B GIO DC V O TO B Y T
I HC HU
TRNG I HC Y - DC
PHAN PHC DUYấN
ĐáNH GIá TìNH TRạNG BéO PHì ở NGƯời dân
trong độ tuổi 30-60 tuổi tại xã triệu trung
huyện triệu phong tỉnh quảng trị
LUN VN BC S CHUYấN KHOA CP I
Y T CễNG CNG
Hu, 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC
PHAN PHƯỚC DUYÊN
ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG BÉO PHÌ Ở NGƯỜI DÂN
TRONG ĐỘ TUỔI 30-60 TUỔI TẠI XÃ TRIỆU
TRUNG HUYỆN TRIỆU PHONG TỈNH QUẢNG TRỊ
LUẬN VĂN BÁC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
Y TẾ CÔNG CỘNG
CHUYÊN NGÀNH : Y TẾ CÔNG CỘNG
Mã số: 60 72 76
Người hướng dẫn khoa học
ThS. BS. CKII. VÕ THỊ DIỆU HIỀN
Huế, 2011
Lời cảm ơn
Tôi xin chân thành cảm ơn:
Đảng ủy, Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo sau
đại học Khoa Y tế Công cộng trường Đại học Y
Dược Huế đã tận tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện
thuận lơi nhất cho tôi được học tập, nghiên cứu
trong suốt khóa học.
Nếu có gì sai trái tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.
NGƯỜI CAM ĐOAN
Phan Phước Duyên
KÝ HIỆU VIẾT TẮT
AACE: Americam Assocition of Clinical Endocrinologists
Hiệp hội các nhà Nội tiết lâm sàng Hoa Kỳ
ASD : Abdominal Sagittal Diamater3 ( Chỉ số dày bụng)
BP : Béo phì
BMI : Body Mas Index ( Chỉ số khối cơ thể)
DXA : Dual energy X ray Absortiometry
Kỹ thuật đo độ hấp thu tia X năng lượng kép
EGIR : European Group for the Dtudy of Insulin Resistance
Nhóm nghiên cứu Châu Âu về đề kháng Insulin
IDF : International Diabetes Federation
Liên đoàn Đái Tháo đường quốc tế
NCEP: National Cholesterol Education Program
Chương trình giáo dục Quốc gia về Cholesterol
SD : Standard Deviation ( Độ lệch chuẩn)
TCBP: Thừa cân béo phì
TLCB: Tỷ lệ chất béo
VB/VM: Vòng bụng/Vòng mông
WHO : World Health Organization ( Tổ chức Y tế thế giới)
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thừa cân và béo phì đã tăng lên đến mức báo động trên toàn thế giới. Chỉ
trong 2 - 3 thập niên qua, béo phì đã tăng gấp 2- 6 lần ở hầu hết các nước phát
triển, với ước tính khoảng 10 - 25% dân số. Tính đến năm 2003 có trên 300
triệu người bị béo phì và 1,7 tỷ người thừa cân trên tổng số 6 tỉ dân cư trên
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
Nhân trắc học được nghiên cứu từ khi con người biết chiều cao và trọng
lượng của mình. Nhưng đến đầu thế kỷ XX, bên cạnh sự phát triển của các
ngành khoa học khác, đặc biệt là thống kê sinh học, nhân trắc học mới có bước
phát triển rõ rệt hơn.
Vào khoảng thập niên 1960 - 1970, các chỉ số về nhân trắc đã được ứng
dụng nhiều trong y học để đánh giá tình trạng béo phì, trình trạng suy dinh
dưỡng, nhân trắc học trong bệnh đái tháo đường, ung thư, tim mạch
Ở Việt Nam, vào những năm 30 của thế kỷ XX, tại Ban nhân học thuộc
Viễn Đông Bác Cổ, nhân trắc học mới bắt đầu được nghiên cứu.
Sau hội nghị hằng số sinh học người Việt nam, tập “456167
83.” ra đời, do Nguyễn Tấn Gi Trọng làm chủ biên (1975) và
“97:;6<=83.” do Nguyễn
Quang quyền làm chủ biên (1974) ra đời làm nền tảng cho việc nghiên cứu
nhân trắc học ở nước ta trong những thập biên tiếp theo.
Sau ngày thống nhất đất nước 30/04/1975, việc nghiên cứu nhân trắc trên
phạm vi toàn quốc là cần thiết, do đó nhiều công trình nghiên cứu về nhân trắc
học đã ra đời, các công trình nghiên cứu ở người lớn ra đời như: Trần Đình
Toán (1997) nghiên cứu về một số chỉ tiêu nhân trắc dinh dưỡng của cán bộ
viên chức trên 45 tuổi qua 3 lần điều tra: 1990, 1993,1996, Dzoãn Thị Tường
Vi, Đỗ Y Na, Nguyễn Lan Hương ( 2001) nghiên cứu về tình trạng thừa cân và
các yếu tố nguy cơ ở người trưởng thành, Trần Thị Xuân Ngọc, Từ Ngữ, Lê
Thị Hợp (2002) nghiên cứu thực trạng thừa cân và béo phì ở phụ nữ 20 - 59
tuổi tại Quận Ba Đình- Hà Nội, Nguyễn Đình Toàn, Hoàng Khánh (2004)
nghiên cứu về chỉ số nhân trắc mới trong chẩn đoán béo phì ở người lớn hay Lê
Văn Bàng (2004) nghiên cứu về tình hình béo phì ở đối tượng trên 15 tuổi tại
Thành phố Huế - Việt Nam.
Nguyễn Thị Liên (2010) nghiên cứu tình hình thừa cân béo phì của người
lớn trong cộng đồng dân cư tại Tỉnh Quảng Nam, tỷ lệ thừa cân, béo phì theo
tạm thời cho đến khi có những dữ liệu tham khảo tốt hơn. [3], [7], [9]. Bách
phân vị (Percentile) là số phần trăm của các cá thể trong nhóm mà những cá thể
này đã đạt đến một mức tăng trưởng hoặc một mốc đo lường về lượng nào đó
( ứng với một cột cao 95cm). Đối với số liệu nhân trắc, các ngưỡng bách phân
vị có thể được tính toán từ trung bình và độ lệch chuẩn [3],[9].
Ở trẻ em, BMI ≥ 85 bách phân vị (85th Percentile) so với quần thể tham
chiếu NCHS/WHO thì được xem là thừa cân và ≥ 95bách phân vị ( 95th
Percentile) là béo phì. Ngoài ra nếu BMI ≥ 85 bách phân vị và bề dày nếp gấp
da> 90 bách phân vị cũng được xem là béo phì [9]
Ngoài ra người ta còn sử dụng việc đo bề dày nếp gấp da để loại trừ các
trường hợp thừa cân do phát triển khối nạc. Hai vị trí: nếp gấp da cơ tam đầu
và góc dưới xương bả vai [27]. Gọi là béo phì ở một trẻ vừa có thừa cân vừa có
nếp gấp da cơ tam đầu và góc dưới xương bả vai> 90 bách phân vị so với quần
thể tham chiếu NCHS [4],[
1.3. PHÂN LOẠI BÉO PHÌ
Có thể phân loại béo phì đơn thuần như sau:
1.3.1. Phân loại béo phì dựa theo đặc điểm giải phẫu và sự
phân bố của mô mỡ
- Béo bụng (béo trung tâm, béo phần trên, béo dạng quả táo (apple –
shaped) hay còn gọi là béo kiểu đàn ông (android obesity): là dạng BP có mỡ
tập trung chủ yếu ở vùng bụng.
- Béo mông ( béo ngoại vi, béo phần dưới, béo dạng quả lê (pear – shaped)
hay còn gọi là béo kiểu đàn bà ( gynoid obesity): là dạng béo phì có mỡ tập
trung chủ yếu ở vùng mông và đùi.
- Béo phì hỗn hợp: trường hợp này mô mỡ phân bố khá đồng đều. Các
trường hợp béo phì nặng và rất nặng thường là béo phì hỗn hợp.
Nguy cơ bệnh tật và tử vong đối với dạng béo phì có khác nhau. Béo phì
kiểu đàn ông bị mặc bệnh đái tháo đường và các bệnh tim mạch cao hơn nhiều
so với béo phì kiểu đàn bà [3]
1.3.2. Phân loại béo phì dựa theo tuổi khởi phát:
Theo Mayer J. (1995) thì nếu cả bố lẫn mẹ đều bị béo phì thì có 80% con
họ sẽ bị béo phì. Nếu một trong hai người có béo phì thì 40% con họ sẽ có béo
phì. Ngược lại, nếu cả bố và mẹ bình thường thì khả năng các con béo phì chỉ
chiếm 7% [11].
1.4.4. Yếu tố kinh tế xã hội:
Ở các nước nghèo, sự tiếp cận thực phẩm hạn chế, người béo là biểu hiện
của sự giàu có sung túc, hấp dẫn giới tính nên người dân có xu hướng ăn nhiều
khi có đủ điều kiện. Người ta tin rằng béo là khỏe mạnh nên ăn nhiều nên đã
dẫn đến béo phì.
1.4.5. Ngủ ít:
Ngủ ít cũng được tìm thấy như một yếu tố nguy cơ cao ở người thừa cân
từ 30- 40 tuổi. Nguyên nhân chưa rõ, nhưng theo một số tác giả, có thể đây là
một phản ánh của kiểu sống gia đình, ăn ngủ thiếu điều độ đã gây nên TC-BP
[13]
1.5. CÁC HẬU QUẢ CỦA BÉO PHÌ ĐỐI VỚI SỨC KHỎE :
Bất kỳ lứa tuổi nào của người béo phì nguy cơ tử vong cũng tăng. Ngoài
ra, béo phì thường gây ra (hoặc kèm theo) tăng nguy cơ bệnh tim mạch, tăng
insulin máu, rối loại lipid máu, tăng huyết áp, giảm dung nạp glucose, đái
đường v.v Người béo phì nhiều lúc ngừng thở khi ngủ, có khi dẫn đến đột tử.
Khi giảm cân, các nguy cơ trên cũng giảm. Dưới đây là bảng liệt kê những hậu
quả do béo phì gây ra: [11].
1.5.1.Về mặt cơ học
Viêm xương khớp, ngừng thở từng lúc khi ngủ, dãn tĩnh mạch và phù
bạch huyết.
1.5.2. Về chuyển hóa và nội tiết
Rối loạn Lipid máu thứ phát, tăng Insulin máu, giảm dung nạp glucose và
bệnh đái đường không phụ thuộc Insulin.
1.5.3. Bệnh tim mạch
- Béo phì làm gia tăng toàn thể nguy cơ bệnh tim mạch
- Béo phì làm tăng gánh tim
khoảng 300.000 người chết có liên quan đến béo phì, so với 400.000 người
chết do hút thuốc là [23].
Hoạt động thể lực và trí lực ở người BP thường kém hơn người bình
thường: Theo Nancy hoạt động thể lực 5 lần kém hơn người bình thường [25].
1.6. DỰ PHÒNG BÉO PHÌ
Dự phòng tốt để khỏi bị BP được đánh giá là rẻ tiền và hiệu quả hơn nhiều
so với việc điều trị béo phì [3]. Các can thiệp nhằm mục tiêu kiểm soát và dự
phòng béo phì phải nên được thiết kế một cách cẩn trọng để tránh làm bùng nổ
các rối loạn liên quan đến ăn uống do sự lo sợ quá mức bệnh béo phì,
Kiểm soát béo phì bao gồm 4 chiến lược cơ bản:
- Dự phòng tăng cân
- Khuyến khích duy trì cân nặng hiện tại
- Kiểm soát bệnh tật đồng hành với béo phì.
- Khuyến khích giảm cân
1.7. TỶ LỆ MẮC BỆNH THỪA CÂN BÉO PHÌ
Béo phì là một bệnh mãn tính, phổ biến, một nạn dịch leo thang không
những ở các nước phát triển mà ở cả những nước đang phát triển, nó ảnh
hưởng đến nhiều nhóm dân cư, cả trẻ em cũng như người trưởng thành [17],
[22].
Ở Hoa Kỳ trong hơn 2 thập kỷ qua béo phì được nhận định là một bệnh
dịch. Hiện nay tỷ lệ thừa cân và béo phì ở người lớn là 61% và ở trẻ em là 14%
[23]. BP tấn công trên cả 2 giới, mọi lứa tuổi, mọi chủng tộc, dân tộc [23].
Năm 2001 ở Georgia ( Hoa Kỳ), tỷ lệ béo phì là 19,8% tăng 61% so với
1991.
Theo thông báo của Giám đốc Viện Đái đường quốc tế (IDI) ở Melbourne
(Úc) tháng 4/2001 có 40% số người Úc thừa cân và 20% khác bị béo phì.
Ở Việt Nam, bên cạnh tỷ lệ thiếu dinh dưỡng vấn còn khá cao, Theo số
liệu của FAO 1990, tỷ lệ béo phì chung ở thành phố nước ta là 1,57%, tăng gần
gấp 4 lần so với năm 1985 là 0,4% [12].
Béo phì là nạn dịch toàn cầu không những là vấn đề y tế xã hội quan trọng
Có một xu hướng chung là trọng lượng cơ thể con người tăng tỉ lệ thuận
với chiều cao: người càng cao có trọng lượng càng cao do đó một người gầy
nhưng cao sẽ có khả năng trọng lượng cơ thể lớn hơn một người béo nhưng
thấp, chính vì thế trọng lượng cơ thể có thể đôi khi phản ánh sai độ béo gầy của
cơ thể. Vì vậy chỉ số khối cơ thể (BMI) ra đời, BMI là một đại lượng nhằm mô
tả trọng lượng tương đối của cơ thể nhờ đó mới đánh giá được độ béo gầy một
cách chính xác.
Chỉ khối cơ thể (BMI) được tính như sau:
2
H
P
BMI
Trong đó:
P: trọng lượng cơ thể, có đơn vị là kilogam (kg)
H: chiều cao đứng cơ thể, có đơn vị là mét (m)
Ở người trưởng thành từ 18 - 60 tuổi, BMI tương đối ổn định nên người ta
đã sử dụng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng. Theo phân loại của tổ chức y tế
thế giới (WHO) 2000 để đánh giá tình trạng dinh dưỡng dựa vào BMI đối với
cộng đồng Á Châu như sau:
BMI Phân loại
< 18,5 Hơi gầy
18,5 - 22,9 Bình thường
23,0 - 24,9 Thừa cân
25,0 - 29,9 Béo phì độ I
≥ 30,0 Béo phì độ II
1.8.4. Số đo vòng bụng.
Số đo vòng bụng được sử dụng được sử dụng để đánh giá sự phân bổ mỡ
của cơ thể một cách khá chính xác, do đó, ngoài việc số đo vòng bụng được sử
dụng để đánh giá béo phì dạng nam thì tổ chức y tế thế giới (WHO) hay hiệp
hội các nhà nội tiết làm sàn Hoa Kỳ (AACE) cũng như nhóm nghiên cứu Châu
bán nhỏ chiếm ưu thế nên nhìn chung đời sống của nhân dân vẫn ở mức trung
bình với thu nhập bình quân đầu người khoảng 10.650.000đ/ người/năm.
Trên địa bàn xã có nhiều tôn giáo khác nhau cùng sinh sống, bao gồm:
Phật giáo, thiên chúa giáo nên tự do tín ngưỡng cũng phong phú và đa dạng.
Xã có các loại hình giao thông khá đa dạng, bao gồm: giao thông bằng
đường bộ, đường Sông, đặc biệt nhờ hệ thống sông ngòi khá phong phú nên rất
thuận tiện trong giao thông với các vùng lân cận bằng đường thuỷ [14].
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.
Đối tượng nghiên cứu gồm người trưởng thành từ 30 - 60 tuổi ở trên địa
phương xã Triệu Trung, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.
Các đối tượng trong mẫu nghiên cứu hiện tại khoẻ mạnh, không bị dị dạng
về hình thái như gù, vẹo cột sống
2.2. THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
2.2.1. Thời gian nghiên cứu
Thời gian được tiến hành từ 03/2011 đến 5/2011
2.2.2. Địa điểm nghiên cứu
Xã Triệu Trung, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.
2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành theo thiết kế ngang mô tả, có phân tích
2.3.2. Nguyên tắc chọn mẫu
Chọn mẫu theo nguyên tắc ngẫu nhiên đơn, đại diện cho quần thể nghiên
cứu.
2.3.3. Cỡ mẫu
Sử dụng công thức tính cỡ mẫu:
n =
Z
2
- Chuẩn bị: tập huấn kỹ về kỹ thuật cân, đo và cách ghi vào mẫu phiếu
điều tra dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn.
- Tiến hành điều tra
+ Kỹ thuật đo đạc
>BCAD3: đối tượng được đo bỏ guốc, dép, đi chân
không, tư thế đứng nghiêm, quay lưng vào điểm tựa là một mặt phẳng đứng
vuông góc với sàn. Dùng thước đo từ điểm thấp nhất của bàn chân đến điểm
cao nhất của đỉnh đầu, đọc kết quả và ghi vào phiếu điều tra.
>BCA7EF
Sử dụng cân đồng hồ của Nhơn Hoà, được kiểm tra và chỉnh trước khi
cân, đối tượng mặt quần áo thường, không mang dày dép, đứng thẳng giữa bàn
cân, không cử động, hai tay buông thẳng, mắt nhìn thẳng để trọng lượng phân
bố đều lên cả hai chân.
Kết qủa đọc được ghi ngay vào phiếu.
>BCA:G=F
Đối tượng được đo đứng thẳng, thở nhẹ, hai chân rộng bằng vai, mặc áo
mỏng thường, dùng thước dây đo vòng ngang qua rỗn. Đối với những người
bụng xệ thì đo qua trung điểm thấp nhất của xương sườn XII và đỉnh của gai
chậu trước trên [9].
Bảng 2.1: Tiêu chuẩn đánh giá béo phì theo các nước Châu Á
Thái Bình Dương/ASEAN
Loại BMI
Gầy < 18,5
Bình thường 18,5 – 22,9
Thừa cân 23 - 24,9
Béo phì ≥ 25
Béo phì độ 1 25 - 29,9
Béo phì độ 2 ≥ 30
[4],[7].
* Đo vòng bụng và tiêu chuẩn chẩn đoán béo phì dạng nam
H: chiều cao đứng cơ thể, có đơn vị là mét (m)
- Số đo vòng bụng (VB), đơn vị tính là centimet (cm)
- Tỉ vòng bụng/vòng mông (VB/VM)
- Tỉ lệ chất béo (TLCB), được tính theo công thức
TLCB 63,7 - 735/BMI + 0,029 x tuổi đối với nữ
TLCB 51,6 - 735/BMI + 0,029 x tuổi đối với nam
Trong đó:
TLCB có đơn vị tính là phần trăm (%)
Tuổi có đơn vị tính là năm.
2.4.1. Tiêu chuẩn kết luận thừa cân và béo phì
2.4.1.1.Tiêu chuẩn đánh giá tnh trng dinh dưỡng dựa vào BMI theo phân
loi của t chức y tế thế giới (WHO) áp dụng cho cng đồng Châu Á [6].
BMI Phân loại
< 18,5 Hơi gầy
18,5 - 22,9 Bình thường
23,0 - 24m9 Thừa cân
25,0 - 29,9 Béo phì độ I
≥ 30,0 Béo phì độ II
2.4.1.2. Đánh giá béo ph dng nam dựa vào vòng bụng (VB) theo liên đoàn
đái tháo đưng quốc tế (IDF) 2005 đối với ngưi Châu Á [27].
+ VB ≥ 90 cm ở nam giới