Đánh giá tác dụng điều trị hội chứng ruột kích thích của bài thuốc Thống tả yếu phương trên động vật thực nghiệm - Pdf 19


1
đặt vấn đề

Hội chứng ruột kích thích (HCRKT) là mét hội chứng thường gặp của
đường tiêu hóa với các rối loạn chức năng ruột, gồm một nhóm các triệu
chứng như: đau bụng, chướng bụng, rối loạn đại tiện v.v. Trước đây, hội
chứng này có nhiều tên gọi khác nhau như: viêm đại tràng co thắt, rối loạn
chức năng đại tràng, hội chứng đại tràng kích thích. Hiện nay, thuật ngữ
HCRKT được thống nhất để gọi tình trạng bệnh lý này. Ở các nước phương
Tây, HCRKT chiếm tỷ lệ từ 30-35% số bệnh nhân đến khám bác sĩ chuyên
khoa tiêu hóa. Ở Việt nam, theo Hà Văn Ngạc số bệnh nhân tiêu hoá tại viện
108 có 24,1% bệnh nhân mắc HCRKT [25]. Theo Lại Ngọc Thi phát hiện tỷ lệ
này là 17,3% [31]. Qua các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và
ngoài nước đều cho thấy tỷ lệ mắc HCRKT ở nữ giới nhiều hơn nam giới, với
tỷ lệ từ 1,6:1 đến 2:1 (tuỳ theo từng nghiên cứu), độ tuổi trung bình là 40 [22,
26, 27, 60, 61].
HCRKT không gây nguy hiểm đến tính mạng, nhưng hay tái phát nên
hạn chế và ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Đồng
thời, cơ chế bệnh sinh và căn nguyên của bệnh chưa rõ ràng nên việc điều trị
bệnh còn nhiều hạn chế. Y học hiện đại đã đạt được nhiều kết quả trong việc
điều trị với mục tiêu làm giảm triệu chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống
cho người bệnh. Y học cổ truyền Việt Nam cũng đã ứng dụng một số bài
thuốc để điều trị HCRKT như : “Bình vị tan” [27], “Viên nang Hế mọ” [29]
và đã có hiệu quả nhất định. Năm 2008, viện Y học cổ truyền Quân đội công
bố kết quả đề tài “Nghiên cứu tác dụng của bài thuốc “Tứ thần hoàn” trong
điều trị HCRKT thể lỏng”. Đây là đề tài bước đầu đi sâu nghiên cứu cơ chế
tác dụng của bài thuốc cổ phương trên thực nghiệm và đánh giá tác dụng điều

2
trị của bài thuốc trên lâm sàng [26]. Tiếp tục hướng đi này, Viện y học cổ

3
Chương 1
Tổng quan 1.1. định nghĩa, lịch sử và dịch tễ học HCRKT
1.1.1. Định nghĩa
Năm 1989, hội nghị quốc tế về HCRKT (Irritable Bowel Syndrom : IBS)
được tổ chức tại Rome đã đưa ra định nghĩa nh- sau:
Hội chứng ruột kích thích là các rối loạn chức năng của ruột tái đi tái lại
nhiều lần mà không tìm thấy tổn thương về giải phẫu bệnh và hóa sinh [54].
1.1.2. Lịch sử HCRKT
* Trên Thế giới
Những rối loạn chức năng ruột - đại tràng bao gồm các chứng: đau bụng,
đầy hơi, rối loạn đại tiện kéo dài (phân lỏng, táo bón hoặc táo lỏng luân phiên)
đã được nhiều thầy thuốc mô tả từ lâu và được gọi bằng các tên khác nhau .
Năm 1673, Louis Guyon Fre [58] đã viết về chứng đau bụng, đầy hơi.
Năm 1830, Howslip [58] là tác giả đầu tiên đã mô tả chứng co thắt đại
tràng. Trong một thời gian dài, hội chứng này được xem là có nguyên nhân
viêm nhiễm với nhiều tên gọi như: viêm đại tràng mãn, viêm đại tràng co thắt,
viêm đại tràng tiết nhầy, viêm đại tràng chức năng…
Năm 1922, Hurst cho rằng gọi “viêm đại tràng” là không xác đáng [58].
Năm 1944, Pefers và Bargen đề nghị gọi là chứng “Đại tràng kích thích”
hay “rối loạn thần kinh đại tràng” [58].
Năm 1962, Chaudray và Truelove lần đầu tiên đi sâu vào nghiên cứu lâm
sàng của HCRKT. Các tác giả nhiều công trình nghiên cứu sau này mà đại
diện như: Manning (1978), Nauveau (1986), Lynn (1998), Thompson (1990,


5
1.1.3. Dịch tễ học HCRKT
Nghiên cứu trên 41.000 người, tại 8 quốc gia Châu Âu (Bỉ, Pháp, Đức,
Italia, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ, Anh và Hà Lan ) cho thÊy, tần suất mắc
HCRKT là 11,5%, tỷ lệ này thay đổi tuỳ theo quốc gia (6-12%) do điều kiện
hoàn cảnh xã hội khác nhau ; trong đó HCRKT thể lỏng là 34%, thể táo là
27% với 63% bệnh nhân là nữ, 35% bệnh nhân chịu đựng các triệu chứng trên
10 năm [52]. Ở Việt Nam, tỷ lệ mắc HCRKT từ 13,4%- 17,3%. Nữ mắc nhiều
hơn nam 1,6/1; thể phân lỏng 66%, thể táo bón 21%. Tuổi hay mắc từ 30-60
[23]. Năm 2004, Nguyễn Thị Tuyết vân đã khảo sát 6.166 bệnh nhân có bệnh
lý đại - trực tràng - hậu môn tại phòng khám của Bệnh viện Bạch Mai. Kết
quả cho thấy: có 5.129 bệnh nhân mắc HCRKT, chiếm tỷ lệ 83,18% [39].
1.2. Hội chứng ruột kích thích theo y học hiện đại
1.2.1. Sơ lược về giải phẫu- sinh lý đại tràng
Đại tràng là phần cuối của ống tiêu hoá, bắt đầu từ tận cùng của hồi tràng
đổ vào manh tràng (van Bauhin) đến hậu môn có độ dài trung bình từ 1,4-
1,8m, như một chiếc khung hình chữ U ngược ôm lấy tiểu tràng từ trái qua
phải [14].
Đại tràng được chia ra hai đoạn có chức năng tiêu hoá rõ ràng [21].
Đoạn bên phải (đoạn gần) gồm có đại tràng lên và 1/3 bên phải của đại
tràng ngang, là phần cố định dính vào thành bụng sau có giới hạn từ van
Bauhin đến cơ vòng Cannon và Boehm.
Đoạn bên trái (đoạn xa) gồm có phần đại tràng ngang còn lại và toàn bé
đại tràng xuống.
Đại tràng sigma di động không đi thẳng mà tạo thành cuộn vòng đi từ
mào chậu trái tới đốt sống cùng III. Giữa đại tràng xuống và đại tràng sigma
có cơ vòng Moutier.

6

Cơ chế bệnh sinh của HCRKT khá phức tạp. Nghiên cứu về nguyên nhân
- cơ chế bệnh sinh của HCRKT hiện đang được nhiều nhà khoa học quan tâm.
Gần đây, nhờ các kỹ thuật thăm dò trên thực nghiệm và lâm sàng, nhiều công
trình nghiên cứu đều cho rằng HCRKT có liên quan đến các cơ chế sau:
1.2.2.1. Rối loạn chức năng vận động ruột
Trước đây rối loạn vận động bất thường của đại tràng được coi là một
trong những cơ chế bệnh sinh cơ bản gây nên các triệu chứng của HCRKT.
Nhiều nghiên cứu sử dụng những bóng nhỏ để đo áp lực trong lòng ruột
từ trực tràng lên đến toàn bộ đại tràng sigma đã thấy có hiện tượng rối loạn
vận động của đại tràng. Khi xem xét về tính chất phân, ở bệnh nhân HCRKT
có tiêu chảy là chủ yếu thì rối loạn vận động ruột được xác định bởi sự tăng
mức độ vận động từng đoạn ruột lúc đang bị đau, còn những bệnh nhân
HCRKT có phân khô táo là chủ yếu thì được xác định bởi nhu động ruột
giảm, cơ vòng thắt lại [42]. Ngoài ra, hậu quả của stress, những bữa ăn giầu
chất béo và chất kích thích, những tác nhân kích thích khác cũng tác động tới
tính đáp ứng của ruột. Những triệu chứng lâm sàng phong phú ở người bị
HCRKT cho thấy có sự rối loạn vận động ở nhiều vị trí khác nhau của ống
tiêu hoá.
Hiện nay nhiều kết quả nghiên cứu về những dấu hiệu của nhu động đặc
hiệu ở bệnh nhân HCRKT và những hiểu biết về rối loạn vận động đã cho
rằng rối loạn vận động ruột chưa đủ để giải thích triệu chứng đau bụng của
bệnh nhân [47].
1.2.2.2. Rối loạn cảm giác nội tạng của ruột
Các nghiên cứu cho thấy các triệu chứng của bệnh thường do nhiều cơ
chế bệnh sinh khác nhau gây nên. Trong đó, những điểm bất thường về rối
loạn cảm giác nội tạng có thể được dùng làm cơ sở để giải thích cho các triệu

8
chứng mạn tính như: đau bụng, thay đổi số lần đại tiện, đầy hơi chướng bụng.
Bệnh nhân bị HCRKT chủ yếu do sù thay đổi chức năng cảm giác nội tạng

9
Theo các tác giả Bearcoft 1998 [43] , Sanger [53] và Maxton [50] cho
thấy: những trường hợp sau khi ăn, nồng độ 5-HT trong máu người bệnh tăng
cao hơn rõ rệt so với người bình thường sẽ dẫn đến phản ứng quá mẫn nội
tạng, đồng thời 5-HT cũng là chất chủ yếu gây đại tiện lỏng trên bệnh nhân
HCRKT. Còn những trường hợp nồng độ 5-HT giảm thì mức độ hưng phấn
của vỏ não giảm, thậm chí xuất hiện hiện tượng ức chế gây giảm nhu động ruột,
và xuất hiện táo bón. Để giảm cảm giác khó chịu có thể sử dụng các chất ức chế
chọn lọc 5-HT
3
tác dụng thần kinh cảm giác bên ngoài mà không ảnh hưởng đến
việc co bóp hay bài tiết ruột. Một số chất dẫn truyền thần kinh khác có thể có vai
trò quan trọng trong rối loạn chức năng dạ dày - ruột như: acetylcholin, chất P,
polypeptid hoạt hóa adenylat cyclase của tuyến yên, oxid nitric.
1.2.2.4. Yếu tố tâm lý
Nhiều nghiên cứu cho thấy, trong số những bệnh nhân bị HCRKT, có
khoảng 50-90% người có triệu chứng tâm lý bất thường như: lo âu, băn khoăn
lo lắng, hay quên, nóng nảy… [54]. Những triệu chứng này phản ánh trạng
thái tâm lý của bản thân người bệnh chứ không phản ánh ảnh hưởng của bệnh.
Những nghiên cứu trên cũng chứng tỏ các triệu chứng tâm lý có thể có vai trò
quan trọng trong việc bệnh nhân quyết định đi khám bệnh. Căng thẳng tâm lý
thường gây trầm trọng các triệu chứng hoặc tái phát các triệu chứng lâm sàng
đã ổn định. Có lẽ yếu tố tâm lý không gây HCRKT nhưng chúng ảnh hưởng
đến cách đáp ứng của bệnh nhân đối với tình trạng bệnh của họ, hay nói cách
khác nó là hậu quả của tình trạng bệnh lý kéo dài này. Do hiểu biết không đầy
đủ và lại quá lo lắng về bệnh, nên người bệnh đã thường xuyên tìm đến thầy
thuốc. Mặc dù vậy, bất thường về tâm lý không phải là yếu tố gây bệnh nhưng
là một mắt xích trong vòng xoắn cơ chế bệnh sinh của HCRKT thông qua hệ
thống thần kinh thực vật và trục não ruột. Vì những bệnh nhân bị các bệnh


lý, trong đó các trung tâm dưới vỏ có vai trò quan trọng nhất. Hệ thống thần
kinh của đại tràng có công năng chủ động ức chế vận động của đại tràng, tham
gia điều tiết sự vận chuyển, bài tiết, hấp thu và tuần hoàn của đường tiêu hoá.
Đau bụng hoặc biến đổi nhu động và thãi quen của ruột có thể do rối loạn điều
hoà hoạt động ở một hay nhiều vị trí trong đường truyền thông tin hai chiều
giữa hệ thần kinh ruột (hệ tiêu hoá) và hệ thần kinh trung ương (não – tủy
sống) [57]. Trong não có một chất quan trọng liên quan đến cơ chế sinh bệnh
của HCRKT, đó là 5-HT. Đây là một trong những chất chủ yếu dẫn truyền
thần kinh tham gia điều tiết vận động đường ruột. Ở những bệnh nhân
HCRKT thể táo, hàm lượng 5-HT trong não giảm, đồng thời cũng giảm mức
độ hưng phấn trong vỏ não. Ngược lại, ở bệnh nhân HCRKT thể lỏng, do 5-
HT tăng nên có hiện tượng hưng phấn. Nhiều chất bao gồm cả 5-HT có thể
tham gia dẫn truyền cảm giác đau và điều chỉnh tâm trạng, hành vi. Kết quả
nghiên cứu gần đây cho thấy, sự thay đổi trong việc truyền đạt thông tin miễn
dịch và thần kinh nội tiết tại ruột tới thần kinh trung ương có thể khởi động
một loạt hiện tượng làm tăng những thay đổi quá mẫn mãn tính trong nội tạng
và các cơ chế trung ương kiểm soát đau, là bằng chứng về rối loạn điều hòa
trục não - ruột [50]. Vai trò của hệ thần kinh thực vật cũng rất quan trọng
trong cơ chế bệnh sinh HCRKT. Những yếu tố căng thẳng về tâm lý thường
thấy trên bệnh nhân HCRKT thể táo (do thần kinh giao cảm bị kích thích),
biểu hiện thần kinh phó giao cảm bị kích thích thường thấy trên bệnh nhân
HCRKT thể lỏng; Như vậy, mất thăng bằng thần kinh thực vật tại chỗ có liên
quan đến cơ chế bệnh sinh của HCRKT [21, 59].
1.2.3. Triệu chứng HCRKT
1.2.3.1. Triệu chứng cơ năng
* Các triệu chứng về tiêu hoá

12
+ Đau bụng: Là triệu chứng thường gặp [13].
-Vị trí đau: lan toả hoặc khu trú, thường gặp ở hố chậu trái và vùng rốn

- Các rối loạn về tiết niệu và sinh dục: Có số lần đi tiểu nhiều, có cảm
giác tức bàng quang, ở nữ có đau bụng kinh, đau khi giao hợp [20, 22].
Mặc dù các triệu chứng cơ năng trên diễn biến kéo dài nhưng thể trạng
của người bệnh vẫn bình thường, không sút cân. Do tính chất mãn tính và hay
tái phát nên ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng cuộc sống.
1.2.3.2. Triệu chứng thực thể [20, 34, 36]
- Toàn thân: Bệnh nhân có thể trạng chung tương đối bình thường mặc
dù bệnh mãn tính kéo dài nhiều năm.
- Khám bụng: Có thể thấy hiện tượng co thắt của đại tràng nhưng dễ
thay đổi vị trí, thường bộc lé dấu hiệu nhạy cảm đau ở phần tư bụng dưới trái
bên trên một khối đại tràng sigma sê được.
- Thăm trực tràng: Có thể có phản xạ co thắt.
1.2.3.3. Cận lâm sàng
- Nội soi đại tràng: Niêm mạc ruột có tăng tiết nhầy, tăng co thắt hoặc
giảm nhu động, có thể có xung huyết nhẹ và không có hiện tượng tổn thương
bệnh lý.
- X quang khung đại tràng: Không có hình ảnh bệnh lý. Thường thấy
hình ảnh rối loạn nhu động co bóp ở đại tràng như tăng vận động ngấn ngang
sâu, co thắt hình ống, giảm vận động, ( hình chồng đĩa, hình thẳng đuỗn).
- Xét nghiệm huyết học, hoá sinh: Không có biểu hiện bệnh lý.
- Xét nghiệm phân: Soi phân không có ký sinh trùng amip, không có
máu. Cấy phân không có vi khuẩn gây bệnh, nấm.

14
- Xét nghiệm mô bệnh học (sinh thiết niêm mạc đại – trực tràng):
Không có dấu hiệu bệnh lý nh- viêm, loét, khối u, polip.
1.2.4. Chẩn đoán
*Lâm sàng
Gần đây, nhiều nghiên cứu đã rót ra được những biểu hiện khác nhau có
ý nghĩa về triệu chứng lâm sàng giữa HCRKT với các bệnh ruột có tổn thương

+ Các triệu chứng trên xảy ra trong 3 tháng gần đây cùng với những triệu
chứng đầu tiên khởi phát 6 tháng trước khi chẩn đoán bệnh.
+ Theo dõi lâm sàng về tần xuất đau và khó chịu ở bụng Ýt nhất 2 ngày/ tuần
là tiêu chuẩn quan trọng.
Theo các chuyên gia về tiêu hóa, tiêu chuẩn Rome III dễ áp dụng hơn
trong thực tế lâm sàng. Cho nên, khi tiến hành nghiên cứu về lâm sàng của
HCRKT, đã áp dụng tiêu chuẩn Rome III .
* Cận lâm sàng: Không có xét nghiệm nào đặc hiệu cho HCRKT, cho nên khi
chẩn đoán thường phải kết hợp triệu chứng lâm sàng với các xét nghiệm khác
để loại trừ những bệnh có tổn thương thực thể [34], [36].
- Xét nghiệm máu: Xác định số lượng hồng cầu, bạch cầu, công thức
bạch cầu, tốc độ máu lắng để phát hiện trường hợp thiếu máu và viêm nhiễm.
- Xét nghiệm phân: Tìm máu Èn, tìm vi khuẩn, nấm, ký sinh trùng
trong phân để loại trừ bệnh viêm đại tràng do vi khuẩn hoặc ký sinh trùng.
- Nội soi đại tràng : Để loại trừ các bệnh như Políp; viêm, loét đại
tràng; ung thư.
- Sinh thiết niêm mạc đại tràng để xét nghiệm mô bệnh học: Để loại trừ
viêm đại tràng vi thể (như viêm đại tràng Lympho và viêm đại tràng
Collagen).
1.2.5. Điều trị hội chứng ruột kích thích.

16
1.2.5.1. Nguyên tắc điều trị [37].
* Chủ yếu là điều trị triệu chứng vì: trong hầu hết các trường hợp, không điều
trị khỏi bệnh do chưa có loại thuốc nào đem lại lợi Ých nổi bật cho HCRKT
và chưa có một phương thức điều trị cụ thể nào có hiệu quả cho tất cả bệnh
nhân HCRKT.
* Không dùng thuốc kháng sinh trừ trường hợp bội nhiễm.
* Coi trọng các liệu pháp không dùng thuốc.


qua thăm khám cũng như cử chỉ và thái độ thân thiện khi cho đơn thuốc.
1.2.5.4. Điều trị bằng thuốc.
* Thuốc giảm đau, chống co thắt.
- Atropin và Scopolamin là thuốc kháng Cholinergic có tác dụng giảm
nhu động ruột khi bị co thắt và tăng nhu động.
- Mebeverine (Duspatalin) là thuốc chống co thắt hướng cơ trơn có tác
dụng chọn lọc qua hệ thống thần kinh thực vật trên sợi cơ trơn của hệ tiêu hoá
không thông qua chất trung gian hoá học. Thuốc được sử dụng phổ biến trong
điều trị HCRKT vì chống co thắt cơ nhưng không làm giảm trương lực cơ, có tác
dụng điều hoà vận động của ruột và điều hoà sự tăng nhạy cảm của ruột [3].
- Trimebutin (Debridat): Điều hoà chức năng vận động đường tiêu hoá
bằng cách kích thích các thụ thể enkephalinergic ở ruột khi có rối loạn nhu
động [3].
* Thuốc chống tiêu chảy.
- Thuốc kháng cảm thụ thể 5-HT
3
: thường dùng alosetron điều trị
HCRKT có đau và tiêu chảy nặng chiếm ưu thế ở nữ giới, mà không có đáp
ứng đối với các liệu pháp thông thường. Thuốc có tác dụng tương đối chọn lọc

18
và mạnh, làm chậm vận chuyển của ruột do làm giảm tính kích thích của ruột
ở bệnh nhân HCRKT [36, 51].
- Loperamide (Imodium) có tác dụng điều trị tiêu chảy nhưng không có
tác dụng giảm đau, tăng sức chịu đựng của bệnh nhân bằng cách tăng trương
lực hậu môn lúc nghỉ [3].
- Ngoài ra có thể dùng Smecta, Actapulgite cũng có tác dụng cầm tiêu chảy.
* Thuốc chống táo bón
- Thuốc nhuận tràng như: Duphalac, Movicol, Folax có tác dụng kích
thích niêm mạc, làm tăng thể tích và gây mềm phân [3].

1.3.1. Nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh của HCRKT theo quan niệm HCT
Theo quan niệm YHCT, bệnh cửu tả phát sinh do các nguyên nhân sau
[4, 5, 6, 8, 10, 40, 68].

1.3.1.1. Do nội nhân (thất tình)
Khi tình chí bị thất thường sẽ dẫn đến công năng của các tạng phủ bị rối loạn
hoặc hư tổn, trong đó bệnh có liên quan chặt chẽ đến các tạng Can, Tỳ, Thận.
Nếu giận dữ tổn hại đến Can, Can chủ sơ tiết sẽ mất chức năng điều đạt,
khí trệ không thông, thậm chí gây huyết ứ, mạch lạc bế tắc trở trệ dẫn đến đau
bụng (Phóc thống). Can khí uất kết, hoành nghịch thừa Tỳ phạm Vị làm Tỳ Vị
sinh rối loạn, hư yếu, công năng vận hoá của Tỳ bị suy giảm (Tỳ chủ vận
hoá), Tỳ khí chủ thăng, nay không thăng được, giáng xuống gây nên tiết tả.
Sách “Y học chuẩn thằng” của Trương Tam Tích có viết: “giận dữ hại can, tà
của méc khắc thổ đều sinh ra ỉa chảy”. Trương Cảnh Nhạc có viÕt: “phàm vì
giận dữ mà sinh ra tiết tả, là vì trong giận dữ có kiêm cả thương thực làm tổn
thương đến Tỳ Vị”.
Nếu lo lắng, suy nghĩ, buồn phiền nhiều thì tổn thương đến Tỳ, nhất là
trên những người vốn Tỳ hư yếu khiến vận hoá của Tỳ càng kém đi do Can
khí lấn Tỳ (Can uất, Tỳ hư), khí cơ không thông gây nên đau bụng, rối loạn
đại tiện. Đau là do Can, tiết tả là do Tỳ. Triệu chứng của bệnh là do Tỳ Vị
nhưng gốc bệnh ở Can. Can méc khắc Tỳ thổ làm Tỳ mất kiện vận mà gây

20
nên tiết tả, khí cơ không điều hòa gây ra đau bụng. Nếu thực thì triệu chứng
bệnh ở Dương minh Vị, hư thì triệu chứng bệnh ở Thái âm Tỳ, dương bệnh thì
thuộc phủ (Vị trường), âm bệnh thì thuộc tạng (Tỳ Thận).
Ngoài ra, Can uất mất điều đạt làm khí cơ ngưng trệ (hoá nhiệt) không có
khả năng truyền tống dẫn đến bụng chướng, đại tràng bí kết. Mặt khác Tỳ hư
huyết thiếu, không có khả năng làm đại tràng nhuận hạ mà gây ra tiện bí.
1.3.1.2. Bất nội ngoại nhân (yếu tố ăn uống)

bổ mệnh môn hỏa; thần dược lấy ngô thù du để giúp ôn trung tán hàn; nhục
đậu khấu: ôn trung sáp trường, quân thần tương hợp; ngò vị tử: sáp trường cố
sáp; sinh khương, đại táo: điều hoà Tỳ Vị là tá sứ. Tác dụng chÝnh của
phương này là ôn bổ Tỳ Thận, sáp trường chỉ tả, nhưng lấy bổ Thận làm chủ.
1.3.2.2. Thể Tỳ khí hư nhược
* Chứng trạng: Ăn kém, đại tiện nhiều lần, phân lỏng nát hoặc phân sống,
bụng đầy khó chịu, sắc mặt vàng úa, người mệt mỏi vô lực; lưỡi nhợt, rêu
trắng; mạch tế nhược.
* Phép chữa: Ých khí kiện Tỳ, thảm thấp chỉ tả.
* Phương thuốc: Sâm linh bạch truật tán (Thái bình huệ dân hoà tễ cục
phương):
Đẳng sâm 20g Hoàng kỳ 15g Bạch truật 15g Bạch linh 15g
Sa nhân 6g Trần bì 6g Cát cánh 6g Biển đậu 20g
Liên nhục 15g Ý dĩ 30g Hoắc hương 12g Cam thảo 6g
* Giải thích: Trong phương dùng đẳng sâm, bạch truật, bạch linh, cam thảo,
hoàng kỳ để kiện Tú, Ých khí, làm quân dược; phối hợp với biển đậu, ý dĩ để
trừ thấp; liên nhục giúp bạch truật kiện Tú; gia thêm sa nhân, trần bì, hoắc

22
hương là các vị tân ôn, phương hương, tỉnh Tỳ, điều hòa khí cơ trên dưới; cát
cánh: khai tuyên phế khí, giúp cho phân bố khí đi nuôi dưỡng toàn thân.
1.3.2.3. Thể khí trệ
* Chứng trạng: Tính tình hay cáu gắt, đại tiện bí kết, muốn đi ngoài nhưng
không đi được, bụng chướng đau; rêu lưỡi trắng; mạch huyền.
* Phép chữa: Thuận khí hành trệ.
* Phương thuốc: Lục ma thang (Thế y đắc hiệu phương) gia vị:
Trầm hương 9g Ô dược 12g Chỉ thực 20g
Binh lang 12g Uất kim 12g Đại hoàng 6g
Méc hương 12g Hậu phác 9g Phục linh 12g
* Giải thích: Chọn dùng trầm hương, binh lang để giáng khí, hạ khí. Méc

gia giảm”. Hoặc trong cuốn “Giản minh phương tễ từ điển” của nhà xuất bản
khoa học Thượng hải [66] cũng nói đến bài TTYP có ở trong “Đan khê tâm
pháp” với liều Bạch truật 3 lượng (12g), Bạch thược 2 lượng (8g), Trần bì 1
lượng rưỡi (6g), phòng phong 1 lượng (4g), sắc uống ngày một thang chia 2 lần.
Chóng tôi đã chọn liều lượng này của bài thuốc trong đề tài nghiên cứu.
Theo sách phương tễ học (Nhà xuất bản trung y dược Trung Quốc,
2003:87) và sách phương tễ học (Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật Quý Châu-
Trung Quốc, 1992:117) đã phân tích: HCRKT do Tỳ hư, Can méc khắc Tỳ thổ
dẫn tới Tỳ vận hoá thất thường mà gây ra bệnh nên dùng bài thuốc “Thống tả
yếu phương” với thành phần như trên ngày uống 01 thang, uống 02 lần/ngày
hoặc làm viên hoàn uống có tác dụng bổ Tỳ nhu Can, tiêu thấp chỉ tả.

24
Gần đây, một số tác giả nh-: Trương Địch [63], Chuyện Quân, Hạ
Hoằng Cúc [69] dùng “Thống tả yếu phương” hợp “Tứ thần hoàn” điều trị
những thể bệnh phối hợp có hiệu quả tốt. Tỷ lệ khỏi đạt > 60%, đỡ > 20%.
Trong bài thuốc:
+ Bạch truật (Thân rễ to hay còn gọi là củ)
- Tên khoa học: Rhizoma Atractylodis Macrocephalae là thân rễ phơi hay sấy
khô của cây Bạch truật (Atractylodes Macrocephala Koidz). Họ Cóc
(Asteraceae)
Ảnh 1.1: Hình ảnh cây và vị thuốc Bạch truật
- Thành phần hoá học: có tinh dầu 1,4% (chủ yếu là Atractylola và
Atractylon), có vitamin A.
- Tính vị qui kinh: vị ngọt, đắng, tính ôn. Vào 2 kinh Tỳ và vị.
- Tác dụng: Ých khí kiện Tú, táo thấp lợi niệu, hoà trung an thai, cố biểu chỉ
hãn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status