Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
Giai đoạn trưởng thành chúng ký sinh ở ruột, với số lượng lớn sẽ gây tắc ruột. Trong quá
trình sống ở ruột chúng cướp chất dinh dưỡng, gây những tác động cơ học, làm rách gây
viêm loét ruột. Đặc biệt trong thời kỳ trưởng thành giun đũa con di hành đến các cơ quan
khác, như túi mật gây tắc mật, lên mũi và có thể lên xoang trán, gây những biến chứng khó
lường được.
Triệu chứng lâm sàng:
Bệnh giun đũa xảy ra ở dưới dạng mãn tính. Cũng như các bệnh ký sinh trùng khác bệnh phụ
thuộc vào cường độ cảm nhiễm, sức đề kháng của con vật mà triệu chứng bệnh nó được thể
hiện.
Rối loạn tiêu hóa
Ỉa chảy, phân lỏng, có niêm mạc ruột, có khi xuất huyết.
Da xù xì, lông dựng và thô
Mức độ cảm nhiễm nặng con vật xuất hiện triệu chứng thần kinh (hưng phấn co giật, bại
liệt).
Ở giai đoạn ấu trùng di hành lên phổi gây ho và có triệu chứng của viêm phổi. Thân nhiệt
tăng, tần số hô hấp tăng.
Chẩn đoán bệnh:
Biện pháp chẩn đoán bệnh giun đũa khi gia súc còn sống là sử dụng phương pháp soi phân
tìm trứng. Hai phương pháp đó là: Fleubor và Darling.
Trong thời gian gần đây ở một số nước có khoa học kỹ thuật phát triển họ đã áp dụng phương
pháp dị ứng để chẩn đoán bệnh giun đũa.
Chẩn đoán sau khi con vật chết thì phương pháp mổ khám toàn diện theo phương pháp
Skrjabin, hoặc phương pháp Bacrman để tìm ấu trùng của giun đũa.
Phòng và trị bệnh
Hiện nay trong thú y cũng như trong y học có rất nhiều loại thuốc dùng để trị giun đũa. Các
thuốc chứa một hàm lượng Silicofluorat để có tác dụng diệt giun đũa rát tốt.
Các loại cây củ thực vật như: keo đậu, hạt bí, đều có tác dụng tẩy giun rất hiệu nghiệm.
Hiện nay thường dùng: Piperazin, Santonin
Bệnh giun phổi
Hoàn thành vòng đời của nó khoảng 25-35
ngày.
- Tính chất dich tể của bệnh
+Bệnh giun phổi thường mắc ở lợn
con, lợn lớn tỷ lệ mắc thấp
+ Bệnh xẩy ra có tính chất riêng biệt
theo vùng phụ thuộc vào mức độ nhiễm của
giun đất.
+Bệnh xẩy ra những nơi có tập quán
chăn nuôi lợn thả rong, nền chuồng bằng đất.
+Bệnh thường mắc vào mùa mưa, vì
mùa mưa điều kiện thuận lợi cho giun đất phát
triển.
Cơ chế bệnh và triệu chứng
Cơ chế bệnh tác động bởi giun phổi là tác
động cơ học và tác động chất độc tố của giun.
Trong khí quản và phổi giun kích thích gây nên phản xạ ho dử dội nhất là vào buổi sáng sớm
hoặc những lúc thời tiết thay đổi.
Chúng kí sinh ở phổi, làm cho diện tích hô hấp của phổi giảm, lợn chậm lớn còi cọc.
Khi tác động ở phổi, dẫn đến viêm phổi, trường hợp nhiễm với cường độ cao lợn có thể bị
chết.
Phòng trị bệnh
+Cần nuôi tách riêng lợ con với lợn lớn.
+Trại chăn nuôi và sân chơi của lợn phải thường xuyên quét dọn thu gom phân, ủ
phân theo phương pháp sinh học.
+Nền chuồng phải láng xi măng
+Không nên nuôi lợn thả rong
+Định kỳ tẩy giun cho lợn. Nhất là sau khi cai sữa cần tẩy cho lợn con
+ Các loại thuốc tẩy giun như: Dixtrazin photphat, levamyzol, dung dịch lugol.
Cơ chế phát bệnh và triệu chứng
Cơ chế tác động gây bệnh là tác động:
+Cướp chất dinh dưỡng của cơ thể ký chủ
+tác động cơ học,giun bao chui sâu vào ruột đẻ trứng gây viêm ruột, làm cho lớp vi
nhung mao bị tổn thương, quá trình tiêu hóa và hấp thu ở ruộtbị rối loạn.
+Tác động độc tố của giun bao gây tiêu hủy hồng cầu, dẫn tới cơ thể thiếu máu, rối
loạn hoạt động của nhiều cơ qua, ảnh hưởng đén thần kinh.
+Ấu trùng giun bao ký sinh ở cơ, gây viêm cơ, xơ cơ, cơ thể mệt mõi thoái hóa cơ,
ảnh hưởng đến cơ quan vận động.
+Đối với gia súc triệu chứng không được rõ ràng
Chẩn đoán
Bệnh giun bao là một bệnh khá nguy hiểm cho con người và động vật. Muốn giải quyết vấn
đề này cần phải chẩn đoán bệnh chính xác.
Hiện nay có nhiều phương pháp chẩn đoán nhưng thường dược sử dụng đó là phương pháp
chẩn đoán bằng phản ứng dị ứng. Ngoài ra còn được tiến hành bằng phản ứng kết tủa giữa
giun bao với huyết thanh.
Đối với động vật chẩn đoán bằng phương pháp mổ khám cơ là chính xác nhất.
Trong giai đoạn ấu trùng ở người có thể chản đoán bằng phương pháp chụp X quang.
Phòng và trị
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
99
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
Hiện nay vẫn chưa có thuốc đặc hiệu để trị giun bao ở giai đoạn ấu trùng và giai đoạn trưởng
thành.
Có thể dùng laọi thuốc Thiabendazol, Methyridin, đây là hai loại thuốc ức chế sự phát triển
của giun bao.
Các biện pháp phòng bệnh là:
+Kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh thú y, trong công tác kiểm soát giết mỗ.
+Tuyên truyền vận động mọi người dân không nên ăn thịt tái sóng
+Có biện pháp diệt chuột ở những khu vực giết mổ gia súc.
Cơ chế mắc bệnh và triệu chứng lâm sàng
Cơ chế gây bệnh trên lợn hay bò biểu hiện ở giai đoạn ấu trùng. Chúng gây tổn
thương từ ruột tới nơi cấu trùng ký sinh. Khi ấu trùng đã ký sinh ở các tổ chức cơ thì biểu
hiện về lâm sàng không thể hiện rõ.
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
100
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
Ở người bị gạo thì thường ký sinh ở não, nên biểu hiện rất rõ triệu chứng thần kinh, nhức đầu
có khi lên cơn sốt điên rồ. Nếu ký sinh ở mắt có thể mù mắt, ở tim hoặc các tổ chức khác
hoạt động cơ quan đó bị rối loạn.
Bệnh gạo không gây tác hại lớn cho gia súc mắc bệnh song đối với con người thì đây là một
trong những bệnh vô cùng nguy hiểm. Người không chỉ mắc bệnh sán dây trưởng thành mà
còn mắc bệnh ấu trùng của sán dây. Người là ký chủ trung gian và là ký chủ cuối cùng của
sán dây.
Chẩn đoán bệnh
Chẩn đoán bệnh lợn gạo, bò gạo khi gia súc còn sống khó thực hiện được. Hiện nay người ta
thường sử dụng phương pháp dị ứng để chẩn đoán, hay phương pháp huyết thanh học, chụp
X quang, siêu âm (Chẩn đoán bằng hình ảnh). Nhưng đối với thú y thì công việc đó mới chỉ
áp dụng trong phòng thí nghiệm, hay nói cách khác vẫn còn trên lý thuyết đối với điều kiện
chăn nuôi và thú y của nước ta.
Việc chẩn đoán hay kiểm soát giết mổ đối với bệnh gạo lợn hay bò là vô cùng cần thiết, và
cho kết quả chắc chắn nhất.
Biện pháp phòng ngừa
Đây là một bệnh liên quan giữa thú y và y học, vì vậy việc kết hợp thú y và y tế trong công
tác phòng bệnh là vô cùng cần thiết.
Các biện pháp vệ sinh thú y là:
Xây dựng và tăng cường công tác kiểm soát giết mổ
Nghiêm cấm việc giết và bán thịt gia súc bị bệnh mà không có ý kiến của cán bộ thú y.