Nhân vật phụ trong kịch
Lưu Quang Vũ Năm 1979, Lưu Quang Vũ thử ngòi bút của mình với kịch bản Sống mãi tuổi
17. Vở diễn thành công rực rỡ. Từ đó, Lưu Quang Vũ say mê với nghề sáng tác kịch
bản. Sinh thời, Lưu Quang Vũ đã nhiều lần khẳng định thơ mới là sự nghiệp lâu dài, là
chốn thâm sâu nhất của tâm hồn. Ông quan niệm: thơ vẫn là bà hoàng của mọi ngành
nghệ thuật. Và Lưu Quang Vũ đãsống hết tận cùng năm tháng với thơ. Nhưng có lẽ do
ý thức trách nhiệm công dân và thiện tâm của một nhà nghệ sĩ, mong muốn góp phần
dựng xây đời. Lưu Quang Vũ đã tham dự vào sân khấu kịch với một niềm đam mê
cháy bỏng. Chỉ trong chín năm ngắn ngủi của phần đời còn lại, Lưu Quang Vũ đã gửi
lại cho sân khấu nước nhà hơn 50 kịch bản, hầu hết đều được dàn dựng và biểu diễn
trên khắp mọi miền của đất nước. Giới sân khấu đánh giá cao các tác phẩm của Lưu
Quang Vũ. Mọi tầng lớp công chúng trong xã hội đều hứng thú với kịch Lưu Quang
Vũ. Ông có những đóng góp lớn trong việc đem lại không khí sôi động cho nền sân
khấu đang lúc thoái trào vào những năm 80 của thế kỷ XX. Nhiều đoàn nghệ thuật
sống được, nhiều diễn viễn thành danh từ các vở diễn của Lưu Quang Vũ.
Kịch Lưu Quang Vũ bao quát toàn bộ những vấn đề của đời sống trong thời kỳ
đổi mới. Ngòi bút của ông có khả năng thâm nhập vào mọi ngõ ngách của đời sống, mọi
thẳm sâu trong tâm hồn con người. Thế giới nhân vật trong kịch Lưu Quang Vũ đa dạng,
phong phú, đủ các hạng người. Nhiều nhân vật trung tâm của vở kịch đã để lại dấu ấn
khó quên trong tâm trí của người xem như: Trâm trong vở Cô gái đội mũ nồi xám; Hiệp
trong vở Người tốt nhà số 5; Lê Chí trong vở Nguồn sáng trong đời;Hoàng Việt trong
vở Tôi và chúng ta; Hồn Trương Ba trong vở Hồn Trương Ba - Da hàng thịt… Nét đặc
sắc của kịch Lưu Quang Vũ còn được thể hiện bởi các nhân vật phụ. Dù không khắc hoạ
sâu sắc, phong phú như các nhân vật chính, nhưng qua hành động, qua lời thoại, các
nhân vật phụ đôi khi chỉ xuất hiện lướt qua trên sân khấu mà vẫn có hồn, vẫn gợi, vẫn
thành lẽ tử sinh của kiếp người, gửi gắm vào đó một quan niệm sống, một lẽ sống, dự
báo cho khán giả một tư tưởng nghệ thuật quan trọng của vở kịch sắp được diễn ở những
màn sau. Nhân vật ông Quých, người công nhân từng trải và lịch lãm trong vở Tôi và
chúng ta cũng được đông đảo khán giả mến mộ. Khi quản đốc Trương họp phân xưởng
kiểm điểm cô Ngà về tội không chồng mà có con. Ông Quých đã nhắc nhở mọi người:
"…Ấy đấy, thế thì quanh cái chuyện riêng tư của chị Ngà, ta phải tỏ ra là người biết
nghĩ, ở trong ngực ta là cái quả tròn tròn nó đập, chứ không phải là cục sắt rỉ, phải
không ạ?". Đó là tình đời, tình người mà tập thể phải thấu hiểu và chia sẻ. Đó là mối
quan hệ hài hoà giữa cá nhân và tập thể, giữa tập thể với cá nhân, là Tôi và chúng ta như
tên gọi của vở kịch. Khi giám đốc Hoàng Việt mời góp ý cho xí nghiệp, vẫn giọng điệu
hóm hỉnh, tếu táo mà sâu sắc khi ông Quých nói về mối quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền
lợi: "…Là công nhân thì phải có nghĩa vụ với xí nghiệp. Ngay chỉ là người thôi, cũng
phải có nghĩa vụ với tạo hóa. Tạo hóa bắt như vậy. Ấy, lắm lúc tôi thấy tạo hóa khôn
ranh lắm, chẳng đòi người ta nghĩa vụ suông bao giờ, nghĩa vụ nào cũng kèm theo sự
ban thưởng, giờ ta gọi là "quyền lợi". Chẳng hạn tạo hóa đòi người ta hai nghĩa vụ lớn
nhất là sống để sinh con và đẻ cái để nòi giống duy trì. Lập tức tạo hoá cũng biến hai
nghĩa vụ tối cao ấy thành hai quyền lợi, hai sự thích thú đứng đầu trong tứ khoái. Nếu
ăn và ngủ với vợ - xin lỗi anh - chỉ là nghĩa vụ vất vả nhọc nhằn thôi, thì chắc người ta
cũng không tích cực ăn và đẻ con đến thế! Hoặc như nếu miệng ta ăn phải đợi đến 10
năm sau, hay đến một tương lai xa lắc nào mới thấy ngon, thì chắc cũng lạnh nhạt với
sự ăn. Nghĩa vụ mà không đi đôi với quyền lợi thì khó lòng thực hiện hăng hái thường
xuyên được. Xí nghiệp chỉ đòi hỏi công nhân thực hiện nghĩa vụ mà chẳng đoái hoài
mấy đến quyền lợi của công nhân thì… xin lỗi anh không ổn đâu…". Nghĩa vụ và quyền
lợi là hai phạm trù đối lập nhau, nhưng lại thống nhất biện chứng trong một cá nhân,
trong một cộng đồng. Nghĩa vụ là trách nhiệm của cá nhân đối với tập thể. Quyền lợi là
phần mà cá nhân đáng được hưởng và phải được hưởng tương xứng với năng lực và
đóng góp của mình. Trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể, nhiều lúc cá nhân phải hy
sinh quyền lợi, để hướng tới những mục tiêu cao cả hơn là lợi ích của cộng đồng, của dân
tộc. Nhưng trong cuộc sống bình thường thì quyền lợi và nghĩa vụ phải hài hoà. Giải quyết
mối quan hệ này, thực chất là giải quyết công bằng xã hội, là tạo ra động lực thúc đẩy sự phát
với mọi người. Nó là đứa trẻ hồn nhiên và trong sáng. Nó có hiểu thế nào là hồn, thế nào
là xác? Khi ông nội của nó là Trương Ba được sống lại trong cái thân xác của anh hàng
thịt, cái Gái đã "căm tức nhìn". Nó nói thật, nói đúng hình hài của con người mà nó nhận
biết: "Lão giết lợn". Xung đột giữa nhân vật cái Gái và Hồn Trương Ba cứ thế mà phát
triển. Đến khi nó chứng kiến bố nó phải hối lộ cho bọn Lý trưởng để Hồn Trương Ba
được cư ngụ hợp pháp trong cái thân xác của anh hàng thịt, thì xung đột đã đến đỉnh
điểm. Cái Gái dứt khoát: "Không! Không được! Người này không phải ông nội tội.
Người này không phải là ông Trương Ba". Cái lý của đứa trẻ rất giản đơn, nhưng rõ ràng
và cụ thể: "Ông nội tôi là người gầy gầy, tóc bạc, trán nhăn mà mắt sáng lắm, hiền lắm
cơ mà! Còn ông này thì má béo phị, lông mày rậm như chổi sể, trông dữ dữ là! Ông lừa
cả nhà, lừa tất cả mọi người, nhưng không lừa được được tôi đâu! Ông giả vờ làm ông
nội, về chiếm chỗ của ông nội trong nhà… Không được đâu!". Lời lẽ của cái Gái chính
xác mà người lớn không thể phản bác được. Tên Lý trưởng chỉ "Hừm". Anh con trai
quát tháo trong bất lực vì đuối lý: "Im mồm! Trẻ ranh biết gì việc người lớn". Chỉ có
Hồn Trương Ba là thấm thía cái nghịch cảnh éo le của mình. Nhân vật cái Gái là tấm
gương trong suốt để Hồn Trương Ba soi rõ nhất, sâu nhất tấn bi kịch trớ trêu của xác nọ
hồn kia. Không còn dáng vẻ tự tin và có phần chủ quan như cảnh đối thoại giữa hồn và
xác ở màn trước đó của vở kịch, Hồn Trương Ba như cầu cứu, van xin: "Gái, cháu…
Gái, rồi lớn lên cháu sẽ hiểu. Ông đúng là ông nội cháu". Vẫn giọng điệu dứt khoát, xác
thực và nhất quán của trẻ thơ: "Tôi không phải là cháu của ông! Ông nội tôi chết rồi…
Cút đi! Lão đồ tể, cút đi!". Tâm hồn cái Gái tươi xanh như cây cối ngoài vườn mà ông
nội nó đã gieo trồng. Cái Gái là hiện thân của điều thiện, biết phản ứng với cái ác, là sự
tiếp nối cuộc sống thanh bần, tao nhã mà Trương Ba đã để lại trong nó. Từ khi được
sống trở lại trong thân xác của anh hàng thịt, Hồn Trương Ba phải đấu tranh rất nhiều để
mong giữ được cái phần đẹp đẽ của chính mình. Nhưng chỉ khi đối mặt với cái Gái, Hồn
Trương Ba mới nhanh chóng nhận ra sự chắp vá không cần có, không nên có của mình.
Đây chính là lần xung đột dữ dội nhất, tạo nên bi kịch sâu sắc của Hồn Trương Ba.
Vở Hồn Trương Ba - Da hàng thịt nhiều lớp nghĩa, ý tứ sâu xa. Nhân vật cái Gái chỉ là
nét chấm phá bé nhỏ trong bức tranh đời nhiều thi vị của vở kịch, nhưng gây được ấn
tượng cho người xem.
Tố giác họ thì mình không dám, họ có chức có quyền, mà im đi thì có ngày mình bỏ mẹ.
Xin thôi việc thì họ không cho, khăng khăng đòi nhỡ họ nghi mình hại họ, mình cũng
chết. Lại thêm gia cảnh tôi không ra sao. Vợ thì đanh đá, nanh nọc, lại chuyên lăng
nhăng, mình đòi bỏ thì nó quyết không chịu bỏ, lơ mơ là nó oánh cho, nó vừa ác vừa
khoẻ… Chỉ còn có một cách: vờ điên mẹ nó đi".
Thì ra người bạn tù - Vĩ Nhân của ông Thụy cũng là nạn nhân của cơ chế quan
liêu bao cấp. Có khác chăng là ông Thụy vì muốn thay đổi cơ chế đó, muốn làm cho nó
tốt hơn thì bị các đồng chí của mình trù dập phải vào tù, còn Vĩ Nhân thì vờ điên để
được yên thân thoát khỏi cơ chế đó. Nhân vật góp phần làm nổi bật tính vấn đề của vở
kịch. Các nhân vật như: Anh câu cá trộm và anh bán thuốc đánh răng giả trong vở Cô
gái đội mũ nồi xám; anh thanh niên bị lác mắt và ông "Nhài quạt" trong vởNguồn sáng
trong đời; chị béo và ông gầy, người chồng say rượu trong vở Hoa cúc xanh trên đầm
lầy…dù xuất hiện thoáng qua trong tác phẩm nhưng để lại nhiều dư vị. Các nhân vật này
góp phần làm cho bức tranh đời sống trong kịch Lưu Quang Vũ thêm phần sinh động, đa
diện hơn. Viết về họ, Lưu Quang Vũ có cái nhìn cảm thông, chia sẻ. Ông thấy họ đáng
thương hơn là đáng giận. Các nhân vật phụ tưởng như không ăn nhập gì với tư tưởng
của vở kịch, thực ra họ góp phần làm phong phú thêm giá trị nhân văn của tác phẩm.
Nhân vật phụ trong kịch Lưu Quang Vũ sinh động và hấp dẫn. Tính hấp dẫn thể
hiện ở ngôn ngữ kịch làm nên giọng điệu, hành động của từng nhân vật. Mỗi nhân vật,
mỗi cá tính, một dáng vẻ không lặp lại, có giá trị thẩm mỹ riêng, tạo ấn tượng khó quên,
chứ không phải chỉ là những hình nhân cử động trên sân khấu không biết để làm gì.
Diễn viên cũng có đất để sáng tạo. Người xem có cái để suy ngẫm, để liên tưởng. Đó
chính là tài năng sáng tạo, là những trăn trở về lẽ sống của Lưu Quang Vũ gửi gắm trong
các nhân vật của mình. Với thời gian, có thể có những vấn đề đặt ra trong kịch Lưu
Quang Vũ mất dần tính thời sự, nhưng những quan niệm về con người phải sống có ích
cho cuộc sống của mình, có ích cho mọi người, vươn tới những giá trị cao quý vì sự phát
triển con người và xã hội thì mãi mãi không bao giờ xưa cũ