“Hệ thống
Ngân hàng
thương mại
của Việt
Nam”
“Hệ thống Ngân hàng thương mại của Việt Nam”
Phạm Thị Hồng Phương - Lớp Ngân hàng 4 ngày 1 - K17 1
LỜI MỞ ĐẦU
Cho đến nay, ngành ngân hàng nước ta đã trải qua 55 năm (6.5.1951-6.5.2006)
xây dựng và phát triển, với nhiều chặng đường gay go và phức tạp nhưng vẫn ổn định
và phát triển tốt. Đặc biệt là chặng đường từ năm 1986 cho đến nay, chặng đường đổi
mới căn bản và toàn diện của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Thực hiện đường lối đổi
mới toàn diện theo tinh thần của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm1986), Chủ
tịch HĐBT (nay là Thủ tướng chính phủ) ký quyết định số 218/CT ngày 3.7.1987 cho
làm thử việc chuyển hoạt động ngân hàng sang hạch toán kinh tế và kinh doanh
XHCN (làm thử đầu tiên tại TP.HCM từ tháng 7.1987, Hà Nội, Gia Lai ), sau đó tổng
kết và Chủ tịch HĐBT đã ban hành Nghị định 53/HĐBT ngày 26.3.1988 đổi mới mô
hình tổ chức bộ máy ngân hàng VN, với sự ra đời của hệ thống ngân hàng chuyên
doanh. Đến năm 1990, cơ chế đổi mới ngân hàng được hoàn thiện thông qua việc công
bố hai Pháp lệnh ngân hàng vào ngày 24.5.1990 (Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước VN
và Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính) đã chính thức
chuyển cơ chế hoạt động của hệ thống NHVN từ “một cấp” sang “hai cấp”. Theo đó,
cáp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.
Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam do Quốc hội thông qua vào ngày
12/12/1997 (Luật số 06/1997/QHX), định nghĩa: Hoạt động ngân hàng là hoạt động
kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và
sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán.
Sự khác biệt giữa NHTM và tổ chức tín dụng phi ngân hàng:
NHTM Tổ chức tín dụng phi ngân hàng
- Là tổ chức tín dụng. - Là tổ chức tín dụng.
- Được thực hiện toàn bộ hoạt động NH. - Được thực hiện một số hoạt động NH.
- Là tổ chức nhận tièn gửi. - Là tổ chức không nhận tièn gửi.
- Cung cấp dịch vụ thanh toán. - Không cung cấp dịch vụ thanh toán.
I.2. Chức năng của NHTM.
Ngân hàng thương mại có ba chức năng cơ bản:
I.21. Chức năng trung gian tài chính.
Khi thực hiện chức năng này, NHTM đóng vai trò trung gian khi thực hiện các
nghiệp vụ bao gồm nghiệp vụ cấp tín dụngm nghiệp vụ thanh toán, nghiệp vụ kinh
doanh ngoại tệ, kinh doanh chứng khoán và nhiều hoạt động môi giới khác.
Khách hàng
(Người gửi tiền, người
trả tiền, người mua
ngoại tệ, …)
Ngân hàng
thương mại
Khách hàng
(Người vay tiền,
+10.000đ
+90.000đ
Tiền gửi không kỳ hạn của KH +100.000đ
Cộng +100.000đ
Cộng +100.000đ
Giả sử số tiền cho vay trên được khách hàng nào đó vay để trả cho bạn hàng của
họ có tài khoản tiền gửi tại ngân hàng B (NHB). Khi đó, bảng cân đối của B như sau:
Ngân hàng B
Tài sản có Tài sản nợ
Tiền mặt tại quỹ +90.000đ
Tiền gửi không kỳ hạn của KH +90.000đ
Đến lượt NHB nhận tiền gửi của khách hàng sẽ tiến hành trích lập dự trữ bắt
buộc 10%, số còn lại để cho vay. Khi đó, bảng cân đối của B như sau: “Hệ thống Ngân hàng thương mại của Việt Nam”
Phạm Thị Hồng Phương - Lớp Ngân hàng 4 ngày 1 - K17 4
Ngân hàng B
Tài sản có Tài sản nợ
Dự trữ tại NHNN
Cho vay
+9.000đ
.
.
+90.000đ
+81.000đ
+72.900đ
+65.610đ
.
.
.
+10.000đ
+9.000đ
+8.100đ
+7.290đ
.
.
+ Chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài.
+ Ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài.
- Dựa vào chiến lược kinh doanh:
+ Ngân hàng bán buôn
+ Ngân hàng bán lẻ
+ Ngân hàng vừa bán buôn vừa bán lẻ.
- Dựa vào quan hệ tổ chức:
+ Ngân hàng hội sở
+ Chi nhánh (cấp 1, cấp 2) và phòng giao dịch.
I.4. Các hoạt động chủ yếu của NHTM.
Chương III của Luật các tổ chức tín dụng nêu ra các hoạt động của NHTM bao
gồm:
I.4.1. Hoạt động huy động vốn.
- Nhận tiền gửi
Ngân hàng được nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác
dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác.
Tổ chức tín dụng phi ngân hàng được nhận tiền gửi có kỳ hạn từ một năm trở lên
của tổ chức, cá nhân theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
- Phát hành giấy tờ có giá
Khi được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chấp thuận, NHTM được phát hành
chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động vốn của tổ chức, cá
nhân trong nước và ngoài nước.
- Vay vốn giữa các tổ chức tín dụng
Các NHTM được vay vốn của nhau và của NHTM nước ngoài.
- Vay vốn của Ngân hàng Nhà nước
NHTM được vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng Nhà nước dưới hình thức tái cấp
vốn theo quy định tại Điều 30 của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
- Các hình thức huy động vốn khác.
I.4.2. Hoạt động cấp tín dụng.
“Hệ thống Ngân hàng thương mại của Việt Nam”
- Cho vay thấu chi:
NHTM cấp hạn mức thấu chi cho khách hàng sử dụng dịch vụ khi khách hàng
tạm thời thiếu hụt trong thanh toán. Khách hàng không cần phải thế chấp hay tín chấp.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng và hạn mức tín dụng dự phòng
I.4.3. Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ.
Để thực hiện các dịch vụ thanh toán giữa các doanh nghiệp thông qua ngân hàng,
NHTM được mở tài khoản cho khách hàng trong và ngoài nước. Để thực hiện thanh
“Hệ thống Ngân hàng thương mại của Việt Nam”
Phạm Thị Hồng Phương - Lớp Ngân hàng 4 ngày 1 - K17 7
toán giữa các ngân hàng với nhau thông qua NHNN, NHTM phải mở tài khoản tiền
gửi tại NHNN nơi NHTM đặt trụ sở chính và duy trì tại đó số dư tiền gửi dự trữ bắt
buộc theo quy định.
I.4.4. Các hoạt động khác.
- Góp vốn và mua cổ phần.
- Tham gia thị trường tiền tệ.
- Kinh doanh ngoại hối.
- Ủy thác và nhận ủy thác.
- Cung ứng dịch vụ bảo hiểm.
- Tư vấn tài chính.
- Bảo quản vật quý giá.
“Hệ thống Ngân hàng thương mại của Việt Nam”
Phạm Thị Hồng Phương - Lớp Ngân hàng 4 ngày 1 - K17 8
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG NHTM Ở VIỆT NAM
TRONG THỜI GIAN QUA (2006-2008)
II.1. Thực trạng hoạt động của hệ thống NHTM ở Việt Nam.
III.1.1. Hệ thống các NHTM ở Việt Nam.
Các ngân hàng thương mại Nhà nước bao gồm:
Stt
nông thôn Việt Nam
280/QĐ-NH5
ngày 15/01/1996
10.400
tỷ đồng
S
ố 2 Láng Hạ, Ba
Đình, Hà Nội
115
3
Ngân hàng Phát triển
nhà Đồng bằng sông
Cửu Long
769/TTg ngày
18/09/1997
744 tỷ
đồng
Số 9 Võ Văn T
ần
- Quận 3 - TP Hồ
Chí Minh
32
4
Ngân hàng phát triển
Việt Nam
108/2006/QĐ-TTg
ngày 15/05/2006
5.000
tỷ đồng
1 An Bình
0031/NH-
GP ngày
15/04/1993
505/NHNN-CNH
ngày 24/5/2005
2.706
tỷ đồng
47 Điện Biên Phủ,
Q1, TPHCM
10
2 Bắc Á
0052/NHGP ngày
01/09/1994
940 tỷ
đồng
117 Quang Trung.
TP Vinh. Nghệ An
11
3 Dầu khí Toàn Cầu
0043/NH-
GP ngày
13/11/1993 31/QĐ-
NHNN ngày
11/01/2006
1.000
tỷ đồng
44 Phạm Hồng
Thái – P.V
ĩnh
Thanh Vân–TX
Rạch giá-Tỉnh
Kiên Giang
10
7 Kỹ Thương
0040/NHGP ngày
06/08/1993
3.165
tỷ đồng
70-72 Bà Triệu.
Hà Nội
38
8 Liên Việt
91/GP-NHNN
ngày 28/3/2008
3.300
tỷ đồng
32 Nguyễn Công
Trú, TX Vị Thanh,
Tỉnh Hậu Giang
5
9 Miền Tây
0061/NH-
GP ngày
06/04/1992
970/QĐ-NHNN
ngày 18/5/2008
1.000
tỷ đồng
39-41-43 Bến
Chương Dương,
Q1, TPHCM
5
12
Nam Á
0026/NHGP ngày
22/08/1992
1.252
tỷ đồng
97 bis Hàm Nghi,
Q1, TPHCM
16
13
Ngoài quốc doanh
0042/NHGP ngày
12/08/1993
2.000
tỷ đồng
số 8 Lý Thái Tổ,
Hoàn Kiếm, Hà
Phát triển Nh
à
TPHCM
0019/NHGP ngày
06/06/1992
1.000
tỷ đồng
33-39 Pasteur. Q1.
TP HCM
13
17
Phương Nam
0030/NHGP ngày
17/03/1993
2.027
tỷ đồng
279 Lý Thường
Kiệt. Q11. TP
HCM
24
18
Phương Đông
0061/NHGP ngày
1.111 45 Lê Duẩn. Q1. 23
“Hệ thống Ngân hàng thương mại của Việt Nam”
Phạm Thị Hồng Phương - Lớp Ngân hàng 4 ngày 1 -
2.180
tỷ đồng
193- 203 Trần
Hưng Đạo, Q1
TPHCM
22
22
Sài Gòn-Hà Nội
0041/NH-
GP ngày
13/11/1993 93/QĐ-
NHNN ngày
20/01/2006
2.000
tỷ đồng
138- Đường 3/2-
Phường Hưng Lợi
– TP Cần Thơ -
Tỉnh Cần Thơ
11
23
Sài gòn công thương
0034/NHGP ngày
04/05/1993
1.020
Tiên Phong
123/GP-NHNN
ngày 05/05/2008
1.000
tỷ đồng
Tòa nhà FPT, Lô
B2 Cụm SX tiểu
thủ công nghiệp và
công nghiệp nhỏ,
P.DỊch Vọng Hậu,
Cầu Giấy, Hà Nội
2
27
Việt Nam Thương tín
2399/QĐ-NHNN
ngày 15/12/2006
500 tỷ
đồng
35 Trần Hưng
Đạo, TX Sóc
Trăng, tỉnh Sóc
Trăng
1
28
Việt Á
12/NHGP ngày
500 tỷ
đồng
132-134 Nguy
ễn
Huệ, Thị xã Cao
Lãnh-Tỉnh Đồng
Tháp
4
31
Á Châu
0032/NHGP ngày
24/04/1993
2.630
tỷ đồng
442 Nguyễn Thị
Minh Khai. Q3.
TP HCM
54
32
Đông Nam Á
0051/NHGP ngày
3.000 16 Láng H
ạ, Đống
18
“Hệ thống Ngân hàng thương mại của Việt Nam”
Phạm Thị Hồng Phương - Lớp Ngân hàng 4 ngày 1 -
K17
5
35
Đại Tín
0047/NH-
GP ngày
29/12/1993
1931/QĐ-NHNN
ngày 17/08/2007
504 tỷ
đồng
Xã Long Hoà-
Huyện Cần Đước-
Tỉnh Long An
3
36
Đại Á
0036/NH-
GP ngày
23/09/1993
2402/QĐ-NHNN
ngày 11/10/2007
500 tỷ
đồng
56-58 Đường Cách
mạnh tháng 8-
Thành phố Bi
ên
Hoà-Tỉnh Đồng
26/NH-GP ngày 03/07/1996 15 triệu USD
9 BNP (Banque Nationale de
Paris) (Pháp)
05/NH-GP ngày 05/06/1992 15 triệu USD
10 Shinhan Bank (Hàn Quốc) 17/NH-GP ngày 25/03/1995 15 triệu USD
11
United Overseas Bank
(UOB)(Singapore)
18/NH-GP ngày 27/03/1995 15 triệu USD
12 Deustch Bank (Đức) 20/NH-GP ngày 28/06/1995 15 triệu USD
13 Bank of China (Trung Quốc) 21/NH-GP ngày 24/07/1995 15 triệu USD
14
Bank of Tokyo Mishubishi
24/NH-GP ngày 17/02/1996 45 triệu USD
“Hệ thống Ngân hàng thương mại của Việt Nam”
Phạm Thị Hồng Phương - Lớp Ngân hàng 4 ngày 1 -
K17
12
UFJ (Nhật)
15 Mega Internation
al
Commercial Bank (Đài loan)
25/NH-GP ngày 03/05/1996 15 triệu USD
16 OCBC (Singapore)(Keppel) 27/NH-GP ngày 31/10/1996 15 triệu USD
17 WooriI Bank(Hàn Quốc) 16/NH-GP ngày 10/07/1997 15 triệu USD
18 Woori Bank (Hàn Quốc)-
Chi
nhánh TP Hồ Chí Minh
1854/GP-
15 triệu USD
26 Sumitomo-
Mitsui Banking
Corporation (Nhật
Bản)(SMBC)
1855/GP-
NHNN ngày
20/12/2005
15 triệu USD Loại hình Ngân hàng liên doanh tại Việt Nam:
STT
Tên ngân hàng Số, ngày cấp
giấy phép
Vốn
điều lệ
Địa chỉ SL
CN
và
SGD
1
INDOVINA BANK
135/GP-SCCI
19/NH-
GP ngày
20/04/1995
20 triệu
USD
2 Phó Đức Chính,
Q.1, TPHCM
8
5
Việt-Nga
11/GP-NHNN
ngày
30/10/2006
62.5
triệu
USD
85 Lý Thường
Kiệt, Quận Hoàn
Kiếm, Hà NộI
3
“Hệ thống Ngân hàng thương mại của Việt Nam”
Phạm Thị Hồng Phương - Lớp Ngân hàng 4 ngày 1 -
K17
13
Loại hình Ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam:
STT
Tên ngân hàng
1 Hongkong Shanghai Banking Corporation (Anh)
trên thị trường.
Nhóm các chi nhánh ngân hàng nước ngoài và liên doanh với 29 ngân hàng,
chiếm khoảng 10% tổng nguồn vốn huy động và thị phần tín dụng. Tuy nhiên, nhóm
“Hệ thống Ngân hàng thương mại của Việt Nam”
Phạm Thị Hồng Phương - Lớp Ngân hàng 4 ngày 1 -
K17
14
các ngân hàng này có tiềm lực kinh tế mạnh và được sự hậu thuẫn từ ngân hàng mẹ về
hệ thống thanh toán, các sản phẩm dịch vụ hiện đại sẽ là đối thủ cạnh tranh chính của
các NHTM trong nước trong quá trình hội nhập. Nhóm các ngân hàng này hiện chủ
yếu mới chỉ phục vụ các khách hàng là các cá nhân và công ty nước ngoài hiện đang
đầu tư tại Việt Nam và bắt đầu tiếp cận với các doanh nghiệp Việt Nam. Trong hoạt
động, các ngân hàng nước ngoài tập trung vào chất lượng và hiệu quả của dịch vụ
cung cấp, đồng thời tiếp tục mở rộng mạng lưới, áp dụng các công nghệ tiên tiến trong
quản lý hoạt động và kiểm soát rủi ro. Một lợi thế cạnh tranh của nhóm ngân hàng này
là sự hỗ trợ về vốn, nguồn nhân lực và công nghệ của các ngân hàng mẹ. Đồng thời,
hiện đang có xu hướng các ngân hàng nước ngoài mua cổ phần của các NHTM Việt
Nam để mở rộng tầm hoạt động tại thị trường. Hiện tại, hình thức ngân hàng 100%
vốn nước ngoài có 2 ngân hàng đã được chấp thuận thành lập về mặt nguyên tắc và
đang chờ giấy phép hoạt động là HSBC và Standard Chartered Bank. Đây thực sự sẽ là
những nhân tố mới trên thị trường ngân hàng tài chính Việt Nam, hứa hẹn một cuộc
cạnh tranh gay gắt với các NHTM trong nước. Tuy nhiên, ưu thế của các ngân hàng
Việt Nam so với các ngân hàng nước ngoài là có được mạng lưới chi nhánh rộng khắp
các tỉnh/thành phố trong cả nước, có được mối quan hệ truyền thống với khách hàng
qua nhiều năm và sự hiểu biết một cách cụ thể khả năng, yêu cầu của khách hàng và
những vấn đề văn hoá, phong tục mà các ngân hàng nước ngoài chưa thể có được
trong quan hệ với khách hàng bản địa. Ngoài ra, hiện nay các NHTM Việt Nam đang
tích cực triển khai đề án tái cơ cấu lại và cổ phần hoá 5 NHTM nhà nước. Nếu thực
hiện thành công chương trình tái cơ cấu và cổ phần hoá này thì năng lực cạnh tranh
của các NHTM trong nước sẽ được tăng lên đáng kể.
tương đối đa dạng, NHTM VN đã huy động vốn hàng trăm tỷ đồng (năm 2005 tăng
gấp 30 lần so với năm 1990-trên 600.000 tỷ đồng, tại TP.HCM các NHTM huy động
đến cuối năm 2005 là 184.600 tỷ đồng gấp 2,8 lần so với năm 2001) từ các nguồn vốn
trong xã hội, tăng dư nợ cho vay với mọi thành phần kinh tế (dư nợ năm 2005 tăng 40
lần so với năm 1990, tại TP.HCM dư nợ cho vay cuối năm 2005 của các NHTM
170.200 tỷ đồng gấp 3 lần so với năm 2001), tăng đầu tư vào những chương trình
trọng điểm quốc gia, qua đó góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thực hiện
công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy kinh tế tăng
trưởng liên tục với tốc độ cao (GDP tăng bình quân 7.5% trong 5 năm 2001-2005),
góp phần tạo công ăn việc làm cho xã hội (trong 5 năm 2001-2005 cả nước tạo việc
làm cho 7,5 triệu lao động), góp phần xóa đói giảm nghèo (tỷ lệ hộ nghèo còn 7%) và
làm giàu hợp pháp. Nhiều dịch vụ tiện ích (chi lương, thu chi hộ, thanh toán chuyển
khoản, chuyển tiền tự động, dịch vụ ngân hàng điện tử, dịch vụ thẻ…) và nhiều sản
phẩm mới xuất hiện đã đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của dân cư và sản xuất kinh doanh
của mọi thành phần kinh tế…
Hiệu quả kinh doanh của các NHTM VN nhìn chung có những chuyển biến tích
cực, lợi nhuận tăng trưởng khá cao, có những NHTM tỷ suất lợi nhuận ròng trên vốn
tự có (ROE) đạt trên 20%, riêng tại TP.HCM kết thúc năm 2005 các NHTM đã có
những kết quả kinh doanh (thu nhập-chi phí) tăng khá cao so với năm 2004
(NHTMNN tăng 73,9%, NHTMCP tăng 41,3%), dư nợ tồn đọng giảm dần.
Môi trường pháp lý thuận lợi: Có hệ thống các văn bản pháp luật (Luật
NHNNVN, Luật các tổ chức tín dụng, các nghị định, thông tư) tạo hành lang pháp lý
cho hoạt động của hệ thống NHTM. Đề án thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn
“Hệ thống Ngân hàng thương mại của Việt Nam”
Phạm Thị Hồng Phương - Lớp Ngân hàng 4 ngày 1 -
K17
16
2006-2010 và định hướng 2020 (trả lương, chi trả trợ cấp ưu đãi xã hội và trợ cấp xã
hội qua tài khoản, phát triển thanh toán không dùng tiền mặt trong khu vực doanh
nghiệp, phát triển các phương tiện và dịch vụ thanh toán phù hợp với tiến trình hội
đại, về ngoại ngữ và công nghệ thông tin: Đội ngũ lao động của các NHTM Việt Nam
khá đông nhưng trình độ chuyên môn nghiệp vụ chưa đáp ứng được yêu cầu của điều
kiện hội nhập. Chính sách tiền lương chưa thỏa đáng, dễ dẫn đến chảy máu chất xám.
“Hệ thống Ngân hàng thương mại của Việt Nam”
Phạm Thị Hồng Phương - Lớp Ngân hàng 4 ngày 1 -
K17
17
Cơ cấu tổ chức trong nội bộ nhiều NHTM còn lạc hậu, không phù hợp với các chuẩn
mực quản lý hiện đại đã được áp dụng phổ biến ở các nước trong nhiều năm qua.
Các chỉ số và chi phí nghiệp vụ và khả năng sinh lời của phần lớn các NHTM
Việt Nam đều thua kém các ngân hàng trong khu vực. Nếu tính đến những khoản
khoanh nợ và nợ khó đòi thì nhiều NHTM Việt Nam đang ở tình trạng thua lỗ.
Năng lực quản lý, điều hành còn nhiều hạn chế so với yêu cầu của NHTM hiện
đại, bộ máy quản lý cồng kềnh, không hiệu quả.
Chính sách xây dựng thương hiệu còn kém
Thiếu sự liên kết giữa các NHTM với nhau.
Hệ thống pháp lý về hoạt động ngân hàng chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển
mới và hội nhập kinh tế quốc tế, thể chế thị trường chưa đầy đủ, chưa đồng bộ nhất
quán.
Quy mô vốn hoạt động còn nhỏ nên chưa thực hiện được mục tiêu kinh doanh
một cách hoàn chỉnh.
Việc thực hiện chương trình hiện đại hóa của các NHTM VN chưa đồng đều nên
sự phối kết hợp trong việc phát triển các sản phẩm dịch vụ chưa thuận lợi, chưa tạo
được nhiều tiện ích cho khách hàng như kết nối sử dụng thẻ giữa các ngân hàng.
Công nghệ ngân hàng chưa bắt kịp trình độ tiên tiến trong khu vực, chưa phát
huy được vai trò tích cực của công nghệ đối với việc phát triển dịch vụ mới và cơ chế
quản lý mới.
“Hệ thống Ngân hàng thương mại của Việt Nam”
Phạm Thị Hồng Phương - Lớp Ngân hàng 4 ngày 1 -
chức, quy định lại chức năng nhiệm vụ của ngân hàng nhà nước nhằm năng cao hiệu
quả điều hành vĩ mô, nhất là trong việc thiết lập, điều hành chính sách tiền tệ quốc gia
và trong việc quản lý, giám sát hoạt động của các trung gian tài chính.
Thứ hai, phối hợp cùng Bộ Tài chính tham gia xây dựng và phát triển đa dạng thị
trường vốn, tạo điều kiện san sẻ bớt gánh nặng cung cấp vốn hiện nay mà các NHTM
đang phải gánh vác.
“Hệ thống Ngân hàng thương mại của Việt Nam”
Phạm Thị Hồng Phương - Lớp Ngân hàng 4 ngày 1 -
K17
19
Thứ ba, NHNN cần nhanh chóng xin phép Chính phủ để đẩy nhanh thực hiện cổ
phần hóa các NHTM nhà nước, tạo điều kiện cho các ngân hàng này hoạt động an toàn
và hiệu quả hơn.
III.2. Giải pháp trong nội bộ các ngân hàng.
- Nâng cao năng lực tài chính
Năng lực tài chính của các NHTM nước ta nhìn chung là kém, tất cả các chỉ số
đều còn là thấp so với các nước trong khu vực. Do đó, để nâng cao năng lực tài chính,
các ngân hàng nên thực hiện một số biện pháp như: Khẩn trương tăng vốn điều lệ và
xử lý dứt điểm nợ tồn đọng nhằm lành mạnh hoá tình hình tài chính, nâng cao khả
năng cạnh tranh và chống rủi ro.
Đối với các NHTM nhà nước, cần áp dụng các biện pháp thực tế như phát hành
cổ phiếu ở mức cần thiết hoặc bán tài sản và thuê lại để bổ sung vốn điều lệ nhằm đạt
được tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8%, xử lý hết nợ tồn đọng.
Đối với các NHTM cổ phần, cần tăng vốn điều lệ thông qua sáp nhập, hợp nhất,
phát hành bổ sung cổ phiếu; đối với những NHTM hoạt động quá yếu kém, không thể
tăng vốn điều lệ và không khắc phục được những yếu kém về tài chính thì có thể thu
hồi giấy phép hoạt động.
- Hiện đại hoá công nghệ, chú trọng hoạt động Marketing, đa dạng hoá và nâng
cao tiện ích các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại dựa trên công nghệ kỹ thuật tiên
tiến.
dụng tài khoản ngân hàng. Đồng thời, những thủ tục rắc rối cần được cắt giảm để tạo
thuận lợi tối đa cho khách hàng.
Bên cạnh đó, để đẩy mạnh tín dụng cần tạo được quy trình cung cấp linh hoạt sản
phẩm của ngân hàng, đặc biệt đối với khách hàng tiềm năng có thể đưa ra điều kiện
cho vay và lãi suất ưu đãi hơn theo thoả thuận giữa hai bên.
- Nâng cao năng lực quản trị điều hành.
Cần cải cách bộ máy quản lý điều hành theo tư duy kinh doanh mới. Đồng thời,
xây dựng chuẩn hoá và văn bản hoá toàn bộ quy trình nghiệp vụ của các hoạt động chủ
yếu của NHTM, thực hiện cải cách hành chính doanh nghiệp.
- Nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên ngân hàng.
Cần đào tạo và đào tạo lại cán bộ để thực hiện tốt các nghiệp vụ của ngân hàng
hiện đại. Hơn nữa, cần tiêu chuẩn hoá đội ngũ cán bộ làm công tác hội nhập quốc tế,
nhất là những cán bộ trực tiếp tham gia vào quá trình đàm phán, ký kết hợp đồng quốc
tế, cán bộ thanh tra giám sát và cán bộ chuyên trách làm công tác pháp luật quốc tế,
cán bộ sử dụng và vận hành công nghệ mới. Có chính sách tiền lương thỏa đáng để
khuyến khích đội ngũ cán bộ ngân hàng phát huy khả năng độc lập, sáng tạo, học tập
nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao về nhân lực
trong hệ thống NHTM. “Hệ thống Ngân hàng thương mại của Việt Nam”
Phạm Thị Hồng Phương - Lớp Ngân hàng 4 ngày 1 -
K17
21
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình “Nghiệp vụ Ngân hàng hiện đại” - Chủ biên: TS. Nguyễn Minh Kiều
- Nhà xuất bản Thống kê năm 2007.