ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
Trần Minh Hải
NGHIÊN CỨU VÀ CHẾ TẠO NANO BẠC ỨNG
DỤNG TRONG SINH HỌC
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC HỆ CHÍNH QUY
Ngành: Vật lý kỹ thuật
HÀ NỘI - 2011
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
Trần Minh Hải
NGHIÊN CỨU VÀ CHẾ TẠO NANO BẠC ỨNG
DỤNG TRONG SINH HỌC
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC HỆ CHÍNH QUY
Ngành: Vật lý kỹ thuật
Cán bộ hướng dẫn: TS. Trần Đăng Khoa
HÀ NỘI - 2011
Lời cảm ơn
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS. Trần Đăng Khoa đã tận tình chỉ
bảo và hướng dẫn tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu để thực hiện khóa luận tốt
nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn TS. Nguyễn Thị Hoài Hà, Viện Vi sinh vật và Công
nghệ Sinh học, Đại học Quốc Gia Hà Nội, đã nhận xét, góp ý cho khóa luận của tôi.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn KS. Phạm Thị Bích Đào, Viện Vi sinh vật và
Công nghệ Sinh học, Đại học Quốc Gia Hà Nội. CN. Nguyễn Thị Hòa, Khoa Vật lý kỹ
thuật và Công nghệ nano, Đại học Công nghệ, Đại học Quốc Gia Hà Nội đã hướng dẫn,
tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện khóa luận này.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tập thể các Thầy, Cô giáo và cán bộ của Khoa Vật lý
kỹ thuật và Công nghệ nano, Đại học Công nghệ, Đại học Quốc Gia Hà Nội đã cung cấp
các kiến thức tiền đề để tôi hoàn thành khóa luận này.
MỞ ĐẦU 9
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 10
1.1. Khái quát về công nghệ nano 10
1.1.1. Lịch sử hình thành của công nghệ nano 10
1.1.2. Cơ sở khoa học 10
1.1.3. Các nghiên cứu về hạt nano trong và ngoài nước 11
1.2. Khái quát về keo nano bạc 12
1.2.1. Sơ lược về tính chất và đặc tính của bạc 12
1.2.2. Các phương pháp chế tạo vật liệu nano bạc 13
1.2.3. Cơ chế ổn định hạt bạc của PVP và PEG 16
1.2.4. Ứng dụng của keo nano bạc 18
1.3. Khái quát về vi khuẩn 20
1.3.1. Khái niệm chung về vi khuẩn 20
1.3.2. Vi khuẩn E.coli 20
1.3.3. Vi khuẩn Staphylococcus 21
1.3.4. Tính diệt khuẩn của keo nano bạc 22
1.4. Khái quát về nấm mốc 24
1.5. Khái quát về tảo 25
1.5.1. Khái niệm chung về tảo lục 25
1.5.2. Vi tảo Chlorella 25
Chương 2. VẬT LIỆU, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
VÀ THỰC NGHIỆM 27
2.1. Vật liệu, trang thiết bị sử dụng 27
2.1.1. Các dụng cụ, thiết bị nghiên cứu 27
2.1.2. Các hoá chất sử dụng 28
2.1.3. Các đối tượng nghiên cứu 28
2.2. Phương pháp nghiên cứu và thực nghiệm 28
2.2.1. Chế tạo keo nano bạc 28
2.2.2. Phân tích bằng máy quang phổ hấp thụ UV-vis 30
2.2.3. Phân tích hạt bằng FE-SEM 30
Khoa học, công nghệ nano là một lĩnh vực khoa học và công nghệ mới, phát
triển rất nhanh chóng. Vật liệu được chế tạo bằng công nghệ này thể hiện nhiều tính
chất mới lạ do hiệu ứng kích thước. Khoa học và công nghệ nano trên cơ sở kết hợp đa
ngành đã tạo nên cuộc cách mạng về khoa học kỹ thuật. Hiện nay, nhiều quốc gia trên
thế giới xem công nghệ nano là mục tiêu mũi nhọn để đầu tư phát triển. Ước tính tổng
đầu tư cho lĩnh vực công nghệ nano trên toàn thế giới xấp xỉ 3 tỷ đôla và đã có hàng
trăm sản phẩm của công nghệ nano được thương mại, ứng dụng trong nhiều lĩnh vực
như điện tử, hóa học, y sinh, môi trường….[5,10].
Trong công nghệ nano thì hạt nano là một vật liệu quan trọng. Một trong những
hạt nano được sử dụng sớm và rộng rãi nhất là hạt nano bạc. Ở kích thước nano bạc
thể hiện những tính chất vật lý, hóa học, sinh học khác biệt và vô cùng quý giá, đặc
biệt là tính kháng khuẩn. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng khi ở kích thước nano, hoạt tính
sát khuẩn của bạc tăng lên khoảng 50.000 lần so với bạc ion [15,9]. Nhờ khả năng
kháng khuẩn tuyệt vời mà nano bạc đã được ứng dụng trong rất nhiều sản phẩm như:
tẩm trên băng cứu thương, phủ lên các loại sợi vải, sử dụng để khử trùng nước, các đồ
dùng cho trẻ em
Trong những năm gần đây, việc gia tăng vi khuẩn siêu kháng thuốc kháng sinh,
các loại nấm gây bệnh thiếu thuốc đặc trị thì việc nghiên cứu chế tạo sản phẩm chứa
nano bạc để tiêu diệt chúng là hướng đi mới và cấp thiết [17].
Đó là lý do mà tôi quyết định chọn đề tài “Nghiên cứu và chế tạo nano bạc ứng
dụng trong sinh học”. Các nội dung của đề tại như sau:
+ Chế tạo hạt nano bạc bằng phương pháp hóa khử, sử dụng NaBH
4
làm
tác nhân khử, hạt được bọc bởi PVP và PEG.
+ Nghiên cứu, khảo sát tính chất của keo bạc nano chế tạo bằng phân tích
quang phổ hấp thụ UV-vis, và chụp ảnh bằng FE-SEM.
+ Ứng dụng để nghiên cứu khả năng diệt khuẩn và khả năng tương tác với
nấm mốc, vi tảo của keo bạc nano.
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
một chấm lượng tử có thể được coi như một đại nguyên tử, nó có các mức năng lượng
giống như một nguyên tử [25].
+ Hiệu ứng bề mặt: Cùng một khối lượng nhưng khi ở kích thước nano
chúng có diện tích bề mặt lớn hơn rất nhiều so với khi chúng ở dạng khối. Điều này,
có ý nghĩa rất quan trọng trong các ứng dụng của vật liệu nano có liên quan tới khả
năng tiếp xúc bề mặt của vật liệu, như trong các ứng dụng vật liệu nano làm chất diệt
khuẩn. Đây là một tính chất quan trọng làm nên sự khác biệt của vật liệu có kích thước
nanomet so với vật liệu ở dạng khối [8].
+ Kích thước tới hạn: Kích thước tới hạn là kích thước mà ở đó vật giữ
nguyên các tính chất về vật lý, hóa học khi ở dạng khối. Nếu kích thước vật liệu mà
nhỏ hơn kích thước này thì tính chất của nó hoàn toàn bị thay đổi. Nếu ta giảm kích
thước của vật liệu đến kích cỡ nhỏ hơn bước sóng của vùng ánh sáng thấy được (400 -
700 nm), theo Mie hiện tượng "cộng hưởng plasmon bề mặt" xảy ra và ánh sáng quan
sát được sẽ thay đổi phụ thuộc vào bước sóng ánh sáng xảy ra hiện tượng cộng hưởng.
Hay như tính dẫn điện của vật liệu khi tới kích thước tới hạn thì không tuân theo định
luật Ohm nữa. Mà lúc này điện trở của chúng sẽ tuân theo các quy tắc lượng tử. Mỗi
vật liệu đều có những kích thước tới hạn khác nhau và bạn thân trong một vật liệu
cũng có nhiều kích thước tới hạn ứng với các tính chất khác nhau của chúng. Bởi vậy
khi nghiên cứu vật liệu nano chúng ta cần xác định rõ tính chất sẽ nghiên cứu là gì.
Chính nhờ những tính chất lý thú của vật liệu ở kích thước tới hạn nên công nghệ nano
có ý nghĩa quan trọng và thu hút được sự chú ý đặc biệt của các nhà nghiên cứu [24].
1.1.3. Các nghiên cứu về hạt nano trong và ngoài nước
Tình hình nghiên cứu trong nước:
Tại Việt Nam trong những năm gần đây công nghệ nano bắt đầu được đầu tư và
thu hút sự chú ý của các nhà khoa học. Tuy nhiên cho đến nay số lượng công trình
nghiên cứu về kim loại nano được công bố trên tạp trí khoa học trong nước còn rất hạn
chế. Đề tài nghiên cứu về vàng và platin nano để xúc tác chuyển hóa CO thành CO
2
được tác giả Nguyễn Thiết Dũng Viện khoa học Vật liệu ứng dụng – Viện khoa học và
công nghệ Việt Nam thực hiện (2009 – 2010). Về bạc, nhóm tác giả Nguyễn Đức
sử dụng tạo ra nhiều sản phẩm hữu ích.
• Tính chất vật lý:
+ Bạc là kim loại chuyển tiếp, màu trắng, sáng, dễ dàng dát mỏng, có tính dẫn điện
và dẫn nhiệt cao nhất và điện trở thấp nhất trong các kim loại.
+ Nhiệt độ nóng chảy là 961.93
0
C [18].
• Tính chất hóa học:
+ Bạc có ký hiệu là Ag, số nguyên tử 47 thuộc phân nhóm IB trong bảng tuần
hoàn các nguyên tố hóa học, bạc có khối lượng phân tử là 107.868 (đơn vị C).
+ Cấu hình electron [Kr]4
d10
5
s1
, có số oxi hóa là +1 và +2, phổ biến nhất là trạng
thái oxi hóa +1.
+ Trong tự nhiên, bạc tồn tại hai dạng đồng vị bền là Ag-107(52%) và Ag-
109(48%). Bạc không tan trong nước, môi trường kiềm nhưng có khả năng tan
trong một số axit mạnh như axit nitric, sufuric đặc nóng .v.v.
Ngày nay những thuộc tính quý của kim loại này được thể hiện tối đa khi chúng
được chế tạo bằng công nghệ nano. Và trên thị trường cũng đã xuất hiện nhiều sản
phẩm chứa nano bạc như băng gạc y tế, nước tẩy trùng bề mặt, hay hiện diện ngay
trong gia đình bạn như tủ lạnh, máy gặt .v.v.
1.2.2. Các phương pháp chế tạo vật liệu nano bạc
Có 2 phương pháp để điều chế hạt nano kim loại bạc: phương pháp từ dưới lên
và phương pháp từ trên xuống. Phương pháp từ dưới lên “bottom-up” là phương pháp
tạo hạt nano từ các nguyên tử hoặc ion kết hợp lại với nhau. Phương pháp từ trên
xuống “top-down” là phương pháp tạo các hạt nano từ vật liệu khối ban đầu. Đối với
hạt nano bạc, người ta thường điều chế bằng phương pháp từ dưới lên. Nguyên tắc là
khử ion Ag
H
2n+1
SO
4
Na (với n = 8, 10, 12, 14) nồng độ từ 0,001 đến 0,1 M
[16].
Phương pháp khử hóa học
Khử hóa học là một phương pháp được sử dụng phổ biến để chế tạo nano bạc
theo phương thức từ dưới lên.
+ Cơ chế của quá trình khử hóa học:
Phương pháp khử hóa học là dùng các tác nhân hóa học để khử ion bạc thành
bạc kim loại. Thông thường, phản ứng được thực hiện trong dung dịch lỏng nên còn
gọi là phản ứng hóa ướt.
Ag
+
+ e
-
→ Ag
0
Thông thường, nguồn cung cấp ion Ag
+
là các muối của bạc như AgNO
3
. Các
tác nhân khử thường dùng là: natri bohydrua, focmandehyt, xitrat, etylen glyxerol,
NaBH
4
, ethanol,…. Gần đây có một số công trình nghiên cứu chế tạo keo nano bạc và
bột nano bạc từ bạc nitrat nhưng sản phẩm trung gian là oxit bạc (Ag
2
Tác nhân khử NaBH
4
khác với phương pháp sử dụng Sodium citrate, ở phương
pháp này sau khi kết thúc phản ứng khử, người ta sử dụng các polyme như PVP, PVA,
PEG, Chitosan…, làm tác nhân ổn định. Các polyme này bao bọc hạt nano bạc, ngăn
chúng kết tụ với nhau, vì vậy mà hạt nano được bảo vệ tốt và tránh kết tủa.
Phương pháp hóa siêu âm
Phương pháp hóa siêu âm là các phản ứng hóa học được hỗ trợ bởi sóng siêu
âm cũng được dùng để tạo hạt nano. Hóa siêu âm là một chuyên ngành của hóa học,
trong đó các phản ứng hóa học xảy ra dưới tác dụng của sóng siêu âm như một dạng
xúc tác. Sóng siêu âm là sóng dọc, là quá trình truyền sự co lại và giãn nở của chất
lỏng. Tần số thường sử dụng trong các máy siêu âm là 20 kHz cao hơn ngưỡng nhận
biết của tai người (từ vài Hz đến 16 kHz). Khi sóng siêu âm đi qua một chất lỏng, sự
giãn nở do siêu âm gây ra áp suất âm trong chất lỏng kéo các phân tử chất lỏng ra xa
nhau. Nếu cường độ siêu âm đủ mạnh thì sự giãn nở này sẽ tạo ra những lỗ hổng trong
chất lỏng. Sự phát triển của các lỗ hổng phụ thuộc vào cường độ siêu âm. Khi cường
độ siêu âm cao, các lỗ hổng nhỏ có thể phát triển rất nhanh. Sự giãn nở của các lỗ
hổng đủ nhanh trong nửa đầu chu kì của một chu kì sóng siêu âm, nên đến nửa sau chu
kì thì nó không có đủ thời gian để co lại nữa. Dưới các điều kiện này, kích thước của
một lỗ hổng sẽ dao động theo các chu kì giãn nở và co lại. Trong khi dao động như thế
lượng khí hoặc hơi khuyếch tán vào hoặc ra khỏi lỗ hổng phụ thuộc vào diện tích bề
mặt. Diện tích bề mặt sẽ lớn hơn trong quá trình giãn nở và nhỏ hơn trong quá trình co
lại. Do đó, sự phát triển của lỗ hổng trong quá trình giãn nở sẽ lớn hơn trong quá trình
co lại. Sau nhiều chu kì siêu âm, lỗ hổng sẽ phát triển. Lỗ hổng có thể phát triển đến
một kích thước tới hạn mà tại kích thước đó lỗ hổng có thể hấp thụ hiệu quả năng
lượng của sóng siêu âm. Kích thước này gọi là kích thước cộng hưởng, nó phụ thuộc
vào tần số của sóng âm. Ví dụ, với tần số 20 kHz, kích thước này khoảng 170 mm.
Lúc này, lỗ hổng có thể phát triển rất nhanh trong một chu kì duy nhất của sóng siêu
âm. Một khi lỗ hổng đã phát triển quá mức, ngay cả trong trường hợp cường độ siêu
âm thấp hay cao, nó sẽ không thể hấp thụ năng lượng siêu âm một cách có hiệu quả
H
10
O
3
)
m,
là một polymer trơ, hòa tan trong
nước, không gây độc, được tạo ra bằng cách kết nối nhiều tiểu đơn vị ethylene oxide.
PEG hòa tan trong nước, methanol, benzen, diclorometan và không hòa tan trong ete
diethyl và hexane. Nó cùng với các phân tử kỵ nước dùng để sản xuất bề mặt không
ion. Các phân tử PEG hiện có khác nhau về hình thể (ở dạng thẳng hoặc phân nhánh)
và trọng lượng phân tử. PEG có trọng lượng khác nhau sẽ khác nhau về đặc tính sinh
lý. Thí dụ như PEG ở dạng tinh khiết, không kết hợp, nhỏ là dạng đầu (như PEG 200
Da), trong khi PEG lớn hơn (như PEG 8000 Da) có dạng rắn như sáp [24].
Hình 1.3. Công thức cấu tạo PEG
PEG có nhiều ứng dụng hữu ích trong y sinh do PEG có nhiều đặc tính cốt lõi
liên quan đến những lợi ích đối với các protein sử dụng trong điều trị và còn rất nhiều
ứng dụng khác trong các lĩnh vực khác nhau. PEG được sử dụng như một chất khử cho
việc chuẩn bị các hạt kim loại ở nhiệt độ cao (>170
0
C) và không hoạt động để giảm
lượng Ag
+
ở 80
0
C. Đáng ngạc nhiên hơn, Ag
+
có thể được giảm xuống đều đặn để tạo
hạt nano bạc tại cùng một điều kiện trong PEG 2000 Da. Nghiên cứu sâu hơn đã
chứng minh rằng tỷ lệ giảm của Ag
Thiết bị điện tử: Các nhà khoa học cũng đang nghiên cứu ứng dụng nano bạc để
sản xuất linh kiện điện tử phục vụ nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng. Các
thiết bị điện tử ứng dụng công nghệ nano sẽ có kích thước nhỏ gọn hơn nhưng lại có
tốc độ xử lý và tuổi thọ cao hơn các thiết bị sử dụng các công nghệ truyền thống
1.3. Khái quát về vi khuẩn
1.3.1. Khái niệm chung về vi khuẩn
Vi khuẩn là những sinh vật đơn bào, có cấu trúc tế bào đơn giản không có nhân
(Prokaryote – sinh vật nhân sơ). Vi khuẩn hiện diện ở khắp mọi nơi trong đất, nước,
không khí, kể cả những nơi có điều kiện sống khắc nghiệt như trên miệng núi lửa hay
trên băng tuyết.v.v. Có rất nhiều chủng vi khuẩn, và mỗi chủng vi khuẩn đều có sự
khác nhau về đặc tính và hình thái.
Vi khuẩn có nhiều hình dáng: vi khuẩn có nhiều hình dáng khác nhau và được
gọi với tên gọi theo hình dạng của chúng như trực khuẩn (bacillus), hình cầu, xoắn
khuẩn (spirillum), hình que, cầu khuẩn (coccus)… hình dáng vi khuẩn là một đặc điểm
quan trọng để nhận dạng các chi được đặt tên theo hình dạng.
Vi khuẩn có ích hoặc có hại cho môi trường, thực vật và động vật bao gồm cả
con người. Một só tác nhân gây bệnh như bệnh uốn ván (tetanus), sốt thương hàn
(typhoid fover), giang mai (syphilis), tả (cholera), lao (tuberculosis)…
1.3.2. Vi khuẩn E.coli
Phân loại khoa học:
Ngành: Proteobacteria
Lớp: Gamma Proteobacteria
Bộ : Enterobacteriales
Họ : Enterobacteriaceae
Chi : Escherichia
Loài: E. coli
Hình 1.7. Vi khuẩn E.coli [25]
Đặc điểm:
E.coli hay còn gọi là vi khuẩn đại tràng, là một trong những loài vi khuẩn chính
ký sinh trong đường ruột của người và động vật máu nóng. Chúng được phát hiện đầu
không gây độc cho người và vật nuôi khi nhiễm lượng nano bạc bằng nồng độ diệt
khuẩn (khoảng nồng độ <100ppm) [17].
Tuy nhiên cho tới nay, cơ chế kháng vi sinh vật của nano bạc vẫn chưa được
hiểu biết rõ ràng. Bằng các kỹ thuật chụp ảnh kính hiển vi điện tử có độ phóng đại cao
(FE-SEM, FE-SEM…), kết quả nghiên cứu cho thấy, hạt nano bạc bám dính với các
thành phần điện tích âm trên bề mặt tế bào vi khuẩn, virut làm thay đổi tính thấm và sự
hô hấp của màng tế bào. Đồng thời các hạt bạc có kích thước nhỏ chui vào trong tế
bào, kết hợp với các enzym hay DNA có chứa nhóm sun phua hặc phốt phát gây bất
hoạt enzym hay DNA dẫn đến gấy chết tế bào [14]. Trước sự gia tăng của dòng vi
khuẩn kháng thuốc kháng sinh điển hình là Staphylococcus aureus hay các loại vi nấm
gây bệnh thực vật thiếu thuốc đặc trị thì việc lựa chọn các chế phẩm chứa nano bạc
đang rất được quan tâm.
Thông thường nồng độ bạc sử dụng cho việc kháng khuẩn và sát trùng rất thấp,
ví dụ như khoảng 5ppm cho việc diệt vi khuẩn Esherichia Coli hiệu quả đến 999% và
khuẩn Staphylococcus aureus là hơn 99%. Vì vậy, nano bạc rất hữu ích cho việc sử
dụng làm chất diệt khuẩn, diệt nấm bệnh phục vụ cho nhu cầu cuộc sống con người.
Các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng diệt khuẩn của keo nano bạc
Kích thước, hình dạng hạt, nồng độ và sự phân bố là các yếu tố ảnh hưởng trực
tiếp đến tính kháng khuẩn của keo nano bạc.
+ Kích thước hạt nano bạc là yếu tố quan trọng quyết định khả năng diệt
khuẩn của chúng. Hạt nano bạc có kích thước càng nhỏ thì khả năng diệt khuẩn của
chúng càng mạnh, vì khi ở kích thước càng nhỏ thì tỉ số giữa diện tích bề mặt và thể
tích càng lớn và hạt cũng có thể dễ dàng tương tác với vi khuẩn hơn. Tuy nhiên các
hạt có kích thước nhỏ lại có khuynh hướng liên kết với nhau trong quá trình lưu trữ
tạo thành các hạt lớn hơn gây ảnh hưởng tới khả năng diệt khuẩn và bảo quản keo
nano bạc. Do đó trong quá trình chế tạo chúng ta phải tìm ra các phương pháp vừa tạo
ra hạt nano bạc có kích thước nhỏ vừa bền vững.
+ Các hạt nano có thể có rất nhiều hình dạng khác nhau như hình que,
hình cầu, hình tam giác,… Và sự thể hiện của các hạt nano bạc với cùng nồng độ, sự
phân bố nhưng với các hình dạng khác nhau là không giống nhau. Các hạt nano bạc có
bào tử bụi từ đầu phồng mọc tỏa khắp mọi hướng. Bào tử bụi có thể màu vàng
(Aspergillus flavus), màu đen (Aspergillus niger). Nấm Aspergillus oryzae là loài mốc
chính trong quá trình chế tạo tương. Hai loài không độc làm tương là Aspergillus
oryzae và Aspergillus sojae có hình thái và màu sắc rất giống với 2 loài rất nguy hiểm
là Aspergillus flavus và Aspergillus parasiticus sản sinh ra độc tố Aflatoxin gây bệnh
ung thư.
1.5. Khái quát về tảo
1.5.1. Khái niệm chung về tảo lục
Tảo là những thực vật bậc thấp, cơ thể chưa có sự phân hoá thành rễ, thân, lá
(những dấu hiệu của thực vật bậc cao) nên cơ thể chúng được gọi chung là tản. Cơ thể
chúng có chứa sắc tố quang hợp, chúng có khả năng quang tự dưỡng, sử dụng năng
lượng ánh sáng mặt trời, để tổng hợp nên các chất hữu cơ từ các hợp chất vô cơ đơn
giản.
Tảo lục có khoảng 6.000 loài [27]. Tảo lục phân biệt với các ngành tảo khác ở
đặc điểm đầu tiên là màu lục thuần khiết của cơ thể giống như màu lục của cây cối
xung quang chúng ta . Tảo lục gồm các tế bào sống đơn độc, các tế bào sống thành tập
đoàn, đa dạng. Cấu trúc tế bào vi tảo lục có tốc độ tiến hoá khác nhau. Chúng phân bố
rộng khắp từ nước ngọt nghèo dinh dưỡng đến nước lợ, nước biển. Một số bộ chỉ sống
trên vật ẩm hay sống ngay dưới mặt đất. Hình dạng cấu trúc chung của tế bào vi tảo
lục rất đa dạng, có thể có dạng đơn độc hay tập đoàn: có dạng sợi, dạng hạt, dạng ống,
dạng màng, Phần lớn tảo lục có dạng hình cầu, hình bầu dục, hình vuông, hình chữ
nhật, hay hình lưỡi liềm.
Tảo lục có vai trò quan trọng trong tự nhiên và đời sống nhân loại [6]. Tảo lục
là nguồn thực phẩm giàu chất dinh dưỡng cho người và động vật, chúng có khả năng
xử lý ô nhiễm môi trường, dùng làm chất chỉ thị sinh học.v.v.
1.5.2. Vi tảo Chlorella
+ Phân loại khoa học:
Ngành: Chlorophyta