vực tự nhiên, xã hội và tư duy. Liên tục diễn ra cái mới hay cái cũ nhưngnó kế thừa cái cũ
những mặt tích cực, còn khả năng thúc đẩy sự phát triển. Và cũng theo phép biện chứng
của H egel, giữa cái chung và cái riêng, nguyên nhân và kết quả, tất nhiên và ngẫu nhiên,
nội dung và hình thức, bản chất hiện tượng, khả năng và hiện thực nó không cô lập nhau,
cũng không tách rời nhau mà chuyển hóa cho nhau.
Toàn bộ hai nguyên lý: nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, nguyên lý sự phát triển;
ba quy luật cơ bản: quy luật mâu thuẫn, quy luật lượng chất, quy luật phủ định của phủ
định và sáu quy luật phạm trù: cái chung cái riêng, nguyên nhân kết quả, tất nhiên ngẫu
nhiên, nội dung hình thức, bản chất hiện tượng, khả năng hiện thực đã được Hegel khái

đối với phép biện chứngcủa Hegel đã hoàn tất. Trái lại, cho đến tận cuối đời, các ông vẫn
không ngừng nhắc nhở rằng cần phải có những nghiên cứu chuyên sâu và những khái quát
mới về phép biện chứng của Hegel.
Noi theo tấm gương của M arx và Engels, V.I.Lenin cũng kiên trì nhấn mạnh về sự
cần thiết phải tiếp tục công việc chỉnh lý một cách duy vật đối với phép biện chứng của
Hegel. Trong bài viết "Về tác dụng của chủ nghĩa duy vật chiến đấu" – tác phẩm được coi
một cách xác đáng là di chúc triết học của Lenin - ông kêu gọi thành lập "H ội những
người bạn duy vật của phép biện chứng Hegel" để tiến hành công tác nghiên cứu giải
thích và tuyên truyền phép biện chứng của Hegel: "Dựa vào cách của M arx đã vận dụng
phép biện chứng của Hegel hiểu theo quan điểm duy vật, chúng ta có thể và cần phải
nghiên cứu phép biện chứng đó trên tát cả các mặt".
Phép biện chứng của Hêghen – Một trong những thành tựu vĩ đại của TH cổ điển Đức
GVHD: TS.Nguyễn Ngọc Thu 12 SVTH: Trần Đăng Ninh

Phép biện chứng của Hegel là một trong những cống hiến vĩ đại của ông trong quá
trình phát triển văn hóa khoa học của nhân loại, đặc biệt là trong sự ra đời của triết học
Marx. Từ đó cho thấy rằng hạt nhân phép biện chứng của Hegel là tư tưởng về sự phát
triển. Hegel đã mang lại phong cách tư duy mới, đó là phong cách tư duy biện chứng.
Hegel, một nhà bác học kiêu căng nhất trong lịch sử, là một thiên tài sáng tạo có tri
thức bách khoa, ông từng tuyên bố rằng nhân loại không tìm bộ óc nào vĩ đại hơn Hegel
được nữa. Chính Hegel là người đã khái quát nên phép biện chứng, đây là thằng bé trai
đẹp kháu khỉnh mà Engels đã từng ví. Engels ví: “Phép biện chứng của Hegel như thằng
bé trai đẹp kháu khỉnh được sinh ra bởi một người đàn bà nhưng chủ nghĩa duy tâm của
Hegel là nước dơ, nước bẩn trong chậu nước. Khi sinh em bé này, người ta đặt nó trong
chậu nước bẩn thì bình thường phải hắt nước bẩn giữ thằng bé để nuôi thằng bé lớn,
nhưng chỉ có điều đáng tiếc là L.Feurbach khi kế thừa H egel thì kế thừa nguyên si, nhưng
khi loại bỏ thì loại bỏ cả duy tâm và phép biện chứng”. Do đó Engels nói rằng: “Ông Lút
vích L.Feurbach khi ông hắt nước bẩn trong chậu nước thì đồng thời hắt luôn cả thằng bé
ngồi trong chậu nước”, nghĩa là Engels ví phép biện chứng của Hegel giống như thằng bé
kháu khỉnh được sinh ra bởi người đàn bà, còn chủ nghĩa duy tâm của Hegel là nước dơ,

khổng lồ nhưng đó cũng là cái thai đẻ non cuối cùng trong loại.
Cụ thể là hệ thống ấy chứa đựng một mâu thuẫn bên trong không thể cứu chữa được:
một mặt, tiền đề cơ bản của nó là một quan điểm lịch sử cho rằng lịch sử nhân loại là một
quá trình phát triển mà xét về bản chất thì không thể tìm được đỉnh cao của nó về mặt trí
tuệ trong việc phát hiện ra cái gọi là chân lý tuyệt đối. Nhưng mặt khác, hệ thống Hegel
lại khẳng định rằng nó là hiện thân của chính ngay chân lý tuyệt đối ấy. Một hệ thống
nhận thức về tự nhiên và lịch sử bao quát tất cả và hoàn tất một lần là xong vĩnh viễn, là
mâu thuẫn với những quy luật cơ bản của hệ tư duy biện chứng; nhưng điều đó hoàn toàn
không loại trừ mà trái lại còn bao hàm việc cho rằng sự hiểu biết có hệ thống về toàn bộ
thế giới bên ngoài có thể đạt được những bước tiến khổng lồ từ thế hệ này qua thế hệ
khác.
Tuy có nhược điểm là mâu thuẫn giữa phép biện chứng có tính cách mạng với hệ
thống duy tâm có tính chất bảo thủ nhưng triết học của Hegel thực sự là một hệ thống đồ
sộ, kỳ vĩ nhất trong lịch sử trước M arx nói chung và trong triết học cổ điển Đức nói riêng.
Như vậy, muốn thấy được giá trị đích thực của phép biện chứng Hegel phải luôn luôn lật
ngược vấn đề: biện chứng khách quan sinh ra biện chứng chủ quan nghĩa là phải nghiên
cứu triết học Hegel trên tinh thần duy vật.
3. Q uan điểm xã hội của Hegel:
- Quan điểm nguồn gốc và bản chất Nhà nước: con người bản tính bất bình đẳng vì
vậy mọi sự bất công, mọi tệ nạn xã hội là những hiện tượng tất yếu của sự phát triển xã
hội. Vì nó xuất phát từ bản tính con người do đó trong xã hội thường xuyên xảy ra mâu
Phép biện chứng của Hêghen – Một trong những thành tựu vĩ đại của TH cổ điển Đức
GVHD: TS.Nguyễn Ngọc Thu 14 SVTH: Trần Đăng Ninh

thuẫn, xung đột giữa các tầng lớp khác nhau cũng như mối cá nhân với xã hội. Chính vì
những mâu thuẫn xã hội trên mà N hà nước phải xuất hiện nhằm dung hòa các mâu thuẫn
giữa người giàu với người nghèo, giữa các đẳng cấp xã hội khác nhau nhằm định hướng
phát triển xã hội.
- Quan điểm về lịch sử: Hegel coi lịch sử là sự thống nhất giữa tính khách quan và
tính chủ quan trong hoạt động của con người, dẫu vậy ông cho rằng lịch sự không bao giờ

chính là phép biện chứng duy tâm. Hegel là người có công phê phán tư duy siêu hình và
ông cũng là người đầu tiên trình bày toàn bộ giới tự nhiên, lịch sử và tư duy dưới dạng
một quá trình, nghĩa là trong sự liên hệ, vận động, biến đổi và phát triển không ngừng.
Trong khuôn khổ hệ thống triết học duy tâm của mình, Hegel không chỉ trình bày các
phạm trù như: chất, lượng, phủ định, mâu thuẫn mà ông còn là người diễn đạt được các
quy luật theo khuôn khổ của phép biện chứng, nghĩa là ông coi sự liên hệ, vận động phát
triển của thế giới tuân theo các quy luật như “Lượng đổi dẫn đến chất đổi và ngược lại”,
“Phủ định của phủ định” với tư cách là sự phát triển diễn ra theo hình “Xoáy ốc” và quy
luật mâu thuẫn với tư cách là nguồn gốc động lực của sự phát triển.
Như vậy, những vấn
đề cốt lỗi nhất đã được Hegel đề cặp một cách bao quát nhất. Nhưng khi trình bày quy luật
của phép biện chứng Hegel lại cho rằng “Tất cả những quy luật đó chỉ là sản phẩm của sự
vận động và sáng tạo của ý niệm tuyệt đối”. Do đó, phép biện chứng của Hegel là phép biện
chứng duy tâm, hệ thống triết học của ông là hệ thống triết học duy tâm. Nét đặc trưng của
hệ thống đó là không phải ý thức phát triển trong sự phụ thuộc vào sự phát triển của tự
nhiên và xã hội mà ngược lại, tự nhiên và xã hội phát triển trong sự phụ thuộc vào sự phát
triển của ý niệm tuyệt đối. Marx và Engels đã phê phán một cách triệt để tính chất duy tâm
trong phép biện chứng của Hegel. Đồng thời, các ông cũng kế thừa, tiếp thu những mặt tiến
bộ trong phép biện chứng ấy để hình thành phép biện chứng duy vật và các ông coi Hegel là
người có nhiều công lao trong việc phát triển phép biện chứng.
Chính học thuyết của Hegel là thứ triết học đã biến phép biện chứng thành trung tâm,
thành hạt nhân đích thực của toàn bộ hệ vấn đề triết học. Phép biện chứng được Hegel lý
giải là phương pháp đúng đắn để nhận thức các vấn đề triết học. Phương pháp tư duy biện
chứng được ông nghiên cứu một cách đầy đủ nhất và có căn cứ vững chắc, là phương pháp
chưa từng thấy trong lịch sử triết học trước Marx. Trong triết học Hegel, phép biện chứng
biểu hiện ra là lý luận nhận thức và là hình thức cao nhất của logic học, của tư duy logic.
Đồng thời nó cũng chế định một thế giới quan đặc biệt cần đặt trên niềm tin vào tính tất yếu
của sự tiến bộ với tư cách là kết quả của sự phát triển hợp quy luật.
Phép biện chứng của Hêghen – Một trong những thành tựu vĩ đại của TH cổ điển Đức
GVHD: TS.Nguyễn Ngọc Thu 16 SVTH: Trần Đăng Ninh

Phép biện chứng của Hêghen – Một trong những thành tựu vĩ đại của TH cổ điển Đức
GVHD: TS.Nguyễn Ngọc Thu 17 SVTH: Trần Đăng Ninh

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. TS. Bùi Văn Mưa (chủ biên), Giáo trình Triết học, Nxb Đại học kinh tế Tp. HCM,
2011.
2. GS.TS Nguyễn Ngọc Long, Giáo trình Triết học Mac – Lênin, Nxb giáo dục, 2002.
3. Lưu Phóng Đồng (chủ biên), Triết học phương Tây hiện đại, Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội, 2004.
4. Nguyễn Hữu Vui (chủ biên), Lịch sử triết học, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2002.
5. Paul Redding, Thông diễn học của Hegel, Nxb TP. Hồ Chí Minh, 2006, dịch bởi Lê
Tuấn Huy.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status