Bài giảng Thú y cơ bản : MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP Ở VẬT NUÔI part 4 - Pdf 19

Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
-Khớp bị sưng to toàn bộ, các đường kẻ khớp phẳng đi không nhìn thấy nữa.
-Ở khớp khuỷu chân sau, thấy dấu hiệu rõ là tiếng chạm xương, chứng tỏ trong khớp
có chất dịch, và ở đây do chấn thương nên tràn máu khớp
-Nếu phát hiện muôn thì khó chẩn đoán hiện tượng tràn máu khớp, bởi vì do sưng
kèm theo phù nề, trường hợp này cần phải chọc thăm dò xem có máu hay không.
Điều trị:
- Gây tê cục bộ
-Cần hút hết máu tràn trong khớp, nếu để máu ứ động có thể gây biến chứng,như máu
tụ dễ bị nhiễm khuẩn, phá mũ, gây viêm khớp có mũ rất khó điều trị. Khả năng hồi phục rất
thấp. Do máu tụ nên loan tỏa các tổ chức xung quanh như dây chằng, hoạt dịch khớp, làm
cho các tổ chức này bị xơ cứng dẫn tới cứng khớp.
-Sau khi hút hết máu tàn khớp thì cần cố định bó bột bất động.
BONG GÂN

Bong gân- là chỉ các tổn thương ở khớp, sau một động tác quá mạnh, không gây trật khớp,
gảy xương, chỉ có tổn thương ở bao dịch khớp nhất là các dây chằng.
Bong gân thường gặp hầu hết các loại vật nuôi trong quá trình vận động vận chuyển từ nơi
này sang nơi khác. Lợn nái chuồng quá trơn trượt ngã, trâu bò cày kéo quá sức rườn, sập hố.
Gia súc vận chuyển trước khi đưa lên phương tiện xe cộ tàu hỏa, lên xuống thuyền, do vận
chuyển trên đường đi quá xóc lắc
Các khớp thường hay bị bong gân là các khớp động.
Tùy theo mức độ bong gân mà chia ra hai dạng:
* Bong gân nhẹ:
Dây chằng bị kéo dài, bị kéo căng quá độ, hoặc bị rắch một phần. Vì dây chằng không bị đứt
rời ra, nên khớp vẫn vững, thường không gây các biến chứng.
*Bong gân nặng:
Dây chằng bị bong một đầu xương, rời khỏi chổ bám, nhiều khi rút theo một mảng xương
nhỏ hay màng xương. Hoặc dây chằng bị đứt đôi, rắch xơ, rời nhau ra làm cho khớp không
vững nữa.
Triệu chứng:

đầu chẩn đoán không chính xác, điều trị không kịp thời nên rối loạn dinh dưỡng khớp dẫn tới
teo gân cơ, nề xương mất hết chất vôi.
Trong trường hợp này cần phong bế novocain khi nhiệt độ vùng khớp tăng, nếu đau ít thì có
thể cho xung điện xoa bóp.

CÁC TRƯỜNG HỢP BỆNH LÝ TOÀN THÂN

1. Sốt pyrexia
Sốt là hiện tượng thân nhiệt tăng bất thường. Nó có thể được phân chia sốt do nhiễm trùng
hay không nhiễm trùng.
Sốt không phải do nhiễm trùng có thể:
- Hoạt tử mô bào do hiện tượng thái hóa cơ, các khối u đang giai đoạn phát triển, diễn ra hoại
tử phân hủy mô bào đang bị viêm.
- Do các chất hóa học hoặc sau phẫu thuật, do sự phá hủy mô bào hay mạch máu.
- Trong các trường hợp phản ứng quá mẩn (anaphylactic), phản ứng của kháng thể đối với
kháng nguyên lạ.
Các triệu chứng lâm sàng nhận biết thấy:
+ Run rẩy do lạnh, toát mồ hôi
+ Mất nước
+ Nhiệt độ cơ thể tăng cao
+ Mạch đập và tần số tăng cao
+ Suy nhược cơ thể, biếng ăn ủ rũ.

Bại huyết:
Bại huyết là trạng thái bệnh lý gây ra bởi sự có mặt của vi khuẩn gây bệnh hoặc độc tố.
Các triệu chứng phát hiện trong trường hợp bại huyết.
- Suy nhược cơ thể
- Thân nhiệt tăng hoặc giảm ở trong thời kỳ cuối của bệnh
- Khó thở và thở nhanh
- Run rẩy

- Da nhăn váng khô
- Lông thô và cứng
- Xương nhô ra và hai mắt trũng sâu.
Khi mổ khám con vật ta thấy:
- Teo lớp mỡ thân thịt và lớp mỡ nội quan
- Mỡ nhão, mỡ trong như thạch
- Có thể hình thành phù nề và thiếu máu.

Phù nề Edema
Là sự tích tụ quá nhiều dịch thể ở các khoảng gian bào của mô bào, bao gồm các xoang của
cơ thể.
Có hai loại phù nề:
- Phù nề do viêm (chất xuất tiết exudate)
- Phù nề không phải do viêm (chất rỉ transudate)
Trong thực tế thường gặp phù nề có hệ thống hay gọi là phù nề toàn thân. Xuất hiện sau suy
tim, tim yếu hoặc xung huyết do hàm lượng protein trong máu thấp.
Phù toàn thân (anasarca) là dạng phù nề của tổ chức dưới da. Tích nước xoang bụng, hoặc
tích nước phúc mạc.
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
78
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản

BỆNH CHƯỚNG HƠI DẠ CỎ - TYMPANIA RUMINIS ACUTA

Là một bệnh với đặc điểm là sinh một lượng khí lớn ở dạ cỏ. Bệnh gặp ở trâu bò, dê cừu, lạc
đà.
Nguyên nhân bệnh: do con vật ăn phải một lượng thức ăn lớn lên men mạnh, cỏ non thức ăn
ẩm mốc, dây lang lá lạc Cũng có thể do kế phát của bệnh bại liệt dạ cỏ, tắc thực quản, tắc
ruột, sốt cấp tính.



Bệnh lý và triệu chứng lâm sàng:
Gia súc ăn phải một lượng lớn thức ăn khó tiêu, dẫn tới căng thành dạ cỏ, nhu động cả dạ cỏ
yếu rồi dẫn tới liệt. Do ảnh hưởng hoạt động dạ cỏ nên dẫn tới rối loạn nhu động của các dạ
kế tiếp theo, cũng như bệnh chướng bụng đầy hơi áp suất bụng tăng chèn ép hoạt động hệ tim
mạch rối loạn tuần hoàn máu, dẫn tới viêm các dạ dày trước và ruột.
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
79
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
Triệu chứng lâm sàng: con vật bỏ ăn, bồn chồn, thể tích dạ lá sách tăng.
Con vật ngoái nhìn về phía bụng, đuôi vẫy về phía bụng, hai chân sau đá cào vào bụng, đái
nhắt. Hong trái sệ xuống, nghe âm các dạ không rõ.
Phân đi sệt, có chất nhầy, màu nâu sẫm.
Nhịp tim và hô hấp tăng
Thân nhiệt không ổn định lúc tăng lúc giảm.
Chẩn đoán và tiên lượng
Cần điều tra cơ bản nguồn thức ăn của gia súc. Chướng hơi dạ cỏ hong trái căng hơi tiếng gõ
như gõ vào trống.
Tiên lượng không nặng và cấp như chướng hơi. Nếu can thiệp kịp thời gian khỏi bệnh chậm
hơn so với chướng hơi. Nếu lượng thức ăn tinh bột khá cao chất lượng tốt thì tiên lượng xấu,
có thể nguy hiểm tới tính mạng của con vật.

Điều trị và phòng bệnh
Cho gia súc nhịn đói trong hai ngày, tăng cường kích thích gây hưng phấn co bóp của dạ cỏ.
Như xoa bóp 2-3 phút, 4-5 lần trong ngày.
Cho gia súc uống nước nhiều bằng ống thông. Dùng điện kích thích.
Dùng các thuốc gây nôn.
Tiêm dưới da Veratin, Karbocholin, Pilocarpin.
Cho uống Natrisulphat, có thể tiêm tĩnh mạch rượu 30% 250-300ml
Trong trường hợp trụy tim mạch nên dùng các thuốc trợ tim.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status