Báo cáo nghiên cứu khoa học: " B­ước đầu tìm hiểu Nhịp điệu câu thơ mới bảy chữ." - Pdf 19

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 4B-2007

33
Bớc đầu tìm hiểu Nhịp điệu câu thơ mới bảy chữ

Nguyễn Hoài Nguyên
(a)
,
Nguyễn tHị ĐàO
(b) Tóm tắt. Bất cứ thể thơ nào cũng có một cấu trúc nhịp điệu nhất định. Nhng nếu
nhịp trong thơ thất ngôn truyền thống nhìn chung là tẻ nhạt thì thơ mới bảy chữ đã
hoán cải nhịp điệu ấy để trở thành đa dạng, độc đáo, mới lạ. Khảo sát thơ mới bảy chữ,
chúng tôi xác lập đợc 42 loại nhịp. Đây là một sự đột phá về nhịp điệu đầy cá tính và
bản lĩnh của các nhà thơ để phô diễn thế giới nội tâm ngày càng đa dạng, tinh tế của
con ngời, của thời đại mới. Tính đa dạng về nhịp điệu của thơ mới bảy chữ có khi là
dấu hiệu nhận diện một cá tính sáng tạo của nhà thơ, có khi là do yêu cầu cú pháp của
câu thơ và/hoặc đảm bảo sự mạch lạc về ngữ nghĩa của câu thơ nhng cũng có khi chỉ
đem đến một sự đa dạng trong cách đọc câu thơ. Bài viết này ở một mức độ nhất định
chứng tỏ những vấn đề đó.

1. Dẫn nhập
1.1. Nhịp điệu là một trong ba yếu

mới, xét ở mặt hình thức biểu hiện của
thơ, về ngôn ngữ thơ.
1.3. Thơ mới bảy chữ là sự kế thừa
và cách tân thơ thất ngôn Đờng luật.
Nh đã biết, bất cứ thể thơ nào cũng có
một cấu trúc nhịp điệu nhất định.
Nhng nếu nhịp điệu trong thơ thất
ngôn truyền thống nhìn chung là tẻ
nhạt thì thơ mới bảy chữ đã hoán cải cái
nhịp điệu ấy để trở thành đa dạng, độc
đáo, mới lạ. Vấn đề này đã đợc một số
nhà Việt ngữ học đặt vấn đề nghiên cứu
trong thời gian gần đây. Chẳng hạn,
GS. Đinh Văn Đức và các tác giả [2] khi
nghiên cứu ngôn ngữ thơ mới bảy chữ
tiếng Việt trong quá trình tự do hoá đã
khảo sát nhịp điệu thơ mới bảy chữ qua
các tập thơ Gửi hơng cho gió của Xuân
Diệu, Từ ấy của Tố Hữu, một số bài thơ

Nhận bài ngày 22/11/2007. Sửa chữa xong ngày 17/12/2007.
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 4B-2007

34

nhịp điệu thơ mới bảy chữ ở phạm vi
câu thơ. T liệu khảo sát là câu thơ bảy
chữ của Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Hàn
Mặc Tử, Nguyễn Bính, Tố Hữu. ở mỗi
nhà thơ, chúng tôi chỉ thu thập những
câu thơ trong các bài thơ bảy chữ không
xen những câu thuộc các thể thơ khác.
Cụ thể nh Bảng 1.
2.1.2. Để xác định nhịp điệu trong
7149 câu thơ bảy chữ chúng tôi dựa vào
cơ sở ngôn ngữ học của việc ngắt nhịp
thơ. Cụ thể: 1) Ngắt nhịp dựa vào các
dấu hiệu nhận dạng trên bề mặt hình
thức câu thơ (các dấu câu); 2) Ngắt nhịp
dựa theo cú đoạn hoặc ngữ đoạn; 3)
Ngắt nhịp dựa vào các vế trong câu so
sánh; 4) Ngắt nhịp theo vế đứng trớc
hoặc đứng sau từ có vai trò liên kết; 5)
Ngắt nhịp dựa vào phần đảo ngữ đợc
xếp vào nhịp đầu tiên Sau đây là cách
tổ chức nhịp điệu câu thơ mới bảy chữ
tiếng Việt.
Bảng 1.
Số lợng
TT Các nhà thơ
Bài thơ Câu thơ
1 Xuân Diệu 144 3375
2 Chế Lan Viên 96 745
3 Hàn Mặc Tử 46 608
4 Nguyễn Bính 38 1103

Nguyễn
Bính
Tố
Hữu

Số
lợng

Tỷ lệ %

1

4/3 2143

314 478 898 721 4550
63,64

2

2/5 390 93 44 116 164 807
11,28

3

3/4 384 95 42 32 292 845
11,81

4

2/2/3 294 144 24 31 36 529


3/3/1 3 2 5
0,06
13

2/4/1 3 5 8
0,11
14

1/4/2 3 2 1 6
0,08
15

3/2/1/1 2 2
0,02
16

3/1/1/2 2 1 3
0,04
17

2/2/1/1/1 2 2
0,02
18

3/1/3 1 2 2 1 6
0,08
19

1/2/4 1 1 3 5 11


4/1/1/1 1 1 2
0,02
28

1/1/1/2/2 1 2 3
0,04
29

1/1/2/1/2 1 1
0,01
30

1/1/2/2/1 1 1
0,01
31

3/1/1/1/1 1 1 2
0,02
32

1/1/1/1/3 1 1
0,01
33

2/1/2/2 1 1
0,01
34

2/1/1/1/2 1 1


6/1 1 1
0,01

42 loại nhịp 3375

745 608 1103 1318

7149 100%

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 4B-2007

36
2.2. Miêu tả các loại nhịp
2.2.1. Cách ngắt nhịp truyền thống
Mỗi thể thơ truyền thống đều có một
khuôn thi điệu quen thuộc, cố định.
Khuôn thi điệu quen thuộc của thất
ngôn là 4/3. Trong thơ thất ngôn của
Trung Quốc và Việt Nam cũng có một
vài câu nhịp 3/4 nhng tần số quá thấp
nên không thành khuôn sáo thi điệu.
Thực ra nhịp 3/4 là sự hoán đổi nhịp 4/3
truyền thống nhng vì trong hát nói,

trong 845 câu thơ, chiếm 11,81%.
Chẳng hạn: Cả trời say/ nhuộm một
màu trăng
(Hàn Mặc Tử, Đà Lạt trăng mờ, câu 1,
khổ 4, tr. 75)
Xuân đã đem/ mong nhớ trở về
(Nguyễn Bính, Cô lái đò, câu 1, khổ 1,
tr. 35)
2.2.2. Cách ngắt nhịp không theo
truyền thống
2.2.2.1. Các nhịp hoán vị
Đó là các nhịp 2/5 và 5/2, nhịp 1/6
và 6/1. Trong các nhịp này, nhịp 2/5 là
nhiều nhất, có trong 807 câu thơ, chiếm
11,28%. Nhịp 5/2 là sự hoán đổi nhịp
2/5 có số lợng ít hơn. Nhịp 6/1 là sự
hoán đổi từ nhịp 1/6. Hai loại nhịp này
xuất hiện ít.
Chẳng hạn: Không em,/ tết có vị gì
đâu
(Xuân Diệu, Chầm chậm đừng quên,
câu 4, khổ 7, tr. 993)
Buồn nh làn mây hiền/ mùa thu.
(Hàn Mặc Tử, Tiên đầu, câu 6, khổ 1,
tr. 152)
Sống,/ có những niềm vui đơn giản.
(Tố Hữu, Chân trời mới, câu 1, khổ 1,
tr. 652)
Cu Ba đạp sóng trùng dơng/ tiến.
(Tố Hữu, Từ Cu ba, câu 3 khổ 9, tr. 364)

sân ga, câu 2 khổ 8, tr. 49)
Nhịp 1/3/3 : ồ/ bằng trân châu/ hay
quỳnh dao?
(Hàn Mặc Tử, Tiêu sầu, câu 14, khổ 1,
trang 152)
Từ nhịp 3/4 truyền thống tách
thành nhịp 3/2/2, nhịp 3/3/1, nhịp 1/2/4,
nhịp 2/1/4. Chẳng hạn: Nhịp 3/2/2: Cái
cơn mơ/ những lộc/ những chồi.
(Chế Lan Viên, Cây giữa chu kỳ, câu 2,
khổ 3, tr. 474)
Nhịp 3/3/1: Bầy chó dữ/ những con
ngời-/ thú.
(Tố Hữu, Miền Nam, câu 3, khổ 11,
tr. 355)
Nhịp 1/2/4: Ôi!/ đêm nay/ trời trong
nh gơng.
(Hàn Mạc Tử, Tiêu sầu, câu 1, khổ 1, tr.
151)
Nhịp 2/1/4: Gậy trúc/ dắt/ bà già tóc
bạc.
(Nguyễn Bính, Xuân về, câu 3, khổ 4,
tr. 53)
- Tách nhịp 2/5 thành nhịp 2/3/2,
nhịp 2/4/1, nhịp 1/1/5. Chẳng hạn:
Nhịp 2/3/2: Khối tình/ nặng cả
mây/ cùng nớc.
(Xuân Diệu, Em chờ anh, câu 1, khổ 5,
tr. 421)
Nhịp 2/4/1: Qua sông, / đờng vẫn

tr. 90)
- Nhịp 3/1/1/2, chẳng hạn: Trái bởi
kia/ vàng/ ngọt/ với ai.
(Tố Hữu, Bác ơi, câu 1, khổ 4, tr. 429)
- Nhịp 1/2/2/2, chẳng hạn: Nhớ/ thì
đếm/ từng ngày,/ từng tháng.
(Xuân Diệu, Em chờ anh, câu 1, khổ 11,
tr. 422)
- Nhịp 2/2/2/1, chẳng hạn: Tìm ai,/
con hỏi,/ mẹ rằng:/ im!
(Tố Hữu, Quê mẹ, câu 2, khổ 10, tr. 254)
- Nhịp 1/3/1/2, chẳng hạn: Thèm,/
ăn măng trúc;/ đói,/ cơm khô
(Xuân Diệu, Ngọn Quốc kỳ, phần III,
câu 33, tr. 189)
- Nhịp 2/1/1/3, chẳng hạn: Sâu
bớm/ nhiều-/ hoa/ lại nối vòng
(Chế Lan Viên, Lại thấy thời gian, câu
1, khổ 2, tr. 120, tập 1)
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 4B-2007

38
- Nhịp 1/1/2/3, chẳng hạn: ít,/
nhiều:/ với mẹ/ vẫn là con!

rơi,/ rơi,/ từng vết/ đỏ bầm
(Chế Lan Viên, Cây giữa chu kỳ, câu 4,
khổ 1, tr. 474, t. 1)
- Nhịp 1/1/2/1/2, chẳng hạn: Cam,/
quýt,/ thêm na, /ổi / rộn ràng.
(Xuân Diệu, Vờn Thuận Vi, câu 1, khổ
3, tr. 512)
- Nhịp 1/1/2/2/1, chẳng hạn: Thắm/
vàng/ tô điểm/ lối non,/ sông.
(Xuân Diệu, Hội nghị non sông, phần 3,
tr. 207)
- Nhịp 3/1/1/1/1, chẳng hạn: Trái
tim lớn/ yêu/ Chân/ Thiện/ Mỹ.
(Tố Hữu, Chào xuân 99!, câu 2, khổ 3,
tr. 704)
- Nhịp 1/1/1/1/3, chẳng hạn: Tề-/
thiên-/ đại- / thánh-/ náo thiên cung.
(Chế Lan Viên, Bay ngang mặt trời, câu
1, khổ 5, tr. 226, t.1)
- Nhịp 2/1/1/1/2, chẳng hạn: Anh
khâu/ đĩa-/ bấc-/ trầm-/ tâm lại.
(Chế Lan Viên, Lại thấy thời gian, câu
3, khổ 4, tr. 474, t. 1)
2.2.2.5. Nhịp phá cách có 6 nhịp/
câu
Loại nhịp này có trong hai câu thơ
mới bảy chữ của Hàn Mặc Tử.
Trăng,/ trăng,/ trăng,/ là trăng/
trăng,/ trăng.
(Hàn Mặc Tử, Trăng vàng trăng ngọc,

39
thơ trong tổng số 1103 câu, chiếm
78,61% sử dụng nhịp 4/3. Nếu khảo sát
trong từng khổ thơ, từng bài thơ thì có
nhiều khổ thơ, bài thơ chỉ sử dụng nhịp
4/3. Chẳng hạn, Hàn Mặc Tử có đến 14
bài trên tổng số 46 bài thơ dùng duy
nhất nhịp 4/3 nh Hồn cúc, Đàn nguyệt,
Chuyến đò ngang, Thức khuya, Chùa
hoang, Đà lạt trăng mờ, Lu luyến
Thêm nữa, nếu xếp nhịp 3/4 cũng là
nhịp truyền thống của thất ngôn(có
trong thể song thất lục bát) thì loại
nhịp này đợc các nhà thơ sử dụng khá
phổ biến. Nhịp 3/4 có trong 845 câu thơ,
chiếm gần 11,85%. Sỡ dĩ các nhà thơ
mới kế thừa nhịp thơ truyền thống một
mặt do tâm lý sáng tác theo khuôn
mẫu, tuân thủ nguyên tắc của thơ
Đờng luật nhng mặt khác theo chúng
tôi đây là một sự kế thừa có dụng ý, có
tính khuynh hớng rõ ràng. Các nhà
thơ mới nhận thấy nhịp điệu truyền
thống của thất ngôn nói chung là khá tẻ
nhạt. Nếu không hoán cải cái nhịp điệu
ấy khiến nó trở thành đa dạng thì thơ
mới bảy chữ cũng không hơn gì thất
ngôn truyền thống. Nhng nhịp của bài
thơ cũng giống nh nhịp của một bản
nhạc, trớc hết phải có nhịp cơ bản và

thống nh từ nhịp 4/3, các nhà thơ đã
hoán vị thành các loại nhịp 2/2/3, 4/2/1,
4/1/2, 3/1/3, 1/3/3; từ nhịp 3/4 hoán vị
thành các loại nhịp 3/2/2, 3/3/1, 1/2/4,
2/1/4. Thực hiện một sự cách tân nhịp
điệu, các nhà thơ đã tạo ra các loại nhịp
biến thiên có 4 nhịp/câu, 5 nhịp/câu,
thậm chí 6 nhịp/câu. Đó là các loại nhịp
2/2/1/2, 3/2/1/1, 3/1/1/2, 1/2/2/2 , các
loại nhịp 2/2/1/1/1, 1/1/1/2/2, 1/1/2/1/2 ,
đặc biệt có loại nhịp 1/1/1/2/1/1 trong
câu thơ Trăng,/ trăng,/ trăng,/ là
trăng/ trăng,/ trăng của Hàn Mặc Tử
[6, tr. 90]. Sự đột phá mạnh mẽ về nhịp
điệu thể hiện sự sáng tạo, cách tân của
nhà thơ trong việc tổ chức tiếng nói âm
nhạc làm cho câu thơ thích ứng với tính
đa dạng của nội dung, tức là đa dạng về
cảm xúc, tình cảm. Sự phá cách tới mức
tách ngắt câu thơ thành năm nhịp, sáu
nhịp để làm nổi bật dụng ý nghệ thuật
của mình so với nhịp 4/3 truyền thống
là một bớc đột phá đầy cá tính và bản
lĩnh, đi quá xa khuôn khổ nhịp thơ
truyền thống. Với 42 loại nhịp, câu thơ
mới bảy chữ đã tạo đợc sự đa dạng và
độc đáo, sự biến hoá và phóng túng
trong việc thể hiện thi hứng, cảm xúc,
tâm trạng của nhà thơ. Cố nhiên, cách


hết sức đa dạng. Việc lặp lại phần vần
giữa các tiếng trong câu thơ ngoài giá
trị biểu cảm còn là dấu hiệu nhịp điệu
của câu thơ. Mặt khác, cách ngắt nhịp
trong câu thơ cũng là một trong những
cơ sở để quy định vị trí của các tiếng
hiệp vần. Chẳng hạn, nhận ra đợc
nhịp 4/3 là dựa vào vần của các tiếng
trong câu thơ nh Hãy đến sông Hồng/
ngóng nứa xuôi [9, tr. 117, t. 1]. Hoặc
quan hệ giữa vần với nhịp 3/2/2 nh
Cây thông minh/hữu tình/ gió thổi [10,
tr. 535]
Trong câu thơ mới bảy chữ, nhịp
điệu còn có quan hệ với thanh điệu, tức
là thanh bằng, thanh trắc. Thơ thất
ngôn truyền thống có sự phân bố bằng
trắc tơng đối đều đặn tạo sự hài hoà,
cân xứng. Ngợc lại, do nhịp điệu câu
thơ mới bảy chữ biến thiên đa dạng nên
kéo theo sự biến thiên về thanh điệu
theo những cách thức tơng ứng. Câu
thơ mới bảy chữ có khi tập trung nhiều
thanh bằng, chỉ có hai thanh trắc đứng
sát nhau làm dấu hiệu nhịp điệu:
Xơng xây màu bạc/ dấu trăng vàng
(BBBT/TBB) [9, tr. 134, tr.1]. Có khi
thanh điệu giống nhau ở các tiếng luân
phiên nhịp điệu: Đổi trao,/ nhờng
nhịn/ giữa em,/ anh (TB/BT/TB/B) [10,

ngừng cần phải có các nhịp cách tân,
đột phá Anh chỉ là/ con chim bơ vơ.
Lạnh lùng bay/ giữa gió,/ sơng,/ ma
[10, tr. 90]. Khi nội dung câu thơ là kể
hay miêu tả cuộc sống bình thờng thì
các nhà thơ sử dụng nhịp bình thờng
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVI, số 4B-2007

41
nhng để bộc lộ cảm xúc mãnh liệt, thi
hứng tuôn trào phải cần đến nhịp điệu
đa dạng. Chẳng hạn: Gieo thoi/ gieo
thoi/ lại gieo thoi [8, tr.47]. Có khi nhịp
thơ chính là nỗi lòng ngổn ngang, là
nhịp tim thổn thức, là nhịp chân dồn
dập nh Trăng,/ trăng,/ trăng,/ là
trăng,/ trăng,/ trăng [6, tr.90]. Tính đa
dạng về nhịp điệu có khi là để giới thiệu
một lời nói, thể hiện một nội dung
thông báo gãy gọn nh Rằng:/ thơ với
Đảng/ nặng duyên tơ [7, tr.406], hay
Gậy trúc/ dắt/ bà già tóc bạc [8, tr.53].
Có một số trờng hợp sự đa dạng của
nhịp điệu chỉ đem đến sự đa dạng trong

là để cách tân. Kết quả, trên cái nền
nhịp điệu thể loại, các nhà thơ đã thực
hiện một sự đổi mới trong tổ chức nhịp
điệu nhằm tạo ra sự đa dạng về nhịp
cho câu thơ bảy chữ. Nh vậy, nhịp điệu
trong câu thơ mới bảy chữ đã vợt ra
khỏi những luật lệ cứng nhắc, những
khuôn sáo thi điệu truyền thống, biến
thiên đa dạng để thích ứng với những
cung bậc tình cảm, những biến thái
tinh tế trong đời sống nội tâm của con
ngời thời đại mới nhng vẫn phảng
phất d vị Đờng thi.
3.2. Nhịp điệu trong câu thơ mới
bảy chữ đợc tổ chức trong quan hệ chế
ớc với vần thơ và thanh điệu. Trong
nhiều trờng hợp nhịp điệu đợc xác
lập do sự chi phối của vần thơ, của
thanh điệu bằng trắc. Mặt khác cũng có
những trờng hợp nhịp điệu có vai trò
chế định cách hiệp vần giữa các tiếng
trong câu thơ, cách phân bổ tiếng bằng,
tiếng trắc theo những vị trí nhất định.
Sự chế ớc giữa các yếu tố nhịp điệu,
vần thơ và thanh điệu là cách các nhà
thơ tổ chức tiếng nói âm nhạc, tiếng nói
của cảm xúc nhằm bộc lộ một cách có
hiệu quả nhất nội dung câu thơ. Bởi
vậy, tuy âm hởng vẫn phảng phất
Đờng thi nhng câu thơ mới bảy chữ

phát triển ngôn ngữ thơ Việt Nam theo
khuynh hớng tự do hoá.

Tài liệu tham khảo

[1] Nguyễn Phan Cảnh, Ngôn ngữ thơ, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2001.
[2] Đinh Văn Đức, Sự biến đổi và phát triển của ngôn ngữ văn học Việt Nam thế kỷ
XX, trong cuốn Văn học Việt Nam thế kỷ XX, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2004.
[3] Dơng Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu, NXB Hội nhà văn, Hà Nội, 2002.
[4] Bùi Văn Nguyên, Hà Minh Đức, Thơ ca Việt Nam hình thức và thể loại, NXB Đại
học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2003.
[5] Nguyễn Phơng Thuỳ, Vần, thanh điệu, nhịp điệu trong câu thơ mới bảy chữ,
Ngôn ngữ, 11, 2004.
[6] Thơ Hàn Mặc Tử, Sở văn hoá thông tin Nghĩa Bình, Nghĩa Bình, 1987.
[7] Thơ Tố Hữu, NXB Văn hoá thông tin, Hà Nội, 2002.
[8] Tuyển tập thơ Nguyễn Bính, NXB Văn học, Hà Nội, 1986.
[9] Vũ Thị Thờng, Chế Lan Viên toàn tập, tập 1, 2 (thơ), NXB Văn học, Hà Nội,
2002.
[10] Xuân Diệu toàn tập, tập 1 (thơ), NXB Văn học, Hà Nội, 2001.

Summary

initial study of the rhythm of new seven-lined stanza

Any style of poetry has its particular rhythm structure. If the rhythm in
traditional seven-lined stanza is dull, the new seven-lined stanza has changed that
rhythm to be new, unconventional and diverse. Studying the new seven-lined stanza
we have identified 42 types of rhythm. This is a breakthrough with individuality
and ability of poets to display inner, tact, diverse world of new time and man. The
diversity of the rhythm of the seven- lined stanza, sometimes, is the signal to realize


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status