1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Chấn thương niệu đạo sau ( CTNĐS) do tai nạn giao thông là một trong
những bệnh cảnh lâm sàng hay gặp trong chấn thương tiết niệu ở các nước
phát triển cũng như các nước đang phát triển.
Trước 1975 tại Việt Nam, nguyên nhân gây vỡ xương chậu- đứt niệu
đạo sau chỉ là do sù va chạm giữa các phương tiện giao thông thô sơ như xe
đạp – xe đạp, xe đạp – xe bò Chính vì vậy các thương tổn thường là đơn
thuần (vỡ xương chậu vững, Ýt các thương tổn tạng kèm theo). Từ năm 2000
(đầu thế kỷ 21), nước ta với đà phát triển về kinh tế, đô thị cùng với sự phát
triển của giao thông, những tai nạn thường xảy ra ở các phương tiện cơ giới
có tốc độ lớn như ô tô, xe máy. Những va chạm với tốc độ cao này gây ra
những bệnh cảnh đa chấn thương cho người điều khiển phương tiện giao
thông, đặc biệt cho người điều khiển xe máy.
Trong bệnh cảnh đa chấn thương như vậy, thương tổn vỡ xương chậu -
đứt niệu đạo sau trở nên phức tạp và đa dạng thường kết hợp với các thương
tổn phối hợp ở các tạng khác như vỡ bàng quang, tổn thương các tạng ở ổ
bụng, ngực, gãy xương, tổn thương phần mềm [22, 24, 27,32, 37, 40]. Do
vậy, những bệnh nhân bị chấn thương đứt niệu đạo sau, vì xương chậu do tai
nạn giao thông thường rất nặng như chóang, mất máu và tỷ lệ tử vong trước
can thiệp đa chấn thương chiếm từ 8- 10% [16, 22, 36, 39].
Việc xử lý chấn thương đứt niệu đạo sau, vì xương chậu do TNGT
trong bệnh cảnh đa chấn thương phải ưu tiên xử trí các tổn thương nặng phối
hợp đe doạ trực tiếp đến tính mạng bệnh nhân. Thương tổn chấn thương đứt
niệu đạo sau, vì xương chậu thường được xử trí tối thiểu và phẫu thuật phục
hồi đứt niệu đạo sau thường được thực hiện ở thì sau khi bệnh nhân đã qua
được giai đoạn chóang, ổn định các phẫu thuật cấp cứu.
2
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Sơ lược giải phẫu khung chậu và niệu đạo
1.1.1 Giải phẫu khung chậu.
Khung chậu được cấu tạo bởi hai xương chậu khớp với nhau ở phía trước
bởi khớp mu bán động và với xương cùng ở phía sau bởi hai khớp cùng chậu.
Về hình thể, khung chậu có hình chóp cụt mở lên trên, to ở phía trên và
nhỏ ở phía dưới; ở phần giữa, khung chậu thắt hẹp lại vì có một gờ xương
hình gần ellíp, gọi là eo trên. Eo trên phân chia khung chậu thành hai phần;
phần trên gọi là chậu hông to, phần dưới gọi là chậu hông bé (tiểu khung).[2]
Khung chậu to mở rộng lên trên, bao gồm hai hố chậu phải và trái.
Khung chậu bé có giới hạn dưới là eo dưới; eo dưới là một lỗ hình thoi, được
bịt kín bởi các líp cân cơ gọi là đáy chậu hoặc tầng sinh môn.
Trong khung chậu bé có các tạng kể từ trước ra sau là: bàng quang,
tạng sinh dục và trực tràng (ở nam giới tạng sinh dục là hai tói tinh và tuyến
tiền liệt). Phần lớn các tạng này nằm ở dưới phóc mạc, do đó người ta còn gọi
khoang chứa các tạng này là khoang chậu hông dưuơí phóc mạc. Ngoài các
tạng nói trên, trong khoang chậu hông dưới phóc mạc còn có các động mạch
và tĩnh mạch chậu với các nhánh của chúng và các đám rối thần kinh thực vật
đi theo các mạch máu này (đám rối hạ vị).
Vì liên quan về giải phẫu nói trên mà những chấn thương VXC hay
kèm theo tai biến tổn thương các tạng và các mạch máu ở trong khung chậu
bé.
Khung chậu gắn tiếp nối với xương cùng của phần cuối cột sống bởi
khớp cùng chậu, với hai xương chi dưới bởi ổ khớp chậu, thành một khung
4
xương vững chắc bảo vệ các tạng trong tiểu khung và nâng đỡ cột sống khi
ngồi, đứng.
ra sau ôm phía sau xương mu, ở giữa mặt sau của niệu đạo có ụ núi lồi hình
bầu dục (dài 4-6mm, rộng 1-2mm) đỉnh ụ núi có lỗ tói tuyến tiền liệt, và hai
bên hai lỗ phóng tinh . Đây là chỗ hợp lưu của đường tiết niệu và sinh dục
cùng một đường niệu đạo ra phía trước.
Niệu đạo ở một phần tư trên có cơ thắt trơn bao quanh. Tuyến tiền liệt
được giữ tại chỗ sau xương mu bởi dây chằng mu tuyến tiền liệt.
- Niệu đạo màng tiếp với niệu đạo tuyến tiền liệt chỉ ngắn 12-15mm
chạy xuyên qua cân đáy chậu giữa hay còn gọi là cân niệu sinh dục[10, 17] .
- Cân đáy chậu giữa: phía trước gắn với bờ sau xương mu, tức là cung
trước xương chậu, ngành ngồi mu hai bên như hình quạt, dây chằng toả ra
phía sau niệu đạo hợp với cơ ngang và dính với nót trung tâm. Cân đáy chậu
giữa có hai lá:
+ Lá trên chỉ là mảnh cân mỏng trùm lên các mạch máu thẹn trong.
+ Lá dưới có dây chằng ngang là nơi dầy nhất của mảnh treo các tạng
cương - vật xốp bám giữa mảnh treo, hai vật hang bám hai bên mảnh treo và
bám vào ngành ngồi mu.
6
Giữa dây chằng ngang và cơ ngang sâu có niệu đạo đi qua. Động mạch mu
dương vật chui qua khe giữa dây chằng cung và dây chằng ngang. Các mạch máu
thẹn trong xuyên qua mảnh treo cấp máu cho dương vật (hình 1.2).
Hình 1.2: Cân đáy chậu giữa
( Trích theo :10,17)
Thần kinh thẹn cùng chạy qua cân đáy chậu:
+ Nhánh mu là nhánh vận động và cảm giác cho tạng cương.
+ Nhánh vận mạch là nhánh chính tạng cương.
Niệu đạo màng có liên quan chặt chẽ với cân đáy chậu giữa, cơ thắt vân
niệu đạo cũng như với các thành xương chậu. Cân đáy chậu giữa bị rách niệu
đạo có thể di lệch đứt, cơ thắt bị dập nát và các thương tổn mạch máu thần
trên bị toác ra ở mặt trước (hình 1.3). Cơ thắt vân có tác dụng tăng cường cho cơ
thắt trơn giữ chủ động cân bằng tiểu tiện, và cũng có tác dụng quan trọng là làm
cho tinh dịch được phóng nhanh qua các đoạn của niệu đạo trước.
8
Hình 1.3: Sơ đồ cơ thắt vân niệu đạo
( Trích theo: 10,17 )
* Líp mạch mạc là líp dưới niêm mạc được biến đổi có đặc điểm là
nhiều thớ chun và hang tĩnh mạch. ở phần niệu đạo líp này còn mỏng và Ýt
biệt hoá nhưng đến dương vật líp mạch phát triển rất mạnh và biến thành tổ
chức cương gọi là vật xốp.
* Líp niêm mạc: Niêm mạc của niệu đạo rất chun giãn, vì thế có thể
phồng to từ 4 - 6mm - 10mm, có rất nhiều tuyến Littre tiết nhày làm trơn niệu
đạo, tuyến này nằm sâu ở đáy các hốc Morgagni. Líp niêm mạc cũng rất
mỏng manh gắn chặt liên tiếp với líp mạch không thể tách ra được.
Khi niệu đạo bị viêm nhiễm vi khuẩn nóp trong các hốc tuyến
Morgagni lẩn tránh tác dụng của kháng sinh.
Vì đặc tính cấu tạo của niệu đạo nên khi chấn thương, hai đầu niệu đạo
dễ tách xa nhau làm cho nước tiểu bị ngấm ra tổ chức xung quanh, gây viêm
lan tấy nước tiểu nguy hiểm, gây xơ sẹo chít hẹp niệu đạo về sau.
Sự viêm nhiễm tiến triển mãn tính lan xuống tận líp mạch dưới niêm
mạc gây phản ứng xơ sẹo lan tràn và hẹp niệu đạo rất phức tạp.
1.1.4. Phân bố mạch máu và thần kinh:
+ Động mạch của niệu đạo từ các động mạch tuyến tiền liệt, động mạch
bàng quang dưới, động mạch trực tràng dưới cấp máu cho niệu đạo sau (niệu
đạo tuyến tiền liệt – niệu đạo màng).
9
Động mạch hang và mạch mu của dương vật từ động mạch thẹn trong
đa số bị lực Ðp theo chiều trước sau, lực tác động bên có thể gây di lệch xoay.
Khung chậu có thể bị di lệch doãng ra hoặc gãy Malgaigne. Gãy Malgaigne là
loại thương tổn rất nặng, 21% bệnh nhân bị tử vong do loại gãy này[41].
Những tổn thương xương chậu được nghiên cứu phân loại mức độ tổn
thương dùa trên hình ảnh X quang. Mét trong yếu tố quan trọng trong các
phân loại này là dùa vào tính ổn định hay không ổn định của khung xương.
Năm 1980 Pennal và Tile đưa ra một bảng phân loại vỡ xương chậu
dùa trên cơ chế về lực Ðp vào khung xương chậu khi bị chấn thương. Bảng
phân loại của Tile giúp định hướng tổn thương các cơ quan, mạch máu và các
thành phần trong tiểu khung. Loại gãy không vững sẽ gây di lệch các dây
chằng và cân cơ trong khung chậu là nguyên nhân gián tiếp gây tổn thương
đường tiết niệu dưới mà chủ yếu là niệu đạo màng và mạch máu, thần kinh
cương dương.
Bảng 1.1 Phân loại gãy xương chậu của Tile Loại A
Gãy vững
A1
Gãy một phần xương chậu, không ảnh hưởng đến sự bền vững của
xương chậu
A2
Gãy cánh chậu hay gãy cung trước di lệch Ýt
A3
Gãy ngang xương cùng cụt không di lệch hoặc di lệch ngang
11
Loại B
Gãy vững một phần (mất vững theo hướng ngang, còn vững theo
trường hợp VXC có tai biến tiết niệu điều trị ở bệnh viện Việt Đức từ năm
1984 – 1994, có 18 trường hợp (46,16%) tổn thương niệu đạo nam gới. Theo
Chan L và cs (1994) thì trong sè 249 bệnh nhân VXC mà tác giả hồi cưu, có
17 bệnh nhân bị tai biến tiết niệu trong đó có 7 bệnh nhân (41,17%) đứt niệu
12
đạo sau[39] ; Mayher B.E và cs (2001) cho thấy trong 61 bệnh nhân bị vỡ
xương chậu có tổn thương tiết niệu, có 23 bệnh nhân (37,70%) bị tổn thương
niệu đạo sau[57] .
1.2.2.2 Cơ chế gây tổn thương niệu đạo sau do vì xương chậu.
Theo Sâglwsky A.I và Peters. P.C (1998) {70}, có tới 90% trường hợp
thương tổn niệu đạo sau do vì xương chậu. Khi vỡ xương chậu, niệu đạo sau
có thể bị xé rách vì hoành niệu sinh dục bị rách và xương bị di lệch nhiều nên
hai đầu niệu đạo cách xa nhau. Niệu đạo sau bị thương tổn do sự căng quá
mức ở niệu đạo màng, do sù di lệch của các ngành mu ra sau hoặc lên trên
kéo theo tiền liệt tuyến trong lúc niệu đạo hành bị giữ lại bởi hai vật hang bám
chắc vào ụ ngồi. Trường hợp này, tiền liệt tuyến bị tách rời khỏi hoành niệu –
sinh dục và khớp mu, nên khối bàng quang – tiền liệt tuyến bị khối máu tụ
đẩy lên cao, làm cho hai đầu niệu đạo bị đứt xa nhau ra, việc tái tạo niệu đạo
về sau sẽ gặp nhiều khó khăn. Tuy vậy cũng có những trường hợp chấn
thương va đập mạnh làm dập tuyến tiền liệt và niệu đạo, những trường hợp
này thường đám rối tĩnh mạch Santorini cũng bị tổn thương gây ra chảy máu
nhiều. Trường hợp hiếm xảy ra hơn là mảnh xương chậu vỡ đâm thủng niệu
đạo.
1.2.2.3 Phân loại tổn thương niệu đạo sau
- Phân loại theo truyền thống là đứt niệu đạo hoàn toàn và không hoàn
toàn tại vị trí nối giữa niệu đạo màng và tiền liệt tuyến, ở phía trên hoành niệu
sinh dục. Đứt niệu đạo hoàn toàn là hai đầu niệu đạo bị rời khỏi nhau, không còn
liên hệ với nhau. Đứt niệu đạo không hoàn toàn là niệu đạo bị đứt một phần
chiều dầy của thành niệu đạo, có thể toàn bộ chu vi hoặc một phần chu vi, có thể
Ảnh 1.3:Ttổn thương niệu đạo độ III.
14
Độ III- Hoành niệu sinh dục bị đứt, thường là đứt niệu đạo hoàn toàn
kèm với tổn thương đầu gần của niệu đạo hành. Độ III là tổn thương hay
gặp nhất trong tổn thương niệu đạo sau do vì xương chậu (66 - 85%), ở loại
này chúng ta thấy thuốc cản quang tràn ra ngoài trong tiểu khung và cả ở
tầng sinh môn (ảnh 1.3).
Bảng 1.2: phân loại chấn thương niệu đạo sau theo
Collapinto và McCallum[42]
Độ 1
Tiền liệt tuyến hoặc cân đáy chậu giữa bị di lệch nhưng niệu đạo
màng chỉ bị căng giãn, không bị đứt rời.
Độ 2
Niệu đạo màng bị đứt ở phía trên cân đáy chậu giữa tại mám tiền
liệt tuyến (cân đáy chậu giữa còn nguyên vẹn)
Độ 3
Niệu đạo màng bị đứt cả ở phía trên và dưới cân đáy chậu giữa.
Cân đáy chậu giữa bị rách kèm theo rách tiền liệt tuyến và đầu
niệu đạo hành.
Gần đây Goldman còn thêm vào độ IV là tổn thương niệu đạo màng
kèm với tổn thương niệu đạo tiền liệt tuyến và cổ bàng quang. Độ V là chấn
thương niệu đạo màng lan tới niệu đạo trước.
đứt niệu đạo sau do vì xương chậu là:
+ Đứt niệu đạo sau với máu tụ khu trú trong cân đáy chậu giữa
+ Đứt niệu đạo sau với tổn thương qua cân đáy giữa bị rách, gây tụ máu
lớn trên cân đáy chậu giữa, lan tới vùng tiểu khung.
+ Đứt niệu đạo sau có tổn thương mạch máu vùng đáy chậu và tiểu
khung gây máu tụ rất lớn trong khoang chậu hông dưới phóc mạc.
16
Do khối máu tụ như vậy nên đoạn niệu đạo hẹp có thể dài ngắn khác
nhau. Đứt niệu đạo đồng thời cơ thắt vân niệu đạo cũng bị dập nát.
- Các thương tổn phối hợp khác: Các tai nạn gây vỡ xương chậu cũng
có thể gây các chấn thương phối hợp trong ổ bụng: thủng trực tràng, thủng
ruột non, vì gan, vỡ lách…. các thương tổn khác như: chấn thương ngực, gẫy
xương đùi – gẫy xương cảng chân, trật khớp háng, dập nát phần mềm rộng, tô
máu dưới da và chấn thương sọ não.
Năm 1976,[6] Trần Đức Hoè đã có nêu nhân xét về 140 trường hợp
thương tổn niệu đạo ở thương bệnh binh, các trường hợp chấn thương niệu
đạo kèm theo các tổn thương khác chiếm 49,2%, trong đó có 4 trường hợp
kèm theo rách trực trang. Lê Ngọc Từ (1988) báo cáo 41 trường hợp chấn
thương VXC-ĐNĐS được điều trị tại bệnh viện Việt Đức từ 1983 – 1987, có
2 trườnghợp vỡ trực tràng trong phóc mạc và 5 trường hợp dập nát phần mềm
rộng lóc da. Trần Lê Linh Phương (2003)[16] đã trình bày nghiên cứu 30
trườnghợp tổn thương đường niệu dưới phức tạp do vì xương chậu, trong đó
tất cả 22 bệnh nhân nam có tổn thương các tạng trong ổ bụng, 5 trườnghợp
chấn thương ngực, 8 trường hợp gãy xương đùi, 3 trườnghợp dập nát, lóc da
phần mềm. Moulnguet (EMC 1965) đã nêu nận xét có 10% trường hợp chấn
thương niệu đạo sau do vì xương chậu có kèm theo vỡ trực tràng. Capple C.R
theo Brandes và Borelli (2001)[33]. ĐNĐS thường phối hợp với các tạng
trong ổ bụng: lách (8-21), ĐNĐS thường phối hợp với các tạng trong ổ bụng:
lách (8-21%), gan và ruột và bàng quang.
+ Siêu âm có thể chẩn đoán được các thương tổn tạng phối hợp trong ổ
bụng. Nếu có điều kiện chụp cắt líp vi tính ổ bông để chấn đoán có dịch, phân
biệt dịch thấm hay chảy máu.
Khám xét lâm sàng và cận lâm sàng toàn diện có chẩn đoán các thương
tổn đa chấn thương VXC- ĐNĐS.
18
+ Soi ổ bụng (Coelioscopy) khi có chỉ định và điều kiện thực hiện sẽ có
giá trị cao trong chẩn đoán phân biệt máu tụ sau phóc mạc và chảy máu từ các
tạng tổn thương trong ổ bụng.
Chẩn đoán xác định có ý nghĩa lớn trong cấp cứu cần mổ ổ bụng (Lê
Ngọc Từ 1979): 78% trong đó có 21,9% có tổn thương các tạng ổ bông.[25]
MundyAR: 30% 1999 hay không cần mở ổ bụng.{64}
- Vỡ xương chậu: được phát hiện dễ dàng khi có máu tụ bầm tím vùng
xương chậu, xương mu.
+ Khi khám với động tác dồn Ðp, Ên trước xương mu bệnh nhân đau ở
chỗ điểm thương tổn xương. Dùa vào các dấu hiệu lâm sàng ta cũng có thể
chẩn đoán được vỡ xương chậu.
+ Bầm tím lan rộng vùng dưới rốn cũng gây đau ở vùng bụng làm cho
ta khó đánh giá thương tổn VXC tụ máu sau phóc mạc trong tiểu khung đơn
thuần hay có vỡ tạng trong ổ bụng phối hợp, vỡ bàng quang.
Những biểu hiện trên có thể làm che lấp các dấu hiệu của tai biến tiết
niệu đứt niệu đạo sau. Nhưng để có chẩn đoán được chính xác và cụ thể loại
thương tổn VXC cần chụp khung chậu thẳng.
Theo Young, chỉ cần chụp X quang là đủ để chẩn đoán và xếp lọai tình
trạng VXC. Lê Ngọc Từ (1979) [25], Trần Lê Linh Phương (2003) [16], các
bệnh nhân đều đuợc chuẩn đoán và phân loại VXC dùa trên phim X quang
xương chậu thẳng.
- Đứt niệu đạo sau: Những triệu chứng lâm sàng đứt niệu đạo sau thường
rất kín đáo bị che lấp trong bệnh cảnh VXC đơn thuần hoặc đa chấn thương.
Turner Warwick 1977, Morehouse 1977, Wartehouse 1969, Nguyễn Bửu
Triều – Lê Ngọc Từ 1988) nhất là phân định ĐNĐS hoàn toàn hay không
hoàn toàn, vì không phải VXC nào cũng ĐNĐS (chỉ có 10-14%VXC-ĐNĐS).
Thời kỳ Moulonguet (1965) Blandy (1985) vẫn phải nong thăm dò
niệu đạo để chuẩn đoán ĐNĐS.
20
Boccon Gibod – Aboulker (1978), DebreB. Steg A (1990), Devine JC.
Devine PC. (1989), Morehouse (1988) Waterhouse (1980) qua phẫu thuật mới
đánh giá được ĐNĐS hoàn toàn – không hoàn toàn từ 40-60%.
Calapinto V- McCallum RW. (1997) 42, Corriere JN Jr – Harris JD.
(1981) tiến hành chụp niệu đạo ngược dòng thẳng, nghiêng cho hình ảnh cụ
thể ĐNĐS: thuốc tràn ra ngoài đọng xung quanh niệu đạo sau hoàn toàn
không lên bàng quang khi ĐNĐS hoàn toàn, hay có tràn qua quanh niệu đạo
nhưng vẫn vào bàng quang khi ĐNĐS không hoàn toàn. Chính Colapinto –
Mc Callum đã đề nghị một phân loại ĐNĐS Colapinto – McCallum 199744.
Ngoài ra ta cũng cần phải chú ý tới các thương tổn đường niệu dưới
khác phối hợp với đứt niệu đạo sau như: vỡ bàng quang, vỡ tiền liệt tuyến
cungc như các thương tổn ngoài hệ tiết niệu để từ đó có phương hướng xử trí
hợp lý nhất.
Chụp ngực thẳng để phát hiện chấn thương ngực phối hợp (thấy hình
ảnh gãy xương sườn, tràn máu tràn khí màng phổi…); siêu âm ổ bụng hay
thậm chí cả chụp cat líp ổ bụng để đánh giá đầy đủ và chính xác các thương
tổn các tạng trong bông; doppler mạch máu khi ngi ngờ có tổn thương mạch
phối hợp.
1.2.4. Thái độ xử trí cấp cứu
- Xử trí các tổn thương phối hợp: Khoảng 65-70% các trường hợp dứt
niệu đạo-vỡ xương chậu trong bệnh cảnh đa chấn thương và mất máu cần phải
hồi sức ngay, truyền dịch cả truyền máu bồi phụ khối lượng tuần hoàn để
chống sốc kịp thời có hiệu quả.
Waterhouse 1969, Boccon Gibod 1974, Blandy (1983), Morehouse
1983 cho rằg cần phải chụp niệu đạo ngược dòng. Chính vì thế mà Colapinto
–Mc Callum 1977 42, Corriere JM. Sandler 1999 mới có phân loại ĐNĐS
do VXC được chấp nhận tương đối rộng rãi.
22
Thái độ xử trí ĐNĐS do VXC được đặt ra từ trước Moulonguet 1965,
Waterhouse 1983, Wedster 1983, đến Corriere JM. 1998, Mundy AR.
199964, Koraitim M.M 199956, bMc Aninch 2002-2004 thì những quan
niệm biện pháp phương tiện kỹ thuật thực hiện đã nhiều thay đổi.
+ Dẫn lưu bàng quang đơn thuần:
Với ĐNĐS do VXC dẫn lưu bàng quang đơn thuần trên xương mu tốt
là đủ tránh các biến chứng do ĐNĐS gây nên như viêm tấy lan toả hay áp xe
tiểu khung do nước tiểu. Đây là phương pháp an toàn vì dẫn lưu được nước
tiểu mà không phải tác động vào niệu đạo và khối máu tụ dưới phóc mạc.
Dẫn lưu bàng quang chỉ định rộng rãi trong mọi tình huống ĐNĐS đơn
thuần hay phức tạp, ĐNĐS hoàn toàn hay không hoàn toàn. VXC-ĐNĐS phối
hợp chấn thương càng nặng can thiệp ĐNĐS càng đơn giản.
Khuynh hướng này được nhiều phẫu thuật viên ngoại chung cũng như
phẫu thuật viên tiết niệu thực hiện .
+ Đạt thẳng lại niệu đạo (đặt ống thông niệu đạo) ngay trong mổ mở
cấp cứu, hay đặt thẳng lại niệu đạo sớm (sau vài ngày 3-7 ngày) sau khi đã
dẫn lưu BQ đối với VXC - ĐNĐS hoàn toàn hay không hoàn toàn.
Ormond – Cothran 1934, Davis mổ mở đặt ống thông niệu đạo làm
thẳng hàng “railroading” để điều chỉnh sự di lệch niệu đạo giảm bớt tỷ lệ hẹp
niệu đạo 30% và dễ dàng cho các phương pháp can thiệp cần thiết thì sau (Lê
Ngọc Từ 1988, Corriere JN.Jr 1996, Kỏaitim 1996). Mặt khác Morehouse
1977, Mundy 1999 64, Mc Aninch 2001 cho rằng phương pháp này có thể
gây tăng tỷ lệ chảy máu, nhiễm khuẩn, bất lực sinh dục và tiểu không chủ
động.
đáng kể thời gian nằm viện.
Theo những tài liệu của các tác giả trong nước (Nguyễn Bửu Triều, Lê
Ngọc Từ và Trần Đức Hoè) có 3 biện pháp khác nhau được thực hiện để xử lý
tổn thương niệu đạo sau do chấn thương vỡ xương chậu trong cấp cứu:
24
+ Dn lu bng quang n thun trờn xng mu
+ Chnh thng hng niu o, t ng thụng niu o v dn lu bng
quang trờn xng mu.
+ Khõu ni niu o tn ngay trờn ng thụng.
Tng quỏt v thỏi x trớ NS do VXC (theo Koraitim M.M 1996){55}
bệnh viện Chợ Rẫy [18].
Lê Thanh Nhạ(1995) nghiên cứu 42 trường hợp chấn thương đứt niệu
đạo sau, vỡ xương chậu tại khoa Tiết niệu- Quân y viện 103 từ 11/1980-
11/1994. {13}
Trần Lê Linh Phương (2003) cũng đá mô tả 30 trường hợp VXC có tổn
thương đường niệu dưới phức tạp từ 1/1998- 1/2002 và đề xuất các biện pháp
điều trị…{16}.