CHUYÊN ĐỀ: HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM - Pdf 19

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
KHOA NGÂN HÀNG
  

MÔN HỌC: NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

CHUYÊN ĐỀ:

HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CỦA VIỆT NAM GVHD: TS. Lại Tiến Dĩnh

HVTH: Kim Hữu Nghĩa

* Là tổ chức nhận tiền gởi (Depository)

* Cung cấp dịch vụ thanh toán
* Là tổ chức tín dụng
* Được thực hiện một số hoạt động Ngân
hàng
* Là tổ chức không nhận tiền gởi
(Nondepository)
* Không cung cấp dịch vụ thanh toán

2. Chức năng của Ngân hàng thương mại :
- Chức năng trung gian tài chính của Ngân hàng thương mại:
Thực hiện chức năng này, Ngân hàng thương mại đóng vai trò trung gian khi thực hiện
các nghiệp vụ bao gồm nghiệp vụ cấp tín dụng, nghiệp vụ thanh toán, nghiệp vụ kinh doanh
ngoại tệ, kinh doanh chứng khoán và nhiều hoạt động môi giới khác. Từ ”Trung gian” ở đây có
thể hiểu theo hai ý nghĩa :
* Trung gian giữa các khách hàng với nhau:
Ví dụ: Ngân hàng thương mại làm trung gian giữa người gởi tiền và người vay tiền, hay
trung gian giữa người trả tiền và người nhận tiền, hoặc trung gian giữa người mua và người bán
ngoại tệ,
* Trung gian giữa Ngân hàng Trung ương và công chúng. Ngân hàng Trung ương hay
như ở Việt Nam thường gọi là Ngân hàng Nhà nước không có giao dịch trực tiếp với công
chúng mà chỉ giao dịch với các Ngân hàng thương mại, trong khi các Ngân hàng thương mại
vừa giao dịch với Ngân hàng Trung ương vừa giao dịch với công chúng.

- Chức năng tạo tiền:
Là chức năng sáng tạo ra bút tệ góp phần gia tăng khối tiền tệ phục vụ cho nhu cầu chu
chuyển và phát triển nền kinh tế. Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund) gọi
tắt là IMF, khối tiền tệ của một quốc gia bao gồm: Tiền giấy, tiền kim loại, và tiền gởi không
kỳ hạn ở Ngân hàng. Còn tiền gởi tiết kiệm và tiền gởi định kỳ không được xem là bộ phận của

Bảng cân đối kế toán của NHTM A
Tài sản Nguồn vốn
- Thiết lập dự trữ: 10
- Tín dụng: 90
- Tiền gởi của khách hàng là: 100
NHTM A cho NHTM B vay hết 90 triệu đồng

Bảng cân đối kế toán của NHTM B
Tài sản Nguồn vốn
- Thiết lập dự trữ: 9
- Tín dụng: 81
- Tiền gởi của khách hàng là: 90

NHTM B cho NHTM C vay hết 81 triệu đồng
Bảng cân đối kế toán của NHTM C
Tài sản Nguồn vốn
- Thiết lập dự trữ: 8,1
- Tín dụng: 72,9
- Tiền gởi của khách hàng là: 81
Quá trình cứ tiếp tục cho đến khi nào số gia tăng tiền gởi và cho vay triệt tiêu (Vì phải dự
trữ ở Ngân hàng Nhà nước). Ta thấy rằng số gia tăng tiền gởi của các Ngân hàng có dạng cấp
số nhân:
U
1
100
Tổng số bút tệ được tạo ra = S
n
= = = 1.000
1-q 1- (1-0,1)


nói chưa có loại hình doanh nghiệp nào có tỷ số nợ trên vốn cao như NHTM.
Trên cơ sở sử dụng các yếu tố nhập lượng hay yếu tố đầu vào đặc thù của quá trình sản
xuất, NHTM tạo ra sản phẩm và dịch vụ đặc thù để cung cấp cho khách hàng. Các sản phẩm và
dịch vụ NHTM có thể cung cấp bao gồm:
+ Các sản phẩm huy động vốn như tiền gởi và chứng từ có giá các loại.
+ Các sẩn phẩm cấp tín dụng như cho vay doanh nghiệp, cho vay cá nhân, cho vay tiêu
dùng, cho vay sản xuất, tài trợ xuất nhập khẩu, tài trợ dự án, cho thuê tài chính,
+ Các sản phẩm thẻ như thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ, thẻ ATM,
+ Các dịch vụ ngân hàng như dịch vụ chuyển tiền, thanh toán không dfùng tiền mặt,
thanh toán quốc tế,
+ Các sản phẩm kinh doanh ngoại tệ như các hợp đồng giao ngay, kỳ hạn, hoán đổi, giao
sau, quyền chọn,
Mục đích nhấn mạnh chức năng sản xuất để cho các nhà quản trị NHTM thấy rằng
NHTM cũng giống như các doanh nghiệp sản xuất và điều này có thể làm thay đổi sâu sắc
trong nhận thức chiến lược và quản trị NHTM. Vì có sản xuất mới có sản phẩm và vì có sản
phẩm nên phải chú ý những điểm quan trọng sau đây trong quản trị NHTM:
+ Thứ nhất, cũng như doanh nghiệp, NHTM muốn tồn tại và phát triển thì phải tiêu thụ
được sản phẩm của mình, do vậy cần chú ý đến tiếp thị, bán hàng, khuyến mãi, và thậm chí đến
cả dịch vụ hậu mãi nữa.
+ Thứ hai, cũng như doanh nghiệp, NHTM phải chú ý nghiên cứu phát triển sản phẩm
mới và thiết kế sản phẩm sao cho thỏa mãn tối đa nhu cầu và thị hiếu của khách hàng.
+ Thứ ba, cũng như doanh nghiệp, NHTM phải không ngừng quan tâm đến phát triển và
đổi mới công nghệ ngân hàng, đặc biệt trong thời đại công nghệ thông tin như hiện nay công
nghệ ngân hàng thay đổi rất nhanh chóng. Một sự chậm chạp hoặc thiếu đầu tư công nghệ có
thể dẫn đến tai họa cho NHTM trong thời đại cạnh tranh gay gắt hiện nay.
3. Hoạt động chủ yếu của Ngân hàng thương mại:
Chương III của Luật các Tổ chức tín dung nêu ra các hoạt động của NHTM bao gồm:
3.1. Hoạt động huy động vốn
Ngân hàng thương mại được huy động vốn dưới các hình thức sau:
+ Nhận tiền gởi của tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới hình thức tiền gởi

Ngân hàng thương mại được hoạt động cho thuê tài chính nhưng phải thành lập công ty
cho thuê tài chính riêng. Việc thành lập, tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính
thực hiện theo Nghị định của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài
chính.
3.2.5. Bao thanh toán
Các ngân hàng thương mại triển khai thực hiện bao thanh toán như là một hình thức cấp
tín dụng cho khách hàng doanh nghiệp như: Bao thanh toán truy đòi (Recource factoring), bao
thanh toán miễn truy đòi (Non - Recource factoring), bao thanh toán ứng trước hay bao thanh
toán chiết khấu, bao thanh toán khi đáo hạn trong phạm vi buôn bán nội địa lẫn quốc tế.
3.2.6. Tài trợ nhập khẩu
Hiện nay, khá nhiền ngân hàng thương mại cung cấp tài trợ xuất nhập khẩu bao trọn gói
để hỗ trợ doanh nghiệp.
Nghiệp vụ tài trợ nhập khẩu nhằm hỗ trợ về tài chính cùng các phương tiện và giấy tờ
liên quan để doanh nghiệp nhập khẩu có thể thực hiện nghĩa vụ của mình trong hợp đồng mua
bán hàng hóa, bao gồm:
+ Mở L/C thanh toán hàng nhập khẩu.
+ Cho vay ứng trước một phần để thanh toán cho người bán hay ứng trước tiền thuế nhập
khẩu.
+ Bảo lãnh và tái bảo lãnh việc thanh toán hối phiếu khi đến hạn.
+ Chấp nhận hối phiếu.
+ Cho thuê kho bãi để chứa và bảo quản an toàn hàng hóa nhập khẩu với giá cho thuê
phải chăng (nhờ lợi thế về qui mô số lượng khách hàng của ngân hàng) tại các địa điểm hay các
địa phương khác nhau.
+ Giúp khai báo thuế (thí dụ: lập tờ khai và áp mã vạch thuế chính xác nhanh chóng, nhận
lại tiền hoàn thuế nếu nộp dư do cơ quan thuế tạm tính thuế phải nộp, ).
+ Cho vay để thanh toán tiền hàng nhập khẩu cho nhà xuất khẩu nếu đến hạn mà nhà
nhập khẩu chưa có tiền.
+ Hỗ trợ về mặt chuyên môn, kỹ thuật từ giúp soạn thảo hợp đồng thương mại, mua bảo
hiểm cho suốt quá trình vận chuyển và chuyển giao hàng hóa, theo dõi và kiểm tra hóa đơn
chứng từ và hàng hóa cả về số lượng, quy cách và chất lượng.

Khi sử dụng dịch vụ này, mỗi khách hàng được cấp một hạn mức thấu chi khi khách hàng tạm
thời thiếu hụt trong thanh toán. Khách hàng không cần phải thế chấp hay tín chấp.
3.2.9. Cho vay theo hạn mức tín dụng
Khách hàng nộp một bộ hồ sơ vay vốn duy nhất cho mợt hay nhiều món vay vào đầu quí,
ngân hàng thương mại cấp một hạn mức tín dụng là mức dư nợ vay tối đa được duy trì trong
một thời gian nhất định mà khách hàng và ngân hàng đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
3.2.10. Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng
Ngân hàng thương mại cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất
định ngoài hạn mức tín dụng đã được ký ban đầu giữa ngân hàng và khách hàng, áp dụng hạn
mức tín dụng dự phòng khi khách hàng không có đủ vốn vì mức vốn đầu tư cho dự án tăng
thêm, nhu cầu tiêu dùng, mua sắm tăng thêm,
3.3. Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ
Để thực hiện được các dịch vụ thanh toán giữa các doanh nghiệp thông qua ngân hàng,
ngân hàng thương mại được mở tài khoản cho khách hàng trong và ngoài nước. để thực hiện
thanh toán giữa các ngân hàng với nhau thông qua Ngân hàng Nhà nước, ngân hàng thương
mại phải mở tài khoản tiền gởi tại Ngân hàng Nhà nước nơi ngân hàng thương mại đặt trụ sở
chính và duy trì tại đó số dư tiền gởi dự trữ bắt buộc theo qui định. Ngoài ra, chi nhánh của
ngân hàng thương mại được mở tài khoản tiền gởi tại chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh,
thành phố nơi đặt trụ sở của chi nhánh. Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ của ngân
hàng thương mại bao gồm các hoạt động sau:
+ Cung cấp các phương tiện thanh toán.
+ Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng.
+ Thực hiện dịch vụ thu hộ và chi hộ.
+ Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác theo qui định của Ngân hàng Nhà nước.
+ Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế khi được Ngân hàng Nhà nước cho phép.
+ Thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng.
+ Tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh toán liên ngân hàng
trong nước.
+ Tham gia hệ thống thanh toán quốc tế khi được Ngân hàng Nhà nước cho phép.
3.4. Các hoạt động khác

Trong những năm qua, hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đã phát triển nhanh cả
về quy mô và chất lượng. Cùng với Ngân hàng Nhà nước trong việc ổn định tỷ giá, lãi suất và
kiềm chế lạm phát, góp phần làm ổn định kinh tế và tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế ở
mức độ cao. Đặc biệt từ sau khi hội nhập WTO, hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đã
mở rộng rất nhanh và có những đóng góp quan trọng nhất định đối với công cuộc xây dựng đất
nước, xây dựng cơ sở hạ tầng quốc gia, chăm lo cho đội ngũ doanh nghiệp, góp phần phát triển
các ngành nông nghiệp, công thương nghiệp, dịch vụ.
Không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ, ngân hàng thương mại Việt Nam rất chú
trọng trong việc đẩy mạnh các hoạt động liên quan đến thị trường và sản phẩm dịch vụ ngân
hàng hiện đại. Bên cạnh các dịch vụ truyền thống, các NHTM cũng rất cố gắng trong việc đa
dạng hóa các loại hình sản phẩm để cung cấp cho xã hội. Đây là một xu thế tất yếu khi nền
kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập vào thế giới và các ngân hàng trong nước đang phải đối
phó với sức ép cạnh tranh từ bên ngoài. Trình độ công nghệ cũng có những bước cải thiện giúp
hiện đại hoá các phương tiện thanh toán. Hệ thống máy rút tiền tự động ATM đem đến nhiều
tiện ích trong cuộc sống.
Một trong những thành tựu nổi bật của NHTM Việt Nam là đã huy động được hàng nghìn
tỉ đồng để đầu tư vào những chương trình kinh tế trọng điểm có ý nghĩa quan trọng của nền
kinh tế. Nhiều công trình, dự án quan trọng của đất nước được hình thành từ nguồn vốn ngân
hàng (như các dự án về dầu khí, công nghiệp đóng tàu, xi măng, sắt thép, thuỷ điện, ). Đặc
biệt, NHTM đã dành nguồn vốn đáng kể để đầu tư phục vụ chuyển đổi cơ cấu kinh tế và phát
triển nông nghiệp, nông thôn. Vốn ngân hàng đã góp phần quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ
cấu kinh tế khu vực nông nghiệp, nông thôn trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, tạo việc làm cho hàng triệu lao động.
Ngân hàng thương mại cũng thực hiện tốt nghĩa vụ với ngân sách nhà nước. Vốn ngân
hàng đã góp phần vực dậy hàng trăm doanh nghiệp đứng trước bờ vực phá sản trở lại kinh
doanh có hiệu quả, đem lại những đóng góp tích cực cho ngân sách nhà nước.
Ngân hàng thương mại cũng chú trọng việc mở rộng, tăng cường hoạt động đối ngoại và
hợp tác quốc tế với các ngân hàng trong khu vực cũng như trên thế giới theo xu hướng hội nhập
kinh tế quốc tế. Duy trì tốt quan hệ với các tổ chức tài chính và ngân hàng quốc tế như Quỹ
Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), tham

đối với các ngân hàng nội.
Cạnh tranh với ngân hàng trong nước: Điều này là hiển nhiên nhưng có xu thế mới đó là
việc hợp tác của các ngân hàng nội. Việc rõ ràng nhất là “liên minh ATM”. Cầm thẻ ATM của
ngân hàng Techcombank nhưng khi đến trạm rút tiền của ngân hàng Vietcombank bạn vẫn có
thể rút tiền được. Điều này làm gia tăng tầm hoạt động, khả năng cạnh tranh, sức thu hút khách
hàng hơn là những ngân hàng không nằm trong liên minh.
Nhưng sự cạnh tranh dù là giữa nội – ngoại hay nội – nội vẫn là cần thiết. Vì như thế các
ngân hàng sẽ không ngừng cải thiện, không ngừng gia tăng chất lượng dịch vụ, luôn luôn sáng
tạo để làm thỏa mãn những đòi hỏi của đất nước, của người dân và các doanh nghiệp.
- Cạnh tranh với thị trường chứng khoán:
Càng ngày chứng khoán càng trở nên lộ diện là đối thủ cạnh tranh trực tiếp với các
ngân hàng về mặt huy động vốn trong dân. Trước kia chưa có chứng khoán thì người dân sẽ
gửi tiền nhàn rỗi của mình vào các ngân hàng nhằm kiếm các khoản lợi tức. Nhưng nay, chứng
khoán đã làm giảm lượng huy động vốn nhàn rỗi của các ngân hàng. Những người dân có tiền
nhàn rỗi họ sẵn sàng lao vào đầu tư chứng khoán với hi vọng kiếm lời cao hơn là gửi tiền vào
ngân hàng (tuy có rủi ro cao hơn). Bên cạnh đó, các doanh ngiệp ngoài kênh huy động vốn là
vay mượn các ngân hàng họ còn có cách là phát hành cổ phiếu ra thị trường. Đấy cũng là một
cách tốt để huy động vốn.
Nói đến khó khăn thì cũng cần nhắc đến những dấu hiệu khả quan mà ngành ngân hàng
đã làm được trong năm nay:
Trong năm nay, ngành ngân hàng phải chống chọi với lạm phát và cơn bão khủng hoảng
tín dụng của Mỹ nên chưa có những bước phát triển như mong muốn.
Dấu hiệu khả quan có thể nhận thấy ngay là góp phần cùng với Ngân hàng trung ương
hạn chế lạm phát một cách tích cực và hiệu quả.
3. Một số hạn chế, tồn tại và những vấn đề đặt ra cho NHTM Việt Nam
trong bối cảnh hiện nay:
Mặc dù đạt những thành tựu, song NHTM cũng còn tồn tại một số hạn chế cơ bản cần
nhanh chóng khắc phục để có thể đứng vững trước “cơn bão tài chính” ở Mỹ và đang có xu
hướng lan rộng ra toàn cầu hiện nay.
Tính từ thời điểm cuối năm 2006, đã có nhiều biến động lớn xảy ra đối với NHTM Việt

gửi, vì thông tin của khách hàng chưa được “post” lên mạng của ngân hàng. Những hạn chế
tương tự như vậy gay nhiều phiền toái cũng như cảm giác không hài lòng cho khách hàng.
Công nghệ lỗi thời: Mặc dù gần đây các ngân hàng trong nước đã đẩy mạnh việc hiện
đại hóa hệ thống công nghệ thông tin ngân hàng, tuy nhiên hiệu quả của những đầu tư không
đồng đều. Đặc biệt, tại các ngân hàng thương mại nhà nước, việc đầu tư thường được chú trọng
nhiều vào “bề nổi” là các hệ thống thông tin, nhưng lại không tiếp cận được vấn đề cốt lõi là
tạo lập cơ sở nguyên tắc nghiệp vụ và quản trị để tận dụng tối đa những tiện ích do các hệ
thống công nghệ thông tin mang lại.
Khả năng quản lý rủi ro còn yếu kém: Có thể nói, cho đến thời điểm này, đây là một đặc
điểm nổi bật của nhiều ngân hàng Việt Nam. Hầu hết các ngân hàng thương mại Việt Nam đều
có lịch sử phát triển chỉ khoảng 20 năm (khoảng thời gian quá non trẻ so với con số 158 năm
tuổi của Lehman Brothers- ngân hàng Mỹ vừa bị phá sản). Tiến trình hội nhập vào nền kinh tế
thế giới của kinh tế Việt Nam cũng chỉ chừng ấy năm. Hệ thống pháp luật về phòng ngừa rủi ro
và nghiệp vụ quản trị rủi ro trong ngành tài chính vẫn còn lỏng lẻo và yếu. Nhiều ngân hàng
vẫn chưa chú trọng đầy đủ đến vấn đề quản lý rủi ro tác nghiệp và rủi ro thị trường.
Ảo tưởng vào sự tăng trưởng của nền kinh tế và thị trường bất động sản: Ở Mỹ, phần lớn
những gì ngành tài chính Mỹ đang phải trải qua lúc này đều xuất phát từ khủng hoảng của thị
trường bất động sản và từ đó lan ra các lĩnh vực khác. Trước năm 2007, ở Việt Nam cũng đã có
những dấu hiệu tương tự. Những nỗ lực của Chính phủ trong việc thắt chặt chính sách tiền tệ và
một loạt các biện pháp khác đã giúp ngành ngân hàng không rơi vào vùng mất an toàn trong
việc cho vay đầu tư bất động sản. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là mọi rủi ro đều đã được
loại bỏ. Hiện nay, đã có một số dấu hiệu cho thấy ngành ngân hàng bắt đầu hoạt động “thoáng”
hơn. Do vậy, bảo đảm sự giám sát chặt chẽ nhằm lành mạnh hóa các nguồn vốn đổ vào lĩnh
vực bất động sản là việc vô cùng quan trọng đối với các ngân hàng Việt Nam hiện nay.
Trên thực tế, cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ hiện nay có nguyên nhân từ cuộc khủng
hoảng cho vay dưới chuẩn (bắt đầu bằng sự cố “nổ bong bóng bất động sản”. Một trong các hệ
quả của việc này là kéo theo sự mất giá trị của các chứng khoán bảo đảm bằng thế chấp, càng
làm cho thị trường tài chính thiếu vốn trầm trọng.
Đối với Việt Nam, hiện tượng “thổi phồng” giả tạo do những kẻ đầu cơ là một trong
những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng bong bóng bất động sản”. Nếu thị trường bất động

VỮNG CHO NHTM Ở VIỆT NAM:
1. Nâng cao năng lực kiểm tra, giám sát và quản lý của Nhà nước:
Thực tế cho thấy, sự thiếu minh bạch và thiếu giám sát chặt chẽ là những nguyên nhân
chính dẫn đến tình trạng “bong bóng bất động sản” hay những thông tin thất thiệt trên thị
trường chứng khoán nói riêng, thị trường tài chính nói chung. Những hoạt động của thị trường
chứng khoán và thị trường bất động sản lại là những yếu tố cơ bản dẫn đến sự tăng trưởng
mạnh mẽ hay nguy cơ khủng hoảng tài chính của một nền kinh tế. Vì vậy, khả năng giám sát
thị trường và sự quản lý của Nhà nước là yếu tố quan trọng hàng đầu trong vấn đề này.
2. Cần có một cơ chế giám sát rủi ro:
Ngân hàng là một trong những ngành nhiều rủi ro, vì vậy, cần có một cơ chế giám sát rủi
ro. Các sản phẩm của thị trường chứng khoán Việt Nam còn rất sơ khai, nhưng trong bối cảnh
hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, các sản phẩm bày sẽ được đa dạng hóa và phát triển rất
nhanh. Vì vậy, Nhà nước cần có một cơ chế giám sát theo kịp với sự biến đổi của thị trường
này, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển ổn định của ngành ngân hàng. Trên thực tế, hệ
thống quản lý rủi ro của các ngân hàng trong nước chưa được chú ý một cách thích hợp, đặc
biệt tại các ngân hàng mới thành lập, do áp lực của lợi nhuận và doanh số. Tình hình khả quan
hơn đối với các ngân hàng lớn và có kinh nghiệm hoạt động lâu năm.
Tuy nhiên, trong số đó cũng có ngân hàng lớn như Ngân hàng Công thương Việt Nam
(Vietinbank), số lượng nhân viên làm công việc giám sát rủi ro chỉ chiếm khoảng 2%. Hiện
nay, do việc kinh doanh của phần lớn các ngân hàng trong nước vẫn chủ yếu dựa vào các loại
hình dịch vụ truyền thống nên chưa có vấn đề gì lớn xảy ra, ngoại trừ một số nợ xấu tập trung ở
lĩnh vực bất động sản và một số lĩnh vực khác. Song tình hình có thể thay đổi rất nhanh trong
tương lai khi các ngân hàng Việt Nam tiếp cận nhiều hơn với thế giới.
Thực tế cho thấy, những ngân hàng lớn của Mỹ như Lehman Brothers hay các công ty
bất động sản như Fannie Mae, Freddie Mac đổ vỡ là do dấn quá sâu vào những nghiệp vụ mang
tính rủi ro quá cao như cho vay thế chấp dưới chuẩn, và quá tin tưởng vào tính bền vững của tổ
chức mà thiếu đi sự giám sát chặt chẽ. Hiện nay, ở nước ta, chưa có cơ quan quản lý dịch vụ tài
chính một cách độc lập, Ngân hàng Nhà nước vẫn phải làm công việc này. Trước mắt, Ngân
hàng Nhà nước nên có một bộ phận chuyên trách thông tin để chủ động cung cấp những nguồn
tin chính thức và trung thực cho công chúng. Việc giám sát cũng còn nhiều hạn chế, mặt khác,

ngành ngân hàng. Cần phải tránh xảy ra tình trạng khách hàng nghe tin đồn và kéo nhau đến rút
tiền hàng loạt, khi ấy, sự đổ vỡ của ngân hàng là khó tránh khỏi, nếu không có những “phao
cứu trợ” đủ mạnh.
Xuất phát từ thực tế này, cần sớm có một chế tài mạnh, vừa bảo đảm thông tin đầy đủ,
trung thực và kịp thời, vừa tránh được tình trạng “đầu cơ thông tin” để trục lợi, “thông tin nội
gián” , làm người dân khó phân biệt giữa thông tin rò rỉ, nội gián với những thông tin “vỉa hè”
thất thiệt, nhất là trong thời kỳ thị trường vốn, thị trường chứng khoán đang ngày càng phát
triển và trở thành kênh huy động vốn quan trọng của nền kinh tế nước nhà.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status