SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CÁCH
MẠNG TƯ SẢN TRONG
DẠY HỌC LỊCH SỬ THCS Phần 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
Trong dạy học lịch sử, nắm vững kiến thức khoa học, có nghĩa là phải nắm
vững các khái niệm khoa học, hệ thống các khái niệm khoa học.
Khái niệm lịch sử bao giờ cũng ở mức độ trừu tượng khá cao, vì nó không
chỉ phản một sự kiện đa dạng riêng rẽ hay một nhóm sự kiện mà còn phản ánh
những hiện tượng phức tạp đa dạng về mặt kinh tế, xã hội, chính trị…, những
quan hệ của con người với thiên nhiên, của con người với nhau trong quá trình lao
động sản xuất và đấu tranh giai cấp.
Trong dạy học chương trình lịch sử THCS nói chung, bộ môn lịch sử lớp 8
nói riêng, giáo viên và học sinh cũng bắt gặp không ít các khái niệm lịch sử như
“Cách mạng tư sản”, “cách mạng vô sản”, “cách mạng dân chủ tư sản”, “cách
mạng tư sản dân chủ tư sản kiểu mới”…, Trong đó, khái niệm về “cách mạng tư
sản” là nội dung còn chứa đựng nhiều vấn đề đáng quan tâm cho nhiều giáo viên
hiện nay.
Vậy, cách mạng tư sản là gì? Tính chất, nhiệm vụ của cách mạng? giai cấp
chế độ phong kiến. Tóm lại: cách mạng tư sản là cuộc cách mạng do giai cấp tư
sản lãnh đạo nhằm lật đổ chế độ phong kiến thiết lập chế độ tư bản chủ nghĩa, mở
đường cho nền kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển.
II. Một số cuộc cách mạng tư sản điển hình.
1. Cách mạng Anh giữa thế kỉ XVII.
1.1. Nguyên nhân bùng nổ.
1.1.1. Tiền đề về kinh tế.
Vào đầu thế kỉ XVII, nước Anh có nền kinh tế phát triển nhất châu Âu.
Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển mạnh mẽ, nhất là miền Đông Nam.
Các công trường thủ công sản xuất hàng len dạ, đồ dùng bằng sắt, bằn sứ…ngày
càng tăng tiến về số lượng và chất lượng sản phẩm. Ngoại thương cũng phát triển,
kể cả việc buôn bán nô lệ da đen.
Nhưng nét nổi bật của kinh tế Anh là sự thâm nhập mạnh mẽ của chủ nghĩa
tư bản vào nền kinh tế nông nghiệp, nghĩa là nông thôn Anh sớm liên hệ với thị
trường, và hàng hóa chủ yếu để sản xuất không phải là lương thực mà là len dạ.
Ngành len dạ phát triển làm cho giá lông cừu tăng vọt và nghề nuôi cừu đem lại
nhiều lợi nhuận. Thế là nhiều địa chủ vốn quý tộc chuyển hướng kinh doanh theo
lối tư bản chủ nghĩa, đuổi tá điền đi, biến ruộng đất thành đồng cỏ, rồi thuê nhân
công nuôi cừu lấy len cung cấp cho thị trường. Quá trình “rào đất cướp ruộng”,
hay như Tomats Mở đã miêu tả hiện tượng “cừu ăn thịt người” làm nảy sinh tầng
lớp quý tộc tư sản hóa và trở nên giàu có. Ngược lại hàng triệu nông dân bị mất
đất và phá sản phải bán sức cho nhà tư sản. Ăngghen cũng đã chỉ ra rằng, nếu cuộc cách mạng trong nông nghiệp kiểu Anh nảy sinh tầng lớp quý tộc mới, đem
lại sự giàu có cho họ, thì ngược lại đã đem đến cho giai cấp nông dân tai họa
khủng khiếp ít thấy ở nơi khác.
Dừng lại ở tiền đề này, ta thấy: tính tư sản đã được nảy sinh, rằng các địa
chủ vốn là quý tộc đã kinh doanh theo lối tư bản chủ nghĩa, nhờ đó họ đã nhanh
chóng giàu lên – điều này có nghĩa không tồn tại trong phương thức sản xuất
hộ của nhân dân, với “đội quân sườn sắt” và tài thao lược của Ôlivơ Crômoen đã
đánh bại quân đội của nhà vua. Dưới áp lực của nhân dân, vua Sáclơ I bị đưa ra
xử tử (9/2/1649) tại Lâu đài trắng – một việc chưa từng thấy trong lịch sử nước
Anh. Anh trở thành nước cộng hòa.
Tuy nhiên, sau cách mạng mọi thành quả lại rơi vào giai tay giai cấp tư sản,
không đáp ứng được nguyện vọng của nông dân. Crômoen được đưa lên làm “Bảo
hộ công”, thiết lập chế độ quân sự độc tài.
Sau khi Crômoen chết, quý tộc mới và tư bản lại đưa con Sáclơ I lên làm
vua, thiết lập lại chế độ quân chủ. Trước tình hình đó, quốc hội tổ chức cuộc chính
biến và lật đổ dòng Xtiuớt, đưa Vinhem Ôrăngiơ lên làm vua. Chế độ quân chủ
lập hiến ra đời ở Anh. Như vậy, xu hướng quân chủ đã thắng xu thế cộng hòa và
thái độ của tư sản đã bộc lộ rõ khi quyền lợi đã được dung hòa trong chế độ quân
chủ lập hiến.
Tiến trình cách mạng cũng đã cho thấy tính chất phức tạp, vai trò “chủ đạo”
và biến cố của sự kiện là tư sản – tùy vào năng lực của mình.
2. Cách mạng Pháp (1789 – 1794)
2.1. Nguyên nhân.
2.1.1. Tiến đề kinh tế.
Cuối thế kỉ XVIII, Pháp vẫn là nước phong kiến, và về cơ bản là một nước
nông nghiệp lạc hậu.Công cụ canh tác thô sơ, năng suất cây trồng thấp, gia súc
lớn hiếm, phân bón thiếu. Sự bóc lột phong kiến là gánh nặng đối với nông dân.
Công nghiệp Pháp đến cuối thế XVIII tuy còn kém Anh nhưng đã phát
triển. Các thành thị lớn lên cùng với việc sản xuất và và xuất khẩu tơ lụa, vải,
hàng thêu len, thảm, việc sử dụng máy móc đã phổ biến trong công nghiệp…
Công nghiệp chiếm vị trí quan trọng nhưng bị chế độ phong kiến kìm hãm. Nội
thương cũng gặp nhiều khó khăn bởi chế độ thuế quan và hệ thống đo lường chưa
thống nhất.
2.1.2. Tiền đề về chính trị: Vua Lu-i có quyền tối cao và vô hạn.
2.1.3. Tiền đề về xã hội:
- Tự do về chính trị của công dân thể hiện ở chỗ: công dân
đó không phải lo sợ, ngược lại luôn cảm thấy an toàn. Để có
tự do chính trị, chính phủ phải được tổ chức để không một
ai có thể đe dọa người khác” – Tinh thần luật pháp
Vônte
- “Hãy đập tan tòa nhà của sự dối trá!”
- “Xéo nát bọn đê tiện” – Những lá thư triết học.
Rútxô
“Mọi người sinh ra tự do, nhưng ở khắp nơi họ đều mang
xiềng xích… Tự do là quyền tự nhiên của con người” – Khế
ước xã hội.
Đẳng cấp quý tộc Đẳng cấp tăng lữ
Đẳng cấp thứ ba Ba quan điểm trên chính là Tự do – Bình đẳng – Bác ái. Nếu như cách
mạng Anh giữa thế kỉ XVII diễn ra ngọn cờ của tôn giáo thì cách mạng Pháp được
tiến hành dưới trào lưu của triết học ánh sáng – được coi là người đi trước dọn
đường cho cách mạng. Do đó, cách mạng tư sản Pháp triệt để hơn cách mạng tư
sản Anh.
Vào năm 1789, những mâu thuẫn nảy sinh trong lòng xã hội phong kiến trở
nên gay gắt. tài chính của vương quốc cực kì nguy ngập, số nợ nhà nước vay lên
tới 5 tỉ Livơ. Lu-i XVII buộc phải triệu tập Hội nghị ba đẳng cấp, hy vọng Hội
nghị sẽ thỏa thuận cho nhà nước vay tiền và đánh thuế mới.
Ngày 5 – 5 – 1789, tại Cung điện Véc-xai, Hội nghị được khai mạc. Diễn
văn khai mạc của nhà vua đã dội một gáo nước lạnh vào các đại biểu tư sản, chỉ vì
yêu cầu giải quyết vấn đề tài chính. Đại biểu đẳng cấp thứ ba, nhân danh 96% dân
tộc, tự tuyên bố là Quốc hội, xem đây là cơ quan duy nhất có thẩm quyền các đạo
luật về thuế má, chứ không phải nghe lệnh nhà vua. Ngày 9 – 7 – 1789, Quốc hội
tự xem là Quốc hội lập hiến, có quyền soạn thảo hiến pháp.
lâm nguy”. Hàng vạn nhân dân Pa-ri tòng quân tình nguyện ở các đại phương kéo
về bảo vệ thủ đô, hát vang bài Mácxâye (Sau là Quốc ca Pháp) hùng tráng. Trong
khi đại tư sản không kiến quyết chống thù trong giặc ngoài thì phái Gia-cô-banh
gồm những người tư sản kiên quyết các mạng, đứng đầu là luật sư Rô-be-spi-e đã
kêu gọi nhân dân khởi nghĩa. Cuộc tấn công ngày 10/8/1792 của nhân dân Pa-ri
cùng với quân các địa phương tấn công cung vua, bắt giam vua và hoành hậu. Nền
quân chủ sụp đổ dưới sức ép của quần chúng. Quốc hội lập pháp tổ chức bầu cử
theo lối phổ thông đầu phiếu. Cách mạng Pháp bước vào giai đoạn Cộng hòa.
Mùa xuân 1793, cách mạng Pháp lâm vào cuộc khủng hoảng nghiêm trọng
đưa nước Pháp đến nguy cơ bị bóp chết. Một lần nữa, quần chúng Pa-ri dưới sự
lãnh đạo của Rô-be-spi-e lại đứng lên khởi nghĩa vào 32/5 và 2/6/1793, phái Gia-
cô-banh đã nắm chính quyền, cách mạng chuyển sang giai đoạn chuyên chính
Gia-cô-banh. Tuy nhiên, chính quyền Gia-cô-banh khi nắm chính quyền cũng là
lúc phải đương đầu chống nguy cơ với một nghị lực phi thường. Ngay sau khi
khởi nghĩa thắng lợi, Quốc hội đã nghĩ đến yêu sách của nông dân, nên quyết định
chia đất đai ra từng mảnh nhỏ và bán trả trong thời hạn 10 năm, tạo dễ dàng cho
nông dân nghèo; trả vĩnh viễn cho nông dân những đất công bị lãnh chúa chiếm
và xóa bỏ hoàn toàn đặc quyền của phong kiến. Cùng với những chính sách khác
mà mình đã thực thi vào năm 1793, cuộc bạo động bị chặn lại, quân Pháp dần
giành thế chủ động trên chiến trường và đến mùa thu 1794, hoạt động quân sự
diễn ra ngoài đất Pháp và Pháp đã giành thắng lợi trong cuộc chiến đấu chống liên
minh hùng mạnh tập hợp hầu hết các nước châu Âu.
Tuy nhiên, sau cuộc đấu tranh chống ngoại xâm và nội phản, nội bộ phái
Gia-cô-banh bị chia rẽ, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không được sự ủng hộ
của mọi tầng lớp như trước nên họ đứng trước nguy cơ bị lật đổ - Thực chất, giai
cấp tư sản không muốn cách mạng đi xa hơn nữa. Ngày 27/7/1794, phái tư sản (phái Tecsmiđo) tổ chức đảo chính, bắt các
nhân vật chủ chốt của phái Gia-cô-banh (trong đó có Rô-be-spi-e) và đưa lên máy
nhận quần chúng là đông đảo và tiềm năng sáng tạo là vô hạn. Đánh giá vai trò
của quần chúng nhân dân trong Cách mạng Pháp: - Quần chúng vũ trang tấn công chiếm pháo đài nhà ngục Ba-xti, sau đó
làm chủ hầu hết các cơ quan và vị trí quan trọng trong thành phố.
- Trước tình hình tổ quốc lâm nguy, ngày 10/8/1792, nhân dân đã đứng lên
lật đổ phái Lập hiến, xóa bỏ chế độ phong kiến.
- Phái Ghi-rông-đanh không lo chống ngoại xâm và nội phản, nhân dân đã
lật đổ phái hi Ghi-rông-đanh (2/6/1793).
- Quần chúng nhân hưởng ứng lệnh tổng động viên của phái Gia-cô-banh,
chiến thắng thù trong giặc ngoài.
Như vậy, trong cuộc cách mạng này, giai cấp tư sản đã đóng vai trò lãnh
đạo cách mạng, quần chúng nhân dân là lực lượng chủ yếu đã tham gia vào tiến
trình cách mạng và đã đưa cách mạng tiến lên vượt ra ngoài ý muốn của giai cấp
tư sản.Chính sự tham gia của quần chúng đã làm cho cách mạng Pháp mang dân
chủ rộng rãi và triệt để so với các cuộc cách mạng trước nó. “Cách mạng Pháp
xứng đáng là một cuộc đại cách mạng. Nó đã làm biết bao nhiêu việc cho giai cấp
của nó, tức là giai cấp tư sản, đến nổi đến trọn thế kỉ XIX là thế kỉ đem lại văn
minh và văn hóa cho toàn thể nhân loại đã diễn tiến dưới dấu hiệu của cách mạng
Pháp”.
Từ những cơ sở ấy, giáo viên có thể đưa ra các dấu hiệu sau đây để xác
định rõ một cuộc cách mạng tư sản:
Nội dung Kết quả
Tính chất, nhiệm vụ cách mạng
Đánh đổ chế độ phong kiến, xóa bỏ đặc
quyền phong kiến, thực hiện dân chủ.
Giai cấp lãnh đạo Tư sản
Động lực cách mạng Tư sản, nông dân, bình dân thành thị
biểu:
Quan sát bảng sau:
Tên cách mạng Thời gian Hình thức
Cách mạng Hà Lan 1581 - 1648 Chiến tranh giải phóng dân tộc
Cách mạng Anh 1642 - 1688 Nội chiến
Cách mạng tư sản Pháp 1789 - 1794 Chiến tranh giành độc lập
Chiến tranh giành độc lập
của các thuộc địa Anh ở
Bắc Mĩ.
1773 - 171783 Chiến tranh giành độc lập dân
tộc
I-ta-li-a 1859 - 1870 Thống nhất quốc gia dân tộc
Đức 1864 - 1871 Thống nhất quốc gia dân tộc
Nga 1861 Cải cách
Nguyên nhân sâu xa của các cuộc cách mạng đều là: Mâu thuẫn không
thể điều hòa được giữa lực lượng sản xuất mới tư bản với quan hệ sản xuất cũ
phong kiến, xác lập chế độ tư bản chủ nghĩa thông qua việc thực hiện hai nhiệm vụ dân tộc và dân chủ.
- Nhiệm vụ dân tộc: nhằm xóa bỏ tình trạng phong kiến cát cứ, thống
nhất thị trường; bảo vệ tổ quốc khi có sự xâm lược của các thế lực phong kiến
bên ngoài. Nhiệm vụ này đều nhằm thúc đẩy sự phát triển của chủ nghĩa tư
bản.
- Nhiệm vụ dân chủ: xóa bỏ chế độ phong kiến chuyên chế, xác lập nền
dân chủ tư sản với việc thành lập nhà nước cộng hòa tư sản (hay quân chủ lập
hiến) và ban bố các quyền tự do dân chủ tư sản, trong đó nhấn mạnh quyền tư
hữa, được xem là thiêng liêng và bất khả xâm phạm. Vấn đề ruộng đất là một
vấn đề cơ bản của cách mạng tư sản nhưng tùy theo mức độ, kết quả của việc
giải quyết yêu cầu này mà đánh giá tính triệt để của cách mạng tư sản – vấn
quyền tham gia ứng cử khi mình có năng lực. Người phụ nữ cũng có quyền bầu
cử…” (bình đẳng trong bầu cử). Về vấn đề ruộng đất cũng đã được giải quyết ở
một số cuộc cách mạng.
Vậy, tại sao giai cấp tư sản lại thực hiện quyền bình đẳng trong cuộc cách
mạng của mình? Trong buổi đầu của thời kì cận đại, khi giai cấp tư sản phát động
cuộc đấu tranh chống lại chế độ phong kiến thì đông đảo quần chúng đi theo. Họ
là lực lượng chủ yếu để đưa cách mạng đi đến thắng lợi. Thành quả này không chỉ
của giai cấp tư sản mà còn có sự đóng của nhân dân lao đông. Mặt khác, quyền
bình đẳng đóng vai trò là ngọn cờ “tinh thần” để huy động quần chúng nhân dân
tham gia cách mạng. Quyền bình đẳng được xác lập thông qua hai bản Tuyên
ngôn độc lập của nước Mĩ (1776) và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của
Pháp (1789) và quyền bình đẳng này được xác lập ngay trong tiến trình của cách
mạng. Ở Trung Quốc, cách mạng Tân Hơi (1911) nổ ra và trong cương lĩnh của
Trung Quốc đồng minh hội cũng đề cập đến quyền bình đẳng của con người…
Quyền bình đẳng từ chỗ được coi như một giá trị tự nhiên đến chỗ thực
hiện sự bình đẳng ấy trong cuộc sống hiện thực phải trãi qua quá trình bất bình bất
bình đẳng xã hội dai dẳng, bao trùm lên nhiều lĩnh vực đời sống xã hội. Giáo viên
cần chỉ rõ những bất cập ấy trong cách mạng trư sản để thấy được bản chất của sự
kiện.
VI/ Những mặt tích cực và hạn chế của cách mạng tư sản.
1. Mặt tích cực.
- Cách mạng tư sản đã góp phần phát triển xã hội loài người – từ chế độ
phong kiến chuyển sang chủ nghĩa tư bản tiến bộ hơn.
- Nó ảnh hưởng và tác động đến phong trào dân tộc và dân chủ trên thế
giới.
- Xác lập sự thắng lợi của chủ nghĩa tư bản trên thế giới.
2. Mặt hạn chế.
- Mọi thành quả sau cách mạng đều rơi vào tay giai cấp tư sản, nó chỉ thay
thế chế độ bóc lột này bằng chế độ bóc lột khác, vấn đề ruộng đất của nông dân
(vấn đề cơ bản của cáh mạng tư sản) vẫn không được giải quyết triệt để, những
- Vai trò của cá nhân?
Từ việc thiết kế đến tổ chức thực hiện ở các mức độ nêu trên rồi giáo viên
mới đi đến khái niệm lịch sử. Tuy nhiên, giáo viên phải thấy được tính tư sản luôn
mầm mống, xuất hiện và đi đến cụ thể ngay ở trong từng nội dung: nguyên nhân,
diễn biến, kết quả và ý nghĩa của cuộc cách mạng đó.
Phân ba: KẾT LUẬN
Trong chương trình môn Lịch sử 8 hiện nay, nội dung về các cuộc cách
mạng tư sản tương đối nhiều và có vị trí quan trọng trong lịc sử thế giới cận đại.
Thực tế không ít giáo viên đều thừa nhận đó là nội dung khó dạy, khó truyền đạt
cho học sinh một cách sinh động, hiệu quả bởi quá nhiều sự kiện và là những sự
kiện khó nhớ. Do đó, việc lựa chọn và trình bày mấy vấn đề nêu trên để cùng
đồng nghiệp tham khảo và xây dựng. Mong ý kiến đóng góp của đồng nghiệp.
Phần bốn: TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa Lịch sử 8. (NXBGD)
2. Sách giáo viên Lịch sử 8. (NXBGD)
3. Một số chuyên đề phương pháp dạy học lịc sử. (NXBĐHQGHN)
4. Giáo trình Lịch sử Việt Nam và thế giới (NXBGD)
5. Hướng dẫn học và ôn tập Lịch sử THCS (NXBGD).
6. Phương pháp dạy học Lịch sử (NXBGD).
7. Tài liệu tập huấn.
8. Xác định kiến thức cơ bản và phương pháp giảng dạy các bài cách mạng
tư sản trong chương trình Lịch sử 8 THCS (Lê Xuân Diệu).
MỤC LỤC
Phần ba. KẾT LUẬN