KHÁM MẠCH MÁU NGOẠI BIÊN
I/ TRIỆU CHỨNG CƠ NĂNG :
- Đau cách hồi : đau thoáng qua ,phát sinh khi gắng sức, dịu đi khi nghỉ ngơi.
Đây là dấu hiệu đặc trưng của tình trạng suy tuần hoàn động mạch ở một chi.
- Đau do thiếu máu cục bộ về đêm : thường xảy ra vào cuối đêm, giảm thiểu
trong tư thế ngồi buông thõng chân, là biểu hiện của một tình trạng thiếu máu cục
bộ trầm trọng và có thể là tiền triệu của chứng hoại thư .
- Đau khởi phát do lạnh, nóng.
- Đau phát sinh trong tư thế đứng : suy tĩnh mạch mạn ,giãn tĩnh mạch chi dưới.
II./ TRIỆU CHỨNG THỰC THỂ :
1/ Khám các chi : khám chi trên trước sau đó khám chi dưới. Quan sát theo thứ tự
sau :
(1) Móng
(2) Màu sắc da và nhiệt độ. Ghi nhận sự thay đổi nhiệt độ màu sắc ở chi dưới.
(3) Phân bố lông
(4) Mô hình tĩnh mạch
(5) Sự phù hoặc sự teo
(6) Mạch động mạch ngoại biên : dùng hai ngón tay (trỏ và giữa) để sờ
mạch, làm tắc mạch máu và thả ra từ từ. Đối với mỗi mạch, ghi nhận theo thứ tự
sau: tần số, nhịp nhàng, biên độ và độ đàn của thành mạch. Kiểm tra những mạch
sau: quay, cánh tay, mu chân, chày sau, đùi.
(7) Đánh giá trương lực mạch máu :
Co mạch gây ra bởi hút thuốc lá , sợ hãi hoặc lạnh. Co mạch thể hiện bởi sự
xanh tái , lạnh , tím ,tĩnh mạch ngoại biên xẹp.
Giãn mạch gây ra bởi nóng, gắng sức, rượu. Giãn mạch thể hiện bởi sự đỏ da,
ấm, sự căng của tĩnh mạch ngoại biên.
2/ - Đo huyết áp :
2.1 Cách đo huyết áp :
Người bệnh được nằm hoạc ngồi thoải mái , cánh tay hơi gấp đặt ngang tầm tim.
2.1.1- Quấn bao đo huyết áp trên nếp khuỷu 2cm
(4) Sự khác biệt 5 – 10 mmHg giữa hai tay thường gặp
(5) Sự đứng thường gây thay đổi nhỏ trên huyết áp như : có sự
giảm nhẹ của huyết áp tâm thu (+ 10mm Hg ) và sự tăng nhẹ của huyết áp tâm
trương ( +5mmHg ).
(6) Bình thường huyết áp tâm thu ở chi dưới cao hơn huyết áp này ở chi trên
khoảng 10 – 20 mmHg .
2.1.9 – Những sai lầm thường gặp :
(1)Bao có kích thước nhỏ : Ở người béo phì ,sự tăng huyết áp giả có thể ghi nhận
được. Đôi khi phải áp bao huyết áp ở cẳng tay và chỉ đo được huyết áp tâm thu
bằng cách sờ mạch .
(2) Bao có kích thước lớn : Ở bệnh nhân gầy, sự hạ huyết áp giả có thể đo được
(3) Bao lỏng lẻo : Sự tăng huyết áp giả
(4) Âm korotkoff yếu : huyết áp tâm thu có thể đo được bằng sờ .
2.2 – Các biểu hiện bất thường :
2.2.1 - Tăng huyết áp : sự tăng kéo dài của huyết áp toàn thân ( 140/90mm Hg
ở người lớn ). Sự tăng huyết áp dao động gặp phổ biến và không là tăng huyết áp
thực sự .
2.2.2 Hiệu áp rộng : sự khác biệt giữa huyết áp tâm thu và tâm trương lớn hơn bình
thường .
(1) Thường gặp trong tất cả các tình trạng có sự tăng thể tích nhát bóp như nhịp tim
chậm ,sốt ,thiếu máu ,tình trạng tăng chuyển hoá ( vd : 150/70mmHg)
(2) Hở van động mạch chủ làm thấp huyết áp tâm trương ( vd : 150/30 mmHg ).
(3) Giảm độ đàn hồi của những động mạch lớn ( người lớn tuổi ) gây tăng huyết
áp tâm thu ( vd : 165/80 mmHg ), được gọi là tăng huyết áp tâm thu đơn thuần.
2.2.3 Hạ huyết áp : huyết áp tâm thu < 90/60 mmHg .
(1) Nhiều trẻ em và một số người lớn bình thường có huýết áp khoảng 90 mmHg
(2) Choáng không hiện diện trừ khi có triệu chứng của giảm tưới máu các cơ quan
như : ngất , vã mồ hôi , tiểu ít và lú lẫn .
(3 ) Hạ huyết áp toàn thân hoặc choáng : có thể do cung lượng tim giảm ,kháng
lực ngoại biên giảm hoặc thể tích máu giảm và thường đi kèm với chóng mặt, mờ
giây và không có sự đổ đầy thêm sau khi tháo dây thắt : nghiệm pháp âm tính chỉ
định cả hai tĩnh mạch hiển lớn và các nhánh tĩnh mạch xuyên hoạt động bình
thường .
- Nghiêm pháp dương tính : tĩnh mạch tràn đầy máu một cách bình thường
nhưng có sự dồn máu nhanh từ phía trên ( 1 – 10 giây ) sau khi tháo dây thắt, chỉ
định sự mất khả năng của tĩnh mạch hiển lớn nhưng các tĩnh mạch xuyên vẫn hoạt
động bình thường .
- Nghiêm pháp dương tính kép : Các tĩnh mạch bị đổ đầy nhanh ( chưa đến 35
giây ) và có sự dồn máu từ phía trên khi tháo dây thắt, chỉ định sự mất khả năng
của cả hai tĩnh mạch hiển và các tĩnh mạch xuyên.
4.3/ - Nghiêm pháp Perthes : Đánh giá khả năng của tĩnh mạch sâu
- Buộc dây thắt vào phần giữa đùi sau khi cho người bệnh đứng và hệ tĩnh mạch
tràn đầy máu .
- Yêu cầu người bệnh đi lại trong 5 phút và quan sát phản ứng của các tĩnh mạch
ở phần dưới dây thắt :
Các tĩnh mạch xẹp : tĩnh mạch xuyên và tĩnh mạch sâu hoạt động bình thường
Các tĩnh mạch không thay đổi thể tích : tĩnh mạch hiển và tĩnh mạch xuyên đều
bị suy yếu
Các tĩnh mạch có biểu hiện tăng thể tích và đau : tĩnh mạch sâu bị tắc .