Nghiên cứu kết quả và tai biến trong tán sỏi niệu quản nội soi ngược dòng tại bệnh viện thanh nhàn hà nội - Pdf 19

đặt vấn đề
Sỏi đường tiết niệu là bệnh thường gặp, chiếm khoảng 28 - 30% bệnh lý
đường tiết niệu, trong đó sỏi niệu quản lại chiếm khoảng 30 % - 40% trong số
bệnh lý sỏi tiết niệu, tuổi thường gặp trong khoảng từ 30- 50. việt nam là
nước nằm trong khu vực có tỷ lệ bị sỏi đường tiết niệu cao theo bản đồ của
humberger và higgins.
Nguy cơ mắc bệnh sỏi tiết niệu là 12% đối với nam và 4-5 % đối với nữ
(stephen w leslie 2006)tỷ lệ tái phát sái sau 1 năm 5 năm 10 năm tương ứng
khoảng 14%, 35% và 52% (sandy Craig 2005)
Sỏi niệu quản 80% từ trên thận di chuyển xuống, sỏi có thể mét hay
nhiều viên ở các vị trí khác nhau, 1/3 trên, 1/3 giữa hay 1/3 dưới của niệu
quản. sỏi niệu quản gây cơn đau quặn thận bít tắc đường niệu phía trên vị trí
sỏi nằm, gây tổn thương thận nhanh chóng, nếu không điều trị kịp thời, giải
phóng sự bít tắc hoặc sỏi niệu quản kèm theo viêm nhiễm ứ mủ, sỏi niệu quản
2 bên, sỏi niệu quản trên bệnh nhân một thận duy nhất thì tình trạng bệnh trở
nên nặng nề hơn rất nhiều dễ gây thiểu niệu, vô niệu, nhiễm trùng huyết, suy
thận có thể gây tử vong cho bệnh nhân
Chẩn đoán sỏi niệu quản dựa vào các triệu chứng lâm sàng và cận lâm
sàng trong đó chẩn đoán hình ảnh đóng vai trò hết sức quan trọng, các
phương pháp như: chụp phim hệ tiết niệu không chuẩn bị, siêu âm, chụp niệu
đồ tĩnh mạch một số trường hợp đặc biệt chẩn đoán sẽ là khó khăn nếu sỏi
có kích thước nhỏ, nằm ở đoạn chồng lên xương, độ cản quang kém có thể
làm thêm các biện pháp thăm dò khác như: chụp niệu quản-bể thận ngược
dòng, chụp CT scaner, nọi soi niệu quản ngược dòng
Trước đây sỏi niệu quản chủ yếu là điều trị can thiệp lấy sỏi, sỏi nhỏ thì
điều trị nội khoa hy vọng bệnh nhân có thể tự tiểu ra được, từ cuối thế kỷ20
1
trên thế giới có nhiều phương pháp điều trị sái Ýt gây tổn thương cho bệnh
nhân như: tán sỏi ngoài cơ thể (ESWL – Extracoporeal Shock Wave
Lithotripsy), tán sỏi qua da (Percutaneous nephrolithotripsy), tán sỏi niệu
quản nội soi ngược dòng (Retrograde Ureteroscopy lithotripsy), mổ nội soi

Niệu quản là một ống dẫn nước tiểu từ bể thận xuống bàng quang, nằm sau
phóc mạc, dọc hai bên cột sống thắt lưng và Ðp sát vào thành bụng sau, niệu
quản bắt đầu từ khúc nối bể thận - niệu quản đi thẳng xuống eo trên, rồi bắt
chéo động mạch chậu, chạy vào chậu hông rồi chếch ra trước và đổ vào bàng
quang. Niệu quản dài khoảng từ 25 - 28 cm, bên phải ngắn hơn bên trái
khoảng 01 cm, đường kính ngoài khoảng 04 – 05 mm, đường kính trong
khoảng 03-04 mm, khi đường kính trong của niệu quản > 07 mm gọi là giãn
niệu quản. dọc theo chiều dài của niệu quản có 04 chỗ hẹp sinh lý đó là, chỗ
khúc nối giữa bể thận và niệu quản 02 mm, chỗ bắt chéo động mạch chậu
04mm, chỗ nối tiếp niệu quản bàng quang, lỗ niệu quản 03mm. Niệu quản
chia làm 04 đoạn liên quan
* Đoạn bông: dài từ 09- 11cm, liên quan ở sau với cơ thắt lưng, các dây
thần kinh đám rối thắt lưng ( thần kinh sinh dục đùi), với các mỏm ngang của
đốt sông thắt lưng cuối cùng (L2-L5), phía trong bên phải với tĩnh mạch chủ,
bên trái với động mạch chủ, cung đi song song với niệu quản xuống hố chậu
có tĩnh mạch sinh dục
* Đoạn chậu: dài 03-04 cm, bắt đầu khi đi qua cánh xương cùng tới eo
trên của xương chậu, liên quan với động mạch chậu: bên trái, niệu quản bắt
3
chéo động mạch chậu gốc trên chỗ phân nhánh 1,5 cm bên phải niệu quản bắt
chéo động mạch chậu ngoài duới chỗ phân nhánh 1,5 cm, cả hai niệu quản
đều cách đường giữa 4,5 cm tại nơi bắt chéo động mạch. Tại đây niệu quản
vắt qua động mạch thường gây hẹp, là điều kiện cho sỏi dừng lại gây bệnh sỏi
niệu quản
* Đoạn chậu hông: dài 12 - 14 cm, niệu quản chạy từ eo trên xương chậu
tới bàng quang, đoạn này niệu quản đi cạnh động mạch chậu trong chạy chếch
ra ngoài và ra sau theo đuờng cong của thành bên xương chậu. Tới nền chậu
hông chỗ gai ngồi thì vòng ra trước và vào trong để tới bàng quang, liên quan
của niệu quản phía sau với khớp cùng chậu, cơ bịt trong, bó mạch thần kinh bịt
bắt chéo phía sau niệu quản, Phía trước liên quan khác nhau giữa nam và nữ

- Các tĩnh mạch nhận máu từ niệu quản đổ về tĩnh mạch bàng quang,
tĩnh mạch chậu dưới, tĩnh mạch thận ở trên.
- Hệ thần kinh chi phối niệu quản là hệ giao cảm và phân bố theo động
mạch. Chúng có nguồn gốc từ đám rối thận, đám rối tinh và đám rối hạ vị,
gồm sợi vận động chi phối cho cơ trơn thành niệu quản, và các sợi cảm giác
mang cảm giác đau khi có sự căng đột ngột thành niệu quản.
1.1.1.3. CÊu trúc mô học niệu quản
Thành niệu quản dày 1 mm có cấu trúc gồm 3 líp [152], [144], [94]:
- Lớp niêm mạc: Niêm mạc niệu quản liên tục với bể thận ở trên và bàng
quang ở dưới, bao gồm lớp tế bào biểu mô chuyển tiếp được đệm bởi tổ chức
sợi sơ có khẳ năng so giãn. Cấu tạo lớp niêm mạc cho phép niệu quản căng và
xẹp trong khi nhu động. Lớp niêm mạc có độ dày khác nhau, từ sáu lớp tế bào
đoạn niệu quản trong thành bàng quang, và hai lớp tế bào đoạn niệu quản chỗ
nối với bể thận.
5
- Lớp cơ: Gồm 3 lớp, lớp trong là lớp cơ dọc, lớp giữa là lớp cơ vòng, lớp
ngoài thô sơ gồm vài bó cơ dọc. Lớp cơ niệu quản sắp xếp theo kiểu vòng xoắn
- Líp bao ngoài: Lớp áo vỏ xơ, liên tiếp với lớp vỏ xơ trên thận và ở dưới
với bàng quang. Có nhiều mạch máu nối tiếp nhau, hệ thống thần kinh và một
số tế bào hạch chi phối hoạt động của niệu quản.
1.1.1.4. Giải phẫu niệu quản ứng dụng trong lâm sàng, và trong nội soi
niệu quản ngược dòng
* Khi tìm một viên sỏi niệuquản trên phim chụp hệ tiết niệu thường,
người đọc tưởng tượng ra đường đi của niệu quản liên quan với cột sống.
Niệu quản nằm dọc theo đỉnh của các mỏm ngang, bắt chéo trước khớp cùng
chậu, vòng ra ngoài rồi sau đó đi vào trong tới bàng quang. Một bóng mờ nằm
trên đường này có thể nghi ngờ là viên sỏi.
Trong khi mổ thận biết niệu quản dựa vào các mốc giải phẫu như: niệu
quản nằm áp sát phía trước cơ thắt lưng chậu, tĩnh mạch sinh dục, nhu động
của niệu quản và màng lưới mạch máu quanh niệu quản.

Bệnh nhân nam trẻ tuổi đôi khi khối cơ thắt lưng chậu phát triển mạnh,
gây nên đoạn niệu quản bụng bị đẩy lệch hướng làm cho đưa máy soi niệu
quản lên đoạn trên gặp nhiều khó khăn.
Trong quá trình soi niệu quản phải tôn trọng sự mềm mại của niệu
quản. Chỉ cần đẩy dây dẫn vào thành niệu quản đoạn gấp khúc cũng có thể
làm thủng niên mạc niệu quản, khi đưa ống soi trong lòng niệu quản không đủ
rộng có thể gây trợt niêm mạc niệu quản tạo thành một nếp gờ làm cản trở
cho quá trình soi. Trong lúc này nếu tiếp tục đẩy máy lên sẽ gây bong niêm
7
mạc niệu quản khỏi lớp dưới niêm mạc, gây nên thiếu máu nuôi dưỡng và hậu
quả có thể làm hẹp niệu quản sau này.
Thành niệu quản đoạn trên và bể thận mỏng hơn so với đoạn niệu quản
dưới bàng quang. Niêm mạc niệu quản đoạn trên chỉ có 1 – 2 líp, so với niệu
quản đoạn dưới có 4 – 5 líp [144]. Vì vậy khi sinh thiết hay nong niệu quản
đoạn trên dễ gây thủng niệu quản hơn vị trí niệu quản dưới.
Đường uốn cong và sự di động của niệu quản: Nếu nhìn từ trong niệu
quản qua èng soi thì thấy đường đi của niệu quản từ bàng quang lên bể thận
phải thay đổi hướng nhiều lần, làm cho người ta nghĩ khó có thể đưa được
ống soi cứng lên niệu quản. Tuy nhiên, một loạt các tác giả đã chứng minh
được rằng có thể đưa được ống soi cứng vào trong niệu quản – bể thận. Èng
soi sau khi đi qua lỗ niệu quản phải hướng về phía sau đi sát thành bên khung
chậu, rồi hướng ra trước khi vượt qua các động mạch chậu chung, tiếp tục
hướng ra phía trước để vượt qua cơ đái chậu và lại hướng về phía sau khi lên
bể thận. Sự ra đời của ống nội soi niệu quản mềm đã làm cho việc đưa ống soi
lên niệu quản nhẹ nhàng hơn.
Ở nam giới niệu đạo dài, vì vậy khi đưa ống soi lên đoạn niệu quản trên
khó khăn hơn nữ giới, đặc biệt là trong trường hợp sau khi gây tê tuỷ sống
bệnh nhân bị cương dương vật. Đối với bệnh nhân bị u phì đại tuyến tiền liệt,
thuỳ giữa to cũng gây khó khăn nhiều khi đưa ống soi trong niệu quản. Để tạo
thuận lợi hơn khi đặt ống soi niệu quản có khi phải để bệnh nhân ở những tư

niệu quản.
* Sinh lý chuyển động của nước tiểu trong niệu quản:
Khi nước tiểu được đẩy từ bể thận xuống niệu quản, sóng co bóp của
niệu quản xuất phát ở đầu trên niệu quản đẩy giọt nước tiểu xuống đoạn niệu
9
quản dưới. Giọt nước tiểu được đẩy xuống trước sóng co bóp của niệu quản,
như vậy niệu quản phía trên của giọt nước tiểu luôn luôn được khép lại ngăn
cản nước tiểu khỏi trào ngược. Một nhu động khác cứ như thế, lại đưa tiếp
giọt nước tiểu khác xuống dưới. Tốc độ di chuyển của làn sóng nhu động
khoảng từ 2 cm đến 6 cm trong 1 phót .
Người ta đã đo được 2 loại áp lực trong lòng niệu quản khác nhau:
- Áp lực tĩnh của niệu quản khoảng từ 0 đến 5 cm H
2
O.
- Áp lực co bóp của niệu quản: Thay đổi từ 20 – 80 cm H
2
O, tần số từ
đến 6 lần/1 phút (Kill, 1957; Ross, 1972), tuỳ theo từng đoạn của niệu quản
mà áp lực co bóp của niệu quản khác nhau tăng dần lên cao nhất ở đoạn niệu
quản bàng quang, nước tiểu được đẩy xuống bàng quang theo 1 chiều:
Áp lực ở
- Bể thận : 15 cm nước
- Đoạn thắt lưng: 20 – 30 cm H
2
O
- Đoạn chậu: 30 – 40 cm H
2
O
- Đoạn chậu hông: 40 – 50 cm H
2

trương lực cơ càng mất đi và dần dần sự hoạt động co bóp của các cơ thành
niệu quản mất hẳn, niệu quản dãn to và mất trương lực. Hiện tượng này có thể
hồi phục nếu nguyên nhân ứ tắc được giải quyết sớm.
1.1.3. Biến đổi giải phẫu và sinh lý đường tiết niệu trên do sỏi niệu quản
1.1.3.1. Những biến đổi về giải phẫu của thận và niệu quản
Niệu quản bị tắc nghẽn hoàn toàn sẽ gây nên giãn bể thận. Trong những
tuần đầu, trọng lượng của thận tăng lên do phù nề tổ chức quanh thận và niệu
quản. Sau 4 đến 8 tuần, trọng lượng nhu mô thận giảm vì sự xơ của mô thận
nhiều hơn là phù nề trong thận. Thận bị tắc nghẽn bắt đầu xuất hiện màu xanh
đen có những vùng thiếu máu, xung huyết, hoại tử, và nhồi máu.
11
Các thí nghiệm trên động vật cho thấy có sự thay đổi về vi thể khi thận
bị tắc nghẽn. Trong vài ngày đầu, ống lượn xa bị giãn ra, còn ống lượn gần thì
chỉ giãn vài ngày sau đó từ từ teo lại. Sau 28 ngày tắc nghẽn, độ dày của tuỷ
thận bị giảm đi 50%. Sau 8 tuần chỉ còn 1 cm độ dày của nhu mô thận, bao
gồm chủ yếu là mô liên kết và phần còn lại của tiểu cầu thận. Kính hiển vi
điện tử cho thấy màng lọc của cầu thận thay đổi khi niệu quản chỉ tắc nghẽn
trong vòng 30 tiếng, theo đó màng lọc dày lên, và các khe màng lọc tắc lại.
Khi niệu quản có sỏi bị tắc nghẽn không hoàn toàn sau 03- 10 ngày, lớp
đệm bị phá huỷ, lớp cơ phì đại, nếu tắc nghẽn dài ngày lớp cơ dày lên, dãn ra
rồi cuối cùng teo và xơ hoá, nơi sỏi nằm, thành niệu quản dày lên ôm lấy sỏi,
niệu quản ở phía dưới dày, lòng chít hẹp, nhu động niệu quản giảm, phía trên
giãn và cong queo, áp suất niệu quản giảm, thuận lợi cho nhiễm trùng tiết
niệu sảy ra, tại thận nerphon lóc đầu bị giảm, sau đó bị phá huỷ nhanh chóng,
cầu thận có hiện tượng viêm kẽ và xơ hoá từ tuỷ đến vỏ , nếu kéo dài ống thận
xẹp lại được thay thế bằng tổ chức xơ, cầu thận biến đi và xơ hoá, thận teo
nhá do vậy muốn ngăn ngừa tổn thương thận và niệu quản cần phải sớm lấy
sỏi ra sớm, trước khi có nhiễm khuẩn
Thận tắc nghẽn rất rễ bị nhiễm khuẩn kèm theo, và được chia làm 4 giai đoạn
- Giai đoạn 1: chủ yếu phù nề và viêm nhẹ ở vùng khe ( viêm nóng)

dẫn đến giảm lượng nước tiểu, tăng độ thẩm thấu, và nồng độ natri trong nước
tiểu thấp.
* Chức năng thận bị ảnh hưởng khi tắc niệu quản hoàn toàn mãn tính:
Dòng máu tới thận giảm xuống khi tắc niệu quản: sau 24 giờ giảm còn
70%, sau 72 giờ là 50%, sau 6 ngày còn 30%, sau 2 tuần giảm còn 20%, sau 4
- 6 tuần giảm còn 18%, sau 8 tuần giảm còn 12% (Moody, 1975). Dòng máu
13
tới thận giảm do hai hệ thống hormon tham gia vào co mạch là renin
-angiotension và prostaglandin – thromboxan đã tăng cường hoạt động.
Tốc độ lọc cầu thận giảm, một tuần sau khi tắc niệu quản hoàn toàn, tốc độ
lọc cầu thận là 1,74 ml/phút, sau 5 tuần là 0,4 ml/phút (Naber và Madsen, 1974).
* Sự phục hồi của thận sau khi giải phóng tắc niệu quản hoàn toàn:
Kerr (1954, 1956) và Vaughan (1973) xác định thận đối bên có vai trò
quan trọng trong việc phục hồi thận sau khi giải phóng tắc niệu quản. Thời
gian để cho thận phục hồi chức năng tối đa là sau khi giải phóng tắc niệu quản
4 tháng.
Thời gian tắc niệu quản ảnh hưởng đến sự phục hồi của chức năng
thận: trên thực nghiệm, ngay sau khi giải phóng niệu quản trên bệnh nhân tắc
niệu quản hoàn toàn 1 tuần, tốc độ lọc cầu thận còn từ 16 – 25% (Kerr, 1954).
Với niệu quản bị tắc 2 tuần, ngay sau khi giải phóng niệu quản khó đánh giá
được tốc độ lọc cầu thận, nhưng sau đó 1 tuần thì tốc độ lọc cầu thận đo được
là còn 15% (Vaughan, 1973), và sự phục hồi tối đa là 46%. Với niệu quản tắc
hoàn toàn 3 tuần, sau khi giải phóng tắc tốc độ lọc cầu thận đo được còn là
6%, phục hồi sau 6 tuần là 15%. Giải phóng niệu quản sau 4 tuần tắc nghẽn,
tốc độ lọc cầu thận còn 3%, sau 5 tháng lên 35% (Vaughan, 1971). Khi niệu
quản tắc hoàn toàn trong 6 tuần thì chức năng thận không hồi phục sau khi
giải phóng.
Sau khi niệu quản được giải phóng có sự khác biệt giữa tắc niệu quản
một bên và 2 bên. Đào thải nước tiểu và natri trong nước tiểu tăng mạnh đối
với sỏi niệu quản 2 bên, còn sỏi niệu quản 1 bên thì tăng từ từ và từng phần.

+ Acid uric: Chiếm 6%, màu nâu, không cản quang, hay gặp ở nam
giới, hay kết hợp với sỏi calcium oxalate, rất cứng.
15
+ Cystine: Chiếm 1- 2 %, màu trắng ngà, thành phần hầu nh chỉ có
cystine, đôi khi nó kết hợp với sỏi calcium phosphate, thường gặp ở người trẻ,
sỏi cứng, Ýt gặp ở Việt nam.
Trên thực tế, các thành phần này thường phối hợp với nhau để cấu tạo
thành sỏi hỗn hợp. Dựa vào mức độ cản quang sỏi trên phim, màu sắc sỏi có
thể tiên lượng được mức độ rắn hay mềm của sỏi.
1.1.4.2. Thuyết hình thành sỏi tiết niệu:
Cơ chế hình thành sỏi niệu quản cũng như sỏi thận là một bệnh chuyển
hoá mà quá trình hình thành sỏi rất phức tạp. Các thuyết hình thành sỏi tiết
niệu hiện nay người ta chia ra 4 học thuyết chính là: thuyết bão hoà quá mức,
thuyết chồng xếp các cấu trúc tinh thể
Thông thường có sự thăng bằng giữa tốc độ hoà tan và tăng trưởng của
các tinh thể trong dung môi. ở giai đoạn này chưa có sự kết tinh của tinh thể.
Nếu nồng độ các ion tăng đến mức báo hoà, đạt đến điểm gọi là “sản
phẩm hoà tan” (solubility product), thì sẽ hình thành giai đoạn chưa ổn định
(metasable) và sỏi có thể kết tinh trên một nhân dị chất. Nếu nồng độ các ion
tiếp tục tăng lên mức quá bão hoà, đạt đến điểm gọi là “sản phẩm tạo thành”
(formation product), sỏi sẽ kết tinh một cách tự nhiên trên một nhân đồng chất
ở giai đoạn không ổn định (unstable). Nhiệt độ và pH của môi trường tác
động lên các giai đoạn trên đay.
Các nhân sỏi được hình thành sẽ trôi theo dòng nước tiểu ra ngoài cơ
thể hoặc kết tụ lại với nhau, đặc biệt trong môi trường quá bão hoà. Trong các
nhân dị chất, phải kể đến hiện tượng “chồng xếp” (epitaxy) giữa 2 cấu trúc
tinh thể gần giống nhau. Khi phân tích thành phần sỏi, có thể phát hiện một số
thành phần hữu cơ thường có trong nước tiểu bình thường hay bị nhễm khuẩn,
một số tác giả gọi đó là khuôn đúc (matrix). Nếu sỏi phát triển nhanh hoặc
bám được vào một vị trí ở đường tiết niệu trên, bệnh sỏi đã được hình thành.

truyền trong gia đình theo thể nhiễm sắc thể thường (autosome) .
* Tuổi và giới:
Lứa tuổi xuất hiên bệnh nhiều nhất là 30 – 50 tuổi (Bailey, 1974). Còn
lứa tuổi mà bắt đầu hình thành sỏi nhiều nhất là 20, sau đó giảm dần ở những
lứa tuổi 30, 40 và 50. Theo kết quả của nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bệnh
sỏi niệu nam giới gấp 3 lần nữ giới. Tuy nhiên, Lonsdate (1968) dựa trên kết
quả mổ tử thi thì cho rằng tỷ lệ bệnh sỏi niệu tương đương giữa nam và nữ.
Có lý do được nói đến là do bệnh sỏi ở nam giới xuất hiện triệu chứng thường
rầm rộ hơn là nữ giới cho nên tỷ lệ phát hiện bệnh nhiều hơn.
* Các dị dạng bểm sinh:
Các dị dạng thường gặp như: hẹp chỗ nối niệu quản bê thận, phình to
niệu quản, niệu quản đôi…là nguyên nhân thuận lợi tạo sỏi, do ứ đọng nước
tiểu và nhiếm khuẩn.
* Địa lý, khí hậu:
Theo Schneider, tần số mắc bệnh từ 1 – 14%, tuỳ theo từng vị trí địa dư.
Những vùng địa lý mắc tỷ lệ bệnh sỏi cao như: ở Mỹ là vùng tây bắc, đông
nam và vùng đất khô cằn tây nam, và các vùng Scandinavian, các nước thuộc
địa ttrung hải, phía bắc Ên độ và Pakisstan, bắc Australia, trung tâm châu, một
số vùng Trung quốc, bán đảo Malayan. Một số vùng địa lý có tỷ lệ mắc bệnh
thấp là: Nam Mỹ, hầu hết các nước châu Phi, những thổ dân Australia…
Thành phần hoá học của sỏi tiết niệu cũng được phân bố địa lý (Lonsdale,
1968, Sutor và Wooley, 1970, 1971, 1974). Anh, Scotland, và Sudan thành phần
sỏi chủ yếu là phối hợp calcium oxalate và calcium phosphate…
Khí hậu nóng Èm theo màu làm tăng tỷ lệ bệnh sỏi tiết niệu do hiện
tượng mất nước nhiều, Prine và cộng sự nghiên cứu vùng đông nam nước Mỹ
(1956) cho thấy tỷ bệnh cao nhất ở các tháng 7, 8, 9, do nhiệt độ lên cao.
18
* Chế độ ăn uống:
Uống nhiều nước làm loãng nước tiểu có thể làm thay đổi hoạt động ion
giúp cho ngăn cản sự hình thành sỏi (Finlayson, 1974). Blacklock (1969) báo

phosphate (apatite) cản quang nhất và có mật độ tia như mức độ cản quang
tương tự xương. Sái calcium oxalate cũng cản quang mạnh. Sái Magnesium
ammonium phosphate (struvite) Ýt cản quang hơn và có từng lớp lởm chởm
không đồng đều. Sỏi cystine mật độ cản quang Ýt vì có chứa sulfur, độ dày
khoảng 3-4 mm thì mới nhìn thấy được trên phim. Sỏi không cản quang, sái
acit uric chiếm khoảng 10%.
* Chụp niệu đồ tĩnh mạch (UIV): Chụp thận thuốc tĩnh mạch được
Swick thực hiện đầu tiên từ năm 1927, cho đến nay phương pháp này vẫn là
một phương pháp đơn giản và cơ bản để đánh giá chức năng bài tiết của thận.
Nó có giá trị đánh giá cấu trúc, hình thể bình thường và bất bình thường của
các đài thận, bể thận, niệu quản, bàng quang, thông qua sự hiện hình của
thuốc cản quang ở từng bộ phận. Xác định được vị trí sỏi trong đường tiết
niệu, phát hiện những bất thường giải phẫu như giãn các đài thận, túi thừa đài
thận, thận đôi, tắc chỗ nối bể thận niệu quản, và các bất thường khác mà nó có
thể là nguyên nhân hình thành nên sỏi niệu .
* Chụp niệu quản bể thận ngược dòng (UPR): dễ dàng phát hiện sỏi
niệu quản không cản quang, phát hiện niệu quản bị gấp khúc, tắc niệu quản do
hẹp…[110].
* Siêu âm hệ tiết niệu: xác định kích thước sỏi niệu quản và mức độ ứ
nước của thận và niệu quản [95], [107], [188], [105].
20
Trong những trường hợp khó có thể phải kết hợp các phương pháp
chẩn đoán khác như: nội soi niệu quản chẩn đoán, chụp CT scanner, chụp
cộng hưởng từ, chụp đồng vị phóng xạ…
Nói chung chẩn đoán sỏi niệu quản chủ yếu dựa vào siêu âm và chụp x
quang hệ tiết niệu.
1.2.3. Các biến chứng sỏi niệu quản
Sỏi niệu quản làm cản trở lưu thông, ứ đọng nước tiểu, nhiễm khuẩn
đường tiết niệu, và thường gây biến chứng sớm và rất nhanh đối với đường
tiết niệu trên [3], [32], [56], [79].

2 bên, hoặc sỏi niệu quản khi thân bên kia bệnh lý. đây là biến chứng nặng,
khi nước tiểu < 400ml/24 giờ (thiểu niệu), hoặc < 100ml /24 giờ (vô niệu).
Dương Đắc Hỷ (1985) thấy có 32,5% (12/37 bệnh nhân) là vô niệu do sỏi
niệu quản 2 bên. Theo Joual A, Dakir (1997) báo cáo 52% vô niệu do sỏi niệu
quản. Trần Các (1996) nghiên cứu sỏi thận và sỏi niệu quản trên bệnh nhân
thận đơn độc cho kết quả 63,2% có biến chứng suy thận trong đó 21,2% vô
niệu và suy thận cấp [6]. Vũ Quỳnh Giao (1997) vô niệu thiểu niệu do sỏi
niệu quản 2 bên 41,66% [15].
1.2.3.4. Suy thận cấp và mãn.
Đây là biến chứng nặng của sỏi niệu quản mà không được giải phóng
niệu quản kịp thời [36]. Tắc niệu quản hoàn toàn cấp tinh, ứ đọng quá mức ở
thận, sỏi niệu quản là nguyên nhân gây phản xạ ngừng bài tiết của thân [56].
22
Nhiễm khuẩn tác động đến tính chất bệnh lý của sỏi niệu quản làm tăng nguy
cơ suy thận cấp và mãn. Tuỳ theo mức độ nặng nhẹ mà mức độ hồi phục của
thận khác nhau.
1.3. Các phương páp điều trị sỏi niệu quản
1.3.1. Điều trị nội khoa
Nhờ những tiến bộ trong lĩnh vực hoá phân tích, đã giúp con ngưòi hiểu
sâu hơn về các thành phần hoá học cấu tạo sỏi tiết niệu. Nhờ đó đã nghiên cứu
ra một số thuốc điều trị bệnh sỏi niệu bằng phương pháp nội khoa.
Điều trị nội khoa khi sỏi niệu quản có kích thước < 5 mm, thận không
bị ứ nước, cơn đau quặn thận đáp ứng với thuốc giảm đau. [172]
Nguyên tắc chung là uống nhiều nước, lợi tiểu, đảm bảo lượng nước
tiểu > 1,5 lit/ ngày, chống nhiễm trùng đường tiết niệu, dùng các thuốc giãn
cơ và giảm đau. Tuy nhiên, cần theo dõi sát không nên điều trị kéo dài.
Sái urat có thể làm tan được bằng thuốc gây kiềm hoá nước tiểu, vì sỏi
urat có pH nước tiểu < 6, sử dụng natri bicarbonate liều 4 -10g/ giờ, muối
citrate, hoặc kali citrate (Foncitril 4000, hoặc Alcaphor). Sái struvite
(magnesium ammonium phosphate) do nhiễm khuẩn, nước tiểu bị kiềm hoá,

dưới, còn sỏi 1/3 giữa tỷ lệ thấp hơn. Tuy nhiên với những trường hợp phức
tạp thì cần phải can thiệp nội soi [171].
Chống chỉ định: Phụ nữ có thai, nhiễm khuẩn tiết niệu, rối loạn đông
máu, thận mất chức năng, biến dạng về xương, cột sống, dị dạng đường tiết
niệu, bệnh nhân có u máu trong thận, nang thân, phình mạch thận, phình mạch
chủ…[171], [58], [98].
Tỷ lệ thành công phụ thuộc nhiều vào vị trí, kích thước, thành phần tạo
sỏi: sỏi cystin, sái canxi, oxalat monophydrat (Whewllit) là sỏi khó tán nhất,
24
tiếp theo là sỏi brushit và hydroxyapatit thường vỡ thành mảnh to, khó thoát
ra niệu quản, các loại sỏi còn lại có thể tán được nếu không quá lớn [58].
Sỏi niệu quản đoạn trên đạt hiệu quả 84% (sỏi kích thước < 1 cm) và
72% (sái > 1 cm). Đối với sỏi niệu quản đoạn dưới tỷ lệ thành công khoảng
81 %. Nguyễn Kỳ (1998) báo cáo kết quả tán sỏi cho 93 bệnh nhân đạt kết
quả tốt 79,55%. Theo Nguyễn Phúc Cẩm Hoàng tỷ lệ hết sỏi 80% đối với sỏi
niệu quản đoạn trên. Lưu Huy Hoàng (2003) tán sỏi niệu quản kích thước
nhỏ, tỷ lệ thành công 86% [21], [19].
Sỏi vỡ vụn trong quá trình di chuyển xuống bàng quang có thể mắc lại
tại niệu quản tạo một chuỗi sỏi vụn (steinstass), có khi phải kết hợp với tán
sỏi niệu quản nội soi để gắp sỏi vụn ra [67], [63].
1.3.4. Mổ nội soi lấy sỏi
Mổ nội soi lấy sỏi niệu quản đoạn trên có 2 đường vào: Qua phúc mạc
và sau phúc mạc. Tuy nhiên qua đường sau phúc mạc ngày càng được lựa
chọn hơn. Năm 1993, thống kê cho thấy tỷ lệ phẫu thuật nội soi sau phúc mạc
so với phẫu thuật nội soi qua phúc mạc à 24:76, hai năm sau, tỷ lệ này la
51:49, đến năm 1998 tỷ lệ này đã trở thành 74:26 [119].
Wickham (1979) là người đầu tiên giới thiệu mổ nội soi lấy sỏi niệu
quản qua đường sau phúc mạc, sau đó Clayman , đặc biệt là Gaur (1992) phát
minh ra phương pháp bơm bóng tạo khoang sau phúc mạc [115], [113] đã tạo
nên một cuộc cách mạng kỹ thuật cho các nhà niệu khoa. Ưu điểm của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status