BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
_________________
Trần Thị Bích Phượng
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO
KHẢ NĂNG SỬ DỤNG INTERNET
TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành : Lý luận và phương pháp dạy học Vật Lý
Mã số : 60 14 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Công nghệ thông tin
DH :
Dạy học
GAĐT :
Giáo án điện tử
GD&ĐT :
Giáo dục v đo tạo
GV :
Giáo viên
HS :
Học sinh
MVT :
Máy vi tính
PPDH :
Phơng pháp dạy học
SGK :
Sách giáo khoa
THCS :
Trung học cơ sở
TN :
ở Việt Nam giai đoạn 2001-2005, Quyết định ghi rõ đến 2005, khoảng 50%
số trường PTTH sẽ được kết nối mạng internet; Nghị định 64/2007/NĐ-CP
ngày 10/4/2007 về Ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước.
Để đáp ứng yêu cầu trên, nghà
nh giáo dục chủ trương đổi mới mạnh mẽ
phương pháp giảng dạy, đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, phát huy
tính sáng tạo của người học từng bước áp dụng các phương pháp và phương
tiện dạy học tiên tiến, đảm bảo thời gian tự học và tự nghiên cứu của học sinh,
sinh viên, phát triển phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp
trong t
oàn dân.
Môn vật lý nghiên cứu sự vận động của vật chất. Một số hiện tượng có
thể được quan sát bằng mắt thường nhưng cũng có nhiều hiện tượng vật lý vi
mô, vĩ mô thậm chí có những mô hình vật lý trừu tượng không thể mô tả để
học sinh hình dung một cách tường minh. Cho nên việc vận dụng ưu điểm của
hình ảnh, phim và phần mềm mô phỏng vào các bài giảng vật lý để học sinh
dễ hiểu hơn là rất cần thiết .
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của mạng Internet, giáo viên có thể tìm
thấy nhiều tài liệu phục vụ cho việc giảng dạy trên kho dữ liệu khổng lồ này.
Tuy nhiên thực trạng sử dụng công nghệ thông t
in nói chung và Internet
nói riêng của giáo viên vật lý ở các trường trung học phổ thông hiện nay ra
sao?
Những khó khăn nào mà giáo viên vật lý phải đối mặt khi sử dụng
Internet cho việc dạy học ?
Những nguyên nhân khách quan và chủ quan nào có thể ảnh hưởng đến
chất lượng sử dụng Internet?
Biện pháp khả dĩ nào có thể giúp giáo viên dễ dàng hơn t
rong việc sử
dụng Internet?
hỏi trên giấy và trên Internet.
- Tìm hiểu những khó khăn của giáo viên vật lý khi ứng dụng Internet
vào dạy học.
- Đưa ra các biện pháp khắc phục những khó khăn chủ quan cho giáo
viên vật lý dạy ở trường trung học phổ thông.
- Nghiên cứu cách tì
m kiếm tư liệu dạy học (hình ảnh, phim, phần mềm
mô phỏng, thí nghiệm ảo,…) trên Internet để sử dụng chúng vào bài giảng
điện tử. Đúc kết thành tài liệu hướng dẫn giáo viên và học sinh.
- Nghiên cứu việc xây dựng một phương thức giao tiếp cho cộng đồng
giáo viên và học sinh yêu thích môn vật lý thông qua trực tuyến (online)
nhằm hổ trợ cho việc tìm kiếm, chia sẻ tư liệu cũng như kinh nghiệm, giải
pháp.
- Tìm hiểu và đưa ý tưởng xây dựng một website cộng đồng nhằm hỗ trợ
cho việc tìm kiếm tư liệu dễ dàng và hiệu quả.
- Đưa ra các kết luận của đề tài.
5. Giả thuyết k
hoa học
- Cộng đồng giáo viên dạy vật lý ở các trường THPT có nhu cầu cao về
sử dụng Internet để tìm tư liệu cho dạy học nhưng trong đa số lại chưa biết sử
dụng Internet hiệu quả và gặp nhiều khó khăn khi ứng dụng công nghệ thông
tin vào dạy học.
- Trở ngại lớn nhất mà giáo viên gặp phải chính là tự bản thân họ: trìn
h
độ ngoại ngữ và kiến thức phổ cập tin học còn hạn chế, chưa biết sử dụng
công cụ tìm kiếm sao cho hiệu quả, tâm lý ngại sử dụng công nghệ thông tin.
- Số lượng các trang web tiếng Việt ứng dụng đa phương tiện về vật lý
không nhiều. Thiếu môi trường tương tác cộng đồng dạy học vật lý.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Nghiên cứu lý thuyết
- Đưa ra ý tưởng xây dựng website có tính tương tác hai chiều nhằm
phục vụ cộng đồng giáo viên và học sinh yêu vật lý với phương châm cộng
đồng phục vụ cộng đồng.
8. Cấu trúc luận văn
Mở đầu
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2:
Tìm hiểu việc sử dụng Internet để tìm tư liệu cho bài giảng
điện tử trong dạy học vật lý ở trường trung học phổ thông.
Chương 3:
Một số biện pháp nhằm khắc phục những khó khăn mà giáo
viên và học sinh gặp phải khi khai thác Internet.
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Mục tiêu giáo dục trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước
Bước sang thế kỉ 21, đất nước t
a bước vào thời kì công nghiệp hóa, hiện
đại hóa và đã chuyển gần như hoàn toàn từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị
trường có sự quản lý của nhà nuớc. Thế giới đang xảy ra sự bùng nổ tri thức
và khoa học công nghệ. Muốn xây dựng đất nước phồn vi
nh thịnh vượng ở
thế kỉ này tất yếu phải dựa vào thi thức, vào tư duy sáng tạo, vào tài năng
sáng chế của con người. Hiện nay, nước ta vẫn chưa thoát khỏi danh sách các
nước nghèo trên thế giới. Để có thể vươn lên được, chúng ta không chỉ học
hỏi các nước tiên tiến mà còn phải biết áp dụng kinh nghiệm đó một cách
sáng tạo và phải biết tìm ra con đường phát triển riêng phù hợp với hoàn cảnh
thức khoa học và công nghệ hiện đại. Có tư duy sáng tạo, có kĩ năng thực
hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức và kỷ luật.
- Có sức khỏe.
Giáo dục không phải chỉ hướng đến những yêu cầu mà xã hội đặt ra cho
người lao động m
à còn phải quan tâm đến quyền lợi, nguyện vọng, năng lực,
sở trường của cá nhân. Sự phát triển đa dạng của cá nhân sẽ dẫn đến sự phát
triển mau lẹ, toàn diện, đa dạng và hài hòa của xã hội.
1.2. Mục tiêu dạy học môn vật lý ở trường trung học phổ thông trong
giai đoạn mới
1.2.1. Về kiến thức
- Học sinh phải có những kiến t
hức phổ thông về các hiện tượng, quá
trình vật lý quan trọng thường gặp nhất trong cuộc sống hàng ngày, trong tự
nhiên và trong kỹ thuật.
- Học sinh phải có những kiến thức khoa học chung (khái niệm, định
luật, nguyên lý, phương pháp…) được sử dụng nhiều trong các ngành khoa
học kỹ thuật, công nghệ và đời sống.
- Kiến thức mà học sinh nắm được phải phù hợp với tinh thần của các
thuyết vật lý, m
ang tính cập nhật và ứng dụng.
- Hệ thống kiến thức vật lý của học sinh ở THPT(chủ yếu là Vật lý cổ
điển và một số thành tựu của các lĩnh vực Vật lý hiện đại: Điện từ học, Vật lý
lượng tử, Vật lý chất rắn, Vật lý hạt nhân, vũ trụ…) là nền tảng, là cơ sở để
các em có thể tiếp tục học lên đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp
hoặc vận dụng vào t
rong đời sống, lao động sản xuất một cách khoa học hiệu
quả.
1.2.2. Về kỹ năng
Việc tổ chức dạy học vật lý ở trường THPT cần rèn luyện cho học sinh
trong lành.
- Có lòng yêu thích bộ môn vật lý và mở rộng ra là yêu thích sự hài hòa
của tự nhiên.
1.2.4. Phương pháp nhận thức vật lý
Hiện nay, trong trường phổ t
hông thường áp dụng phương pháp nhận
thức vật lý phổ biến sau: phương pháp thực nghiệm, phương pháp tương tự,
phương pháp mô hình, phương pháp thí nghiệm lý tưởng.
Trong khi áp dụng các phương pháp nhận thức vật lý, giáo viên thường
phải phối hợp sử dụng với phương pháp suy luận logic như phân tích, tổng
hợp, quy nạp, diễn dịch…Những phương pháp suy luận logic này được sử
dụng trong tất cả các quá trình nhận thức.
1.2.5. Định hướng về phương pháp dạy học
- Dạy bằng hành động, thông qua hành động.
- Theo hướng phát hiện và giải quyết vấn đề.
- Nêu giả th
uyết và kiểm chứng bằng thực nghiệm.
- Sử dụng phương pháp mô hình và tương tự.
- Khắc phục hiểu biết sai hoặc chưa đầy đủ.
- Tăng cường dạy học theo nhóm và cá thể hóa.
- Đa dạng hóa hoạt động học tập trong và ngoài lớp học.
1.3. Các nhiệm vụ cụ thể của hoạt động dạy học vật lý ở trường trung
học phổ thông [6]
- Nhiệm vụ thứ nhất l
à cung cấp cho học sinh một hệ thống các kiến
thức vật lý cơ bản, khoa học, hiện đại và kỹ năng kỹ xảo tương ứng nhằm làm
nền tảng cho các họ có thể tham gia lao động sản xuất và tiếp tục theo học
những chuyên nghành khoa học kỹ thuật cao
hơn ở bậc đại học, cao
đẳng…hoặc tự học, tự bồi dưỡng trong quá trình lao động, sản xuất.
luận, làm thí nghiệm…
Hoạt động tự học có thể diễn ra theo nhiều cách khác nhau:
- Tự học không có sự điều khiển trực tiếp của giáo viên: người học tự
học qua sách vở, tài liệu tham
khảo hoặc qua các phương tiện thông tin. Ở
đây, người học tự học một cách
độc lập hoàn toàn.
- Tự học có hướng dẫn từ xa: người học có sách, tài liệu hướng dẫn học
tập, hay có sự hướng dẫn thông qua các phương tiện thông tin như băng ghi
hình, ghi tiếng, ti vi, mạng Internet… Thông qua sự hướng dẫn từ xa đó, học
sinh tự mình tiến hành các hoạt động học tập để hoàn thành các nhiệm vụ đề
ra.
- Tự học có sự hướng dẫn của giáo viên: giáo viên hướng dẫn trên lớp và
giao nhiệm vụ, học sinh tự học ở nhà, giải quyết các nhiệm vụ học tập mà
giáo viên giao cho.
Trong quá trình đào tạo, tự học là một yếu tố có giá trị quyết định kết quả
học tập của học sinh.
Vì vậy, nếu không hình thành và phát huy vai trò tự học
của người học thì mục tiêu đào tạo sẽ không thực hiện được.
Thực tế dạy học cho thấy, phương pháp giảng dạy của giáo viên mới là
yếu tố quyết định cách học của học sinh, điều đó đòi hỏi mỗi giáo viê
n phải
tìm tòi, suy nghĩ, sử dụng hình thức dạy học nào để hình thành và phát triển
năng lực tự học cho mỗi học sinh.
Hiện nay, học sinh thường xuyên truy cập Internet nhưng với mục đích
chủ yếu là chat, mail, xem phim, nghe nhạc, game… Ít ai trong số đó truy cập
để tìm tài liệu phục vụ cho học tập.
Như vậy Internet đã phản tác dụng giáo
dục. Đã không ít giáo viên cho rằng học sinh hư là do Internet. Có rất nhiều
- Phân tích các thông tin thu thập được từ đối tượng nghiên cứu theo các
mục đích khác nhau của học sinh.
- Giúp học sinh kiểm tra các dự đoán (giả thuyết) khoa học đã đề xuất.
Trong thời đại công nghệ thông tin phát triển như vũ bão này, nhiều
phương tiện dạy học mới ra đời. Cùng với việc ra đời các phương t
iện dạy
học mới này, trong quá trình sử dụng, do tính đa dạng, do các đặc điểm và
chức năng, mục đích sử dụng khác nhau mà phương tiện dạy học nói chung
và dạy học vật lý nói riêng được phân loại như sau:
1.5.1. Phân loại phương tiện dạy học vật lý
- Phương tiện dạy học vật lý truyền thống: sách, báo, tạp chí, tranh ảnh
(dưới dạng ấn phẩm) phấn, bảng đen, phim
dương bản, phim đèn chiếu, thí
nghiệm thật,…
- Phương tiện dạy học vật lý số: Projector, đầu DVD, VCD, camera
số,…
Phương tiện dạy học vật lý
PTDH (VL) số
PTDH (VL) truyền thống
PTDH (VL) số mềm
(Dữ liệu số dưới dạng văn bản, hình ảnh, hình
không có tính tương tác
(Phần mềm mô phỏng và các phương
tiện hỗ trợ TN VL)
(Dữ liệu số dưới dạng văn bản,
hình ảnh, hình vẽ, mô hình, biểu
bảng, biểu đồ, đồ thị, video clips...)
Phần mềm mô phỏng
Phương tiện hỗ
trợ TNVL
(Crocodile, PhenOpt hay Dao động
và sóng cơ học, dòng điện xoay
chiều, Quang hình học – mô phỏng
và thiết kế...
)
TN ghép nối với MVT
Phần mềm phân tích băng hình
(của hãng Phywe, Leybold, Pasco,
v.v... hay của khoa VL, ĐHSP Hà
Nội, Viện VL Kỹ thuật ĐH Bách
khoa)
(Videopoint, Cuple, Diva, hay Galieo
phiên bản 1,1 tiếng việt, Phân tích
Video...)
1.5.2. Vai trò của các phương tiện dạy học hiện đại
- Theo quan điểm duy vật biện chứng, Lenin chỉ ra con đường biện
chứng của nhận thức là : “ Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, rồi
từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của nhận thức
chân lý, nhận thức hiện tượng khách quan”.
Như vậy, phương tiện dạy học đóng vai trò to lớn trong việc nâng cao
hút được sự chú ý của học sinh, gíup làm sinh động nôi dung học tập. Không
chỉ có thế, nó còn cần thiết để góp phần phát triển hứng thú, tính tích cực chủ
động trong học tập, giúp phát
triển năng lực nhận thức, năng lực quan sát
,năng lực(phân tích, tổng hợp, phê phán…) của học sinh.
- Phương tiện dạy học có thể giúp thực hiện có hiệu quả các phương
pháp dạy học mới trong đó ta có thể đặt ra các tình huống bắt buộc và hướng
dẫn học sinh từng bước động não, tăng cường hoạt động trí tuệ, suy nghĩ,
phán đoán… giúp phát triển trí tuệ sáng tạo của học sinh.
1.5.3. Sử dụng multimedia trong giảng dạy Vật lý
Sự bùng nổ của công nghệ thông tin nói ri
êng và khoa học công nghệ nói
chung đang tác động mạnh mẽ vào sự phát triển của tất cả các ngành trong
đời sống xã hội. Trong bối cảnh đó, nếu muốn nền giáo dục phổ thông đáp
ứng được đòi hỏi cấp thiết của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, nếu muốn việc dạy học t
heo kịp cuộc sống, chúng ta nhất thiết phải cải
cách phương pháp dạy học theo hướng vận dụng CNTT và các thiết bị dạy
học hiện đại phát huy mạnh mẽ tư duy sáng tạo, kỹ năng thực hành và hứng
thú học tập của học sinh để nâng cao chất lượng đào tạo.
Multimedia là gì?
Multimedia là các thông tin dưới dạng: Hình ảnh, âm thanh, phim, phần
mềm mô phỏng, thí nghiệm ảo...
Tại sao cần sử dụng multimedia trong giảng dạy Vật lý?
Theo Tô Xuân Gi
áp - Phương tiện dạy học-NXB GD 1998, hiệu quả
tiếp thu kiến thức khi :
Học với các giác quan
40%
50%
60%
70%
80%
90%
100%
MUL
T
IMEDIA
Biểu đồ 1.2: Kiến thức tiếp thu được qua các hình thức học tập
Như vậy, học sinh tiếp thu kiến thức khi nhìn nhiều hơn nghe và hiệu
suất sẽ cao hơn khi kết hợp cả nghe và nhìn. Như ông cha ta có câu: “Trăm
nghe không bằng mắt thấy”. Khi chỉ nghe, sự tiếp thu kiến thức phụ thuộc vào
vốn kinh nghiệm của mình học sinh, hiệu quả của kinh nghiệm và năng khiếu
của người thầy. Nếu không có trí tưởng tượng tốt học sinh sẽ rất khó hình
dung các sự vật, hiện tượng mà giáo viên trình bày. Do đó, khi
dạy học nhiều
đối tượng, giáo viên nên tạo ra hai kênh giao tiếp: hình ảnh và lời nói.
Vật lý nghiên cứu sự vận động của vật chất. Mà sự vận động này vô
cùng phong phú và đa dạng. Không thể hiện tượng vật lý nào giáo viên cũng
có thể mô tả bằng lời mà học sinh có thể hình dung được, mà không thể thí
nghiệm vật lý nào cũng có thể thực hiện cho học sinh xem hay thực hành trên
lớp do thời lượng tiết học không cho phép, cơ sở vật chất của phòng thí
nghiêm chưa đáp ứng được yêu cầu bài học… Nên việc dùng máy tính hỗ trợ
hình ảnh, âm thanh, phim và phần mềm mô phỏng các hiện tượng, thí nghiệm
vật lý… là giải pháp vô cùng hữu hiệu cho dạy học vật lý.
làm việc – clients) nối vào nó. Các mạng khác, có quy mô lớn hơn, bao gồm
nhiều máy chủ và cho phép bất kỳ một máy tính nào trong mạng có thể kết
nối với bất kỳ máy nào khác để trao đổi thông tin với nhau một cách thoải
mái.
Một khi đã được kết nối vào Internet, máy tính của bạn sẽ là một trong
số hàng chục triệu thành viên của mạng khổng lồ này.
Máy chủ Hình 2.1: Mô phỏng sự kết nối giữa máy khách và máy chủ
Góc độ thông tin và ứng dụng: Internet là tên của một nhóm tài
nguyên thông tin như dữ liệu, hình ảnh, hình ảnh động, phim, âm thanh,…trên
khắp thế giới, nó được bổ sung, luân chuyển và sử dụng bởi mọi người trên
toàn thế giới.
Mạng của các trường đại học và viện nghiên cứu là những thành viên
lâu đời nhất của Internet.
2.1.2. Sơ đồ kết nối của Internet Nhánh mạng
Sơ đồ 2.1: Mô hình kết nối Internet.
khách
Yêu cầu
trường dạy học cũng thay đổi, nó tác động mạnh mẽ tới mọi thành tố của quá
trình quản lý, giảng dạy, đào tạo và học tập dựa trên sự hỗ trợ của
hệ thống