1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong thời đại hiện nay khi kinh tế ngày càng phát triển, việc chăm sóc y tế
tốt hơn, tuổi thọ con người ngày càng tăng, tỷ lệ người già tăng ở nhiều nước
trên thế giới trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên người cao tuổi thường mắc nhiều
bệnh mạn tính (tim mạch, tiểu đường, bệnh xương khớp…). Sa sút trí tuệ là
bệnh nặng nề nhất và thường gặp trong các rối loạn tâm thần ở người già. Tỷ lệ
bệnh tăng theo lứa tuổi. Ở Mỹ, nhóm người trên 65 tuổi có 5% sa sút trí tuệ, tỷ
lệ này tăng lên 20% trong nhóm người trên 80 tuổi [11]. Ở Việt Nam, theo một
nghiên cứu tại cộng đồng tỷ lệ người già bị sa sút trí tuệ chiếm 7,9% [14].
Sa sút trí tuệ ở người già thường gặp với nhiều biểu hiện như rối loạn trí nhớ,
vong ngôn, vong tri, vong hành, rối loạn cảm xúc, rối loạn loạn thần…[51].
Trong đó hoang tưởng và ảo giác là những triệu chứng phổ biến được phát
hiện ở BN SSTT. Hoang tưởng và ảo giác thường là lý do làm cho bệnh nhân
phải nhập viện và bệnh cảnh trở nên phức tạp nghiêm trọng, tăng khó khăn
cho người chăm sóc [38]. Hoang tưởng, ảo giác không chỉ dẫn đến các rối
loạn cảm xúc, hành vi mà còn liên quan với sự tiến triển nhanh hơn của hội
chứng SSTT [40],[46],[60].Tuy nhiên hoang tưởng và ảo giác là những rối
loạn có thể điều trị được [56],[65]. Nghiên cứu hoang tưởng, ảo giác ở BN
SSTT có thể làm tăng hiểu biết về bản chất quá trình bệnh lý thực tổn não, từ
đó dẫn đến nhận biết và điều trị tốt hơn cho các triệu chứng loạn thần ở BN
SSTT [76].
Ở Việt Nam cho tới nay đã có một số công trình nghiên cứu về sa sút trí
tuệ, nhưng đặc điểm lâm sàng của hoang tưởng, ảo giác ở bệnh nhân sa sút trí
tuệ vẫn chưa được quan tâm tìm hiểu đầy đủ. Nghiên cứu vấn đề này có thể
2
giỳp cỏc bác sĩ phát hiện sớm, chẩn đoán, điều trị có hiệu quả, hạn chế những
hậu quả do hoang tưởng, ảo giác gây ra, giỳp cho bệnh nhân và gia đình có
chất lượng cuộc sống tốt hơn.
Vì những lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đặc điểm lâm
sàng hoang tưởng ảo giác ở bệnh nhân sa sút trí tuệ” với các mục tiêu
4
SSTT là hội chứng suy giảm nhận thức mắc phải, kèm theo những thay
đổi hành vi và mất chức năng xã hội. Giảm trí nhớ là biểu hiện quan trọng
nhất bắt buộc phải có, nhưng biểu hiện này có thể bị che mờ bởi các triệu
chứng khác trong một số trường hợp nhất là SSTT thể Levy và sa sút dưới vỏ.
Hầu hết các trường hợp SSTT tiến triển nặng dần và không hồi phục [17].
Bệnh nhân SSTT có sự suy giảm và rối loạn các hoạt động nhận thức còn
nhiều rối loạn tâm thần và hành vi. Các rối loạn tâm thần thường gặp như rối
loạn cảm xúc (trầm cảm, bàng quan), triệu chứng loạn thần như hoang tưởng,
ảo giác, rối loạn hành vi. Hoang tưởng thấy ở 30 -73%, ảo giác thấy ở 20 -
40% trong số bệnh nhân SSTT [30].
SSTT có thể khởi phát ở tuổi trẻ song chủ yếu là lứa tuổi già. Một số
nghiên cứu cho thấy ở lứa tuổi 65 tỷ lệ SSTT là 5%, cứ tăng thêm 5 tuổi thì số
lượng người SSTT tăng thêm 2 lần, đến 80 tuổi thì một phần ba số người già
mắc hội chứng này [27]. Đặc điểm quan trọng của SSTT là triệu chứng diễn
biến từ từ, nặng dần và không thể đảo ngược được. Cuối cùng bệnh nhân mất
hết khả năng sinh hoạt độc lập, phụ thuộc hoàn toàn vào người khác và
thường tử vong do nhiễm khuẩn.
Nguyên nhân gây SSTT rất đa dạng và có thể phát hiện được. Tuy nhiên
cú ớt trường hợp khụng tỡm được nguyên nhân. Khả năng hồi phục phụ thuộc
bệnh lý nằm bên dưới và liệu pháp điều trị. Bệnh nhân SSTT do các nguyên
nhân có thể điều trị được (15%), nếu phát hiện và điều trị kịp thời các tổn
thương sẽ hồi phục.
1.1.2. Lịch sử nghiên cứu và tỷ lệ gặp
Năm 1907, Giáo sư Alois Alzheimer người Đức đã mô tả bệnh cảnh lâm
sàng ở một BN nữ mà ông gọi tên là bệnh sa sút trước tuổi già, sau này
Kraepelin đặt tên bệnh Alzheimer [16]. Kể từ đó đến nay nhiều tác giả trong
5
nước và ngoài nước quan tâm nghiên cứu vấn đề này. Năm 1991, Rocca WA
và cộng sự nghiên cứu nhận thấy tỷ lệ bệnh tăng theo lứa tuổi: 5% ở người
hai câu hỏi cùng một nội dung được nhắc lại cách nhau vài phút, hoặc hay đi tìm
đồ dùng cá nhân vì quên mất không nhớ chúng được để ở đâu. BN không nhớ
những từ ngữ hàng ngày nên thường diễn đạt vòng vo. Sinh hoạt thường ngày
như lái xe, quản lý nội trợ, quản lý tiền bạc ngày càng trở nên khó khăn. Suy
giảm trí nhớ là chìa khóa để chẩn đoán hội chứng sa sút trí tuệ.
Các rối loạn cảm xúc và sự suy giảm khả năng học các kiến thức, kỹ thuật
mới xuất hiện từ trong giai đoạn sớm của SSTT. Cảm xúc dao động giữa hai
cực trầm cảm và hưng cảm. BN thay đổi tính tình như trở nên khó tính hơn,
dễ nóng giận và xúc động. Trong giai đoạn này một số BN vẫn còn khả năng
bù trừ những thiếu sót về trí nhớ nếu họ được sinh hoạt trong khung cảnh
quen thuộc và sử dụng các biện pháp phụ trợ trí nhớ. Những thiếu sót về nhận
thức và hành vi sẽ dễ dàng bộc lộ nếu họ bị rơi vào những tình huống hoặc
hoàn cảnh mới.
Sa sút trí tuệ mức độ trung bình:
Giai đoạn này BN rối loạn trí nhớ nặng hơn, ngôn ngữ thiếu lưu loát. BN
vụng về trong sinh hoạt hàng ngày như sử dụng các trang thiết bị trong gia
đình, khó khăn trong mua sắm tính toán. BN thực hiện khó khăn hay không
thực hiện được các hoạt động thường ngày: nấu cơm, pha trà, lựa chọn quần
áo phù hợp. Người bệnh mất dần khả năng thu nhận những thông tin mới. Họ
không lưu giữ được các thông tin về môi trường xung quanh, do đó bị rối loạn
7
định hướng nặng về không gian và địa lý. BN có thể lạc khi ra khỏi nhà và
một số khác lạc ngay trong nhà mình. Do rối loạn định hướng và khả năng
nhọ̃n xét, phán đoán nên BN dễ gặp các tai nạn (ngã), giảm khả năng lao động
và nghề nghiệp. BN có hoang tưởng nhiều hơn, nghi ngờ những người xung
quanh. Các rối loạn hành vi khác thường gặp và nặng nề : Kích động tấn công
người khác, tình dục bất thường….
Sa sút trí tuệ mức độ nặng:
Đây là giai đoạn cuối của bệnh. BN mất toàn bộ khả năng tự phục vụ và
chăm sóc bản thân trong sinh hoạt hàng ngày. Họ hoàn toàn lệ thuộc vào
Bệnh Huntington
Còn gọi là SSTT dưới vỏ, trong đó có nhiều triệu chứng về vận động (vận
động chậm chạp, khó thực hiện một nhiệm vụ phức tạp) trong khi trí nhớ,
ngôn ngữ,… còn được duy trì khỏ lâu đến tận giai đoạn SSTT nặng. Các rối
loạn vận động thường gặp là múa giật, múa vờn…
Bệnh Parkinson
Parkinson là bệnh lý tổn thương thoái hóa nhõn xỏm, nhõn bốo và tiến
triển mạn tính. Parkinson là một trong những nguyên nhân gây SSTT, trầm
cảm, các triệu chứng như hoang tưởng và ảo giác. BN Parkinson cú cỏc biểu
hiện SSTT chiếm tỷ lệ 20 - 30% [8], [45].
1.1.4. Đặc điểm lâm sàng sa sút trí tuệ
Các triệu chứng chính của SSTT gồm : Các triệu chứng về suy giảm nhận
thức, các rối loạn cảm xúc, hành vi và loạn thần [29].
9
1.1.4.1 Các triệu chứng suy giảm nhận thức
* Suy giảm trí nhớ
Suy giảm trí nhớ là triệu chứng đặc trưng sớm điển hình và nổi bật của
SSTT, đặc biệt ở BN Alzheimer. Ở thời kỳ đầu, suy giảm trí nhớ có thể nhẹ
và thường rõ nhất với các sự việc mới xảy ra. Ở thời kỳ sau, suy giảm trí nhớ
ngày càng nặng và quên cả sự kiện ngày hôm trước, tuần trước, tháng trước.
Dần dần BN quờn các sự kiện quan trọng liên quan đến cuộc sống cá nhân
như nơi sinh, năm sinh, tên vợ (chồng). Suy giảm trí nhớ xuất hiện từ từ kín
đáo, tiến triển ngày một nặng dần và lan tỏa. Ở BN Alzheimer suy giảm trí
nhớ tiến triển theo quy luật Ribot: Các sự kiện mới xảy ra bị quên trước rồi
lan tỏa dần đến các sự kiện trong quá khứ gần, quá khứ xa.
* Rối loạn định hướng
Khả năng định hướng suy giảm từng bước. Rối loạn định hướng không
gian thời gian, địa lý rất rõ rệt trong BN Alzheimer. Tuy nhiên rối loạn định
hướng có thể rất trầm trọng nhưng ý thức BN không bị rối loạn.
* Rối loạn ngôn ngữ
thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như trí thông minh và sự giáo dục trước khi bị
bệnh. Trí thông minh và sự giáo dục càng tốt thì khả năng bù trừ cho các thiếu
sót suy giảm trí tuệ càng nhiều. Những bệnh nhân SSTT khởi phát nhanh tiên
lượng kém hơn bệnh nhân SSTT khởi phát từ từ. Lo âu, trầm cảm có thể làm
trầm trọng thêm các triệu chứng SSTT.
11
1.1.4.2 Các rối loạn cảm xúc, hành vi và loạn thần ở bệnh nhân sa sút trí tuệ
* Các rối loạn cảm xúc
- Trầm cảm: Trầm cảm ở BN SSTT trước hết là trầm cảm ở người già.
Triệu chứng trầm cảm không điển hình gồm nhiều triệu chứng cơ thể. Trầm
cảm ở giai đoạn này ít có vai trò của tâm lý. Các biểu hiện cơ thể chiếm ưu
thế trong bệnh cảnh mà phổ biến nhất là triệu chứng đau. Suy giảm hoạt động,
mất cảm giác ngon miệng, thay đổi nhịp thức ngủ cũng là những triệu chứng
nổi bật của trầm cảm ở BN SSTT. Các triệu chứng khác như giảm năng
lượng, mau mệt mỏi, giảm khí sắc ít gặp hơn. Các biểu hiện này thường nhẹ
nhàng không hệ thống nhất thời, bị che mờ ở phía sau các triệu chứng cơ thể
và các biểu hiện suy giảm nhận thức. Việc chẩn đoán trầm cảm ở BN SSTT vì
vậy trở nên khó khăn.
- Bàng quan: Hay gặp với tỷ lệ tương đương trầm cảm. Biểu hiện của
bàng quan tương ứng với mức độ trầm trọng của nhận thức.
- Lo âu: Thường thấy ở 21- 60% BN SSTT.
* Các rối loạn hành vi
- Kích động có thể gặp ở 30% BN SSTT. Hành vi thường gặp có tính chất
phá hoại hay hành vi bạo lực. Kích động biểu hiện bằng hành vi tấn công hay
đe dọa (kích động thể lực), biểu hiện bằng ngôn ngữ (kích động ngôn ngữ),
biểu hiện bằng cơn kêu khóc hay giận dữ (kích động cảm xúc). Kích động ở
BN SSTT có tính chất đột ngột, mất định hướng, vô nghĩa.
* Các triệu chứng loạn thần: Hoang tưởng, ảo giác, sự kết hợp hoang
tưởng và ảo giác trong hội chứng Paranoid, hội chứng Capgras.
12
Hoang tưởng gán ý : Mỗi hiện tượng, sự việc trong thực tại được BN tri
giác như một dấu hiệu tượng trưng, có ý nghĩa riêng đối với BN.
Hoang tưởng đóng kịch : BN tri giác xung quanh như những cảnh trong
phim, lúc đóng vai này, lúc đóng vai kia.
Ba loại hoang tưởng nhận nhầm, gán ý, đóng kịch có liên quan mật thiết
với nhau.
Hoang tưởng biến hình bản thân : BN cảm thấy cơ thể mình biến đổi, biến
thành hình chim, thỳ…
* Ảo giác: Tri giác như có thật về một sự vật hiện tượng không hề có
trong thực tại khách quan. Ảo giác xuất hiện và mất đi không phụ thuộc vào ý
muốn của BN. Ảo giác được chia nhiều cách: Hình tượng kết cấu, nhận thức
và thái độ của BN, theo sự cảm nhận của các giác quan [28].
Ảo thanh : Có thể thô sơ như tiếng chuông, thường gặp nhất là tiếng nói
có vị trí rõ ràng trong không gian.
Ảo thị : Hình ảnh màu sắc mơ hồ, hoặc hình ảnh rõ rệt.
Ảo vị, ảo khứu : BN ngửi thấy có mùi vị lạ trong thức ăn, nước uống…
1.1.5.2 Cơ chế bệnh sinh của hoang tưởng ảo giác
[
38
]
* Giả thuyết hoang tưởng, ảo giác trong bệnh Alzheimer
Esiri (1990), Zubenco (1992) nhận thấy sự phát triển của các triệu chứng
loạn thần trong AD có liên quan với sự tăng đáng kể mật độ các mảng lão hóa
và cỏc đỏm rối sợi thần kinh ở phần trước hồi hải mã và vỏ não trán giữa.
14
Farber (2000) BN AD có loạn thần thì mật độ cỏc đỏm rối sợi thần kinh ở vỏ
não mới gấp 2,3 lần so với những BN AD không loạn thần.
Tổn thương não khu trú có thể đóng vai trò trong sự phát triển triệu chứng
loạn thần. Thay đổi mô bệnh học vùng Limbic thái dương, vùng liên kết thùy
trán- thái dương- đỉnh có liên quan đến sự hiện diện của hoang tưởng, ảo giác
- Weiner (1999) phát hiện mối liên hệ giữa loạn thần và kiểu gen APOE.
* Các phát hiện về điện não đồ, nghiên cứu hình ảnh cấu trúc và chức năng.
- Hình ảnh điện não đồ BN AD loạn thần có biên độ delta vừa chiếm tỷ lệ
cao và biên độ alpha vừa giảm.
- Nghiên cứu hình ảnh cấu trúc: BN AD có hoang tưởng có sự bất đối
xứng của vựng thùy thái dương đặc biệt thựy thái dương phải teo rõ rệt
(Geroldi 2000). Hình ảnh chụp cộng hưởng từ nhận thấy sự phân bố bất
thường chất trắng dưới vỏ. Sự tăng mật độ chất trắng thùy chẩm liên quan với
sự biến mất của ảo thị và hoang tưởng ở tất cả các loại SSTT (Barker, 1999).
1.1.5.3 Đặc điểm lâm sàng hoang tưởng, ảo giác ở bệnh nhân sa sút trí tuệ
* Tình hình nghiên cứu đặc điểm lâm sàng hoang tưởng, ảo giác ở
BN SSTT .
Trên thế giới
- Jiska Cohen nghiên cứu hoang tưởng, ảo giác ở BN cao tuổi ở trung tâm
chăm sóc ban ngày. BN SSTT thường có hoang tưởng và ảo giác. Hoang
tưởng và ảo giác hay gặp ở phụ nữ. Hoang tưởng được nhận thấy nhiều hơn ảo
giác và liên quan đến kích động, trầm cảm thứ phát ở SSTT. Hoang tưởng và
ảo giác xuất hiện ở các giai đoạn khác nhau của bệnh, nhưng gặp nhiều hơn ở
giai đoạn vừa và nặng. Do vậy sự xuất hiện của HT có thể coi như yếu tố dự
16
đoán sự tiến triển của SSTT. Nội dung hoang tưởng là các chủ đề bị thiệt hại, bị
mất trộm, ghen tuông. Hoang tưởng gặp nhiều hơn ảo giác nhưng ít trở nên
nặng nề như ảo giác [49].
- Susan Holloyd (2000), nghiên cứu hoang tưởng và ảo giác ở BN SSTT.
SSTT bệnh AD, SSTT do mạch máu, SSTT bệnh Parkinson, SSTT tiểu thể
Lewy…đều thấy hoang tưởng, ảo giác rất phổ biến. BN AD có hoang tưởng
10 -73%. Ảo giác chiếm tỷ lệ 12 -53% BN AD. Ảo giác gặp nhiều nhất là ảo
thị, ảo thanh, ít gặp ảo khứu. Tỷ lệ hoang tưởng, ảo giác thay đổi theo trạng
thái bệnh, thường xuất hiện ở giai đoạn vừa, rất ít xảy ra ở giai đoạn cuối. Các
triệu chứng loạn thần có thể xuất hiện riờng rẽ hoặc kết hợp với nhau (VD Ảo
51,1% ở BN AD được nghiên cứu. Trong đó hoang tưởng bị thiệt hại chiếm
51,7%, hoang tưởng bị theo dõi và hoang tưởng liên hệ gặp 34,3%, hoang
tưởng ghen tuông và hoang tưởng cho là người thân bỏ rơi không chăm sóc
gặp17,1%. Ảo giác thường gặp là ảo thị [30].
- Phạm Thắng (2004), tỷ lệ hoang tưởng ở BN SSTT thay đổi từ 10% -
78%, ảo giác thay đổi từ 1% - 49% ở các BN được nghiên cứu [17].
- Đỗ Văn Thắng (2006), nghiên cứu chẩn đoán SSTT do mạch máu cho thấy
ngoài rối loạn trí nhớ, rối loạn ngôn ngữ, hoạt động hàng ngày bị suy giảm còn
gặp rối loạn tâm thần như hoang tưởng 42,2%, trầm cảm 28,9% [18].
- Nguyờ̃n Quốc Dũng (2009), nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ về mạch
máu ở BN SSTT nhận thấy các triệu chứng tâm thần hay gặp nhất là hoang
18
tưởng 52,2%, ảo giác 40%, rối loạn hành vi 57,9%. Hoang tưởng bị hại
thường gặp [4].
* Đặc điểm lâm sàng hoang tưởng, ảo giác ở BN SSTT
- Các triệu chứng loạn thần phổ biến trong bệnh cảnh lâm sàng SSTT [46].
Hoang tưởng và ảo giác là những triệu chứng chủ yếu làm cho BN phải vào
viện sớm trong tiến triển bệnh. Hoang tưởng ảo giác liên quan với rối loạn
cảm xúc, kích động và những hành vi bạo lực trong gia đình. Người bệnh
SSTT phải được chăm sóc nhiều năm, gia đình trải qua stress kéo dài, khi các
triệu chứng loạn thần xuất hiện nó làm bệnh cảnh phức tạp hơn. Các triệu
chứng loạn thần có thể điều trị bằng liệu pháp hóa dược. Chúng liên quan với
mức độ SSTT, tốc độ thoái triển của nhận thức và hoạt động chức năng.
- Hoang tưởng và ảo giác chiếm tỷ lệ 30-73%[30],[36],[46]. Tỷ lệ khác
nhau tùy theo nghiên cứu được tiến hành tại cộng đồng hay trong bệnh viện.
Hoang tưởng có thể xuất hiện cùng với ảo giác hoặc không. BN SSTT được
chăm sóc tại gia đình và cộng đồng, họ chỉ được đưa đến bệnh viện điều trị
khi cú cỏc triệu chứng loạn thần như hoang tưởng, ảo giác, rối loạn cảm xúc,
rối loạn hành vi hay các triệu chứng cơ thể cấp diễn khác.
* Đặc điểm của hoang tưởng trong SSTT
Jost (1996) hoang tưởng xuất hiện ở thời điểm nghiên cứu là 45%, Chen
(2008) 49% [61]. Hoang tưởng dao động theo thời gian, về tổng thể chúng
tăng chậm theo tiến triển SSTT. Các triệu chứng này nặng lên theo thời gian
và xu hướng tiến triển theo giai đoạn, tỷ lệ tái diễn hàng năm là 95%.
20
Các yếu tố liên quan
- Tuổi, giới: Hoang tưởng liên quan đến tuổi già, giới nữ [70],[71].
- Trình độ học vấn thấp: Hoang tưởng liên quan với trình độ học vấn thấp.
- Suy giảm nhận thức: Hoang tưởng có liên quan đặc biệt với suy giảm
nhận thức. BN SSTT có hoang tưởng thường ở mức độ suy giảm nhận thức
trung bình hoặc nặng, ít gặp ở mức độ nhẹ. Bệnh nhân SSTT có hoang tưởng
suy giảm nhận thức nhiều hơn so với nhóm SSTT không có hoang tưởng [44].
- Thời gian bị bệnh: Thời gian bị bệnh càng lõu thỡ khả năng xuất hiện
hoang tưởng càng nhiều [38].
- Tiền sử bản thân và gia đình: Hiện nay chưa phát hiện được mối quan hệ
giữa hoang tưởng với tiền sử bản thân và gia đình. Một số tác giả nhận thấy
sự xuất hiện hoang tưởng và ảo thị có liên quan đến tiền sử cá nhân người
bệnh [61].
Ảnh hưởng đến tiến triển lâm sàng: Loạn thần liên quan tới tiến triển
nhanh của suy giảm nhận thức. BN SSTT có hoang tưởng khả năng mắc trầm
cảm cao hơn những BN SSTT không có hoang tưởng [38].
* Đặc điểm của ảo giác trong SSTT
Các loại ảo giác và tần suất
Ảo giỏc ớt gặp hơn hoang tưởng. Ảo giác ở BN SSTT chiếm tỷ lệ 20 -
49% [34],[46]. Ảo giác thường gặp là ảo thị (4% -59%) và ảo thanh (1%-
29%). Các loại khác như ảo khứu và ảo vị (0,4% -8%). Ảo vị và ảo giác xúc
giác thường là dấu hiệu chỉ bỏo cú bệnh cảnh kết hợp [46],[76].
- Ảo giác ở các loại SSTT chiếm tỷ lệ khác nhau. SSTT Parkinson thường
chỉ có ảo thị [45]. SSTT Hungtington, ảo thị hiếm gặp hơn, nhưng thường gặp
ảo thanh và hoang tưởng. SSTT thể Lewy, ảo thị chiếm ưu thế (ảo thị 48%, ảo
giác tăng theo tiến triển của bệnh, theo giai đoạn, tái diễn đến 95% [38]. Geser
(2005) nhấn mạnh đến những sự thay đổi bất thường của khả năng chú ý, tính
hoạt bát và các ảo thị tái diễn là đặc trưng chính của SSTT thể Lewy [68].
Các yếu tố liên quan
- Học vấn: Nhiều nghiên cứu cho rằng trình độ học vấn thấp như là yếu tố
nguy cơ đối với ảo giác [75].
- Giới : Một số nghiên cứu nhận thấy ảo giác thường thấy ở nữ giới, điều
này không đồng nhất qua nhiều nghiên cứu[49],[61].
- Tuổi : Các triệu chứng loạn thần ở BN SSTT thường liên quan đến tuổi
già, trong đó có ảo giác.
- Suy giảm nhận thức: Ảo giác liên quan đến mức độ suy giảm nhận thức,
nhưng đây là mối liên quan không chặt chẽ, vì sự xuất hiện ảo giác còn liên
quan đến điều kiện tri giác bị cản trở (thiếu ánh sáng, môi trường lạ, thị lực
kém, thính giác kém ở người già…)
- Thời gian bị bệnh: Thời gian mắc bệnh càng lõu thỡ khả năng xuất hiện
ảo giác càng nhiều [75].
Ảo giác ảnh hưởng đến tiến triển lâm sàng
Ảo giác liên quan với cơn kích động cảm xúc, hành vi kỳ dị (48% - 82%),
giải ức chế (18% - 30%), dễ bị kích thích, bồn chồn đứng ngồi không yên, đi
lang thang (68%), hoạt động xã hội sút kém [70],[77].
23
* Hội chứng Paranoid : Các hoang tưởng kết hợp với ảo giác tạo ra hội
chứng Paranoid ở BN SSTT. Một số nghiên cứu cho thấy hội chứng này gặp 42,3
- 56% BN SSTT có loạn thần và giảm đi khi tiến triển SSTT nặng lên [34].
* Hoang tưởng và ảo giác trong hội chứng Capgras
Hội chứng Capgras
Năm 1923 Josepn Capgras mô tả BN Alzheimer có hoang tưởng cho rằng
chồng, con mình, tất cả các nhân viên điều dưỡng trong bệnh viện đều bị thay
thế bởi những kẻ giả dạng. BN cho là có người lạ trong nhà mình, không nhận ra
mình khi soi gương, đối xử với nhân vật tưởng tượng như trong cuộc sống. Ảo
Điều trị triệu chứng tâm thần và hành vi ở BN SSTT bằng can thiệp
không dùng thuốc được lưu tâm và thực hiện trước tiên. Can thiệp này bao
gồm thay đổi môi trường, hành vi. Người chăm sóc được tập huấn tạo ra mối
quan hệ lâu dài gồm BN - người chăm súc - bỏc sỹ nhằm giảm bớt các triệu
chứng, sự bất lực của người bệnh và stress của người chăm sóc. Mối quan hệ
giữa BN và người chăm sóc được cải thiện thông qua việc tiếp xúc thường
xuyên và thiết lập lòng tin cho BN. Người chăm sóc cần được tập huấn để
phân biệt những lời quy kết hay công kích do hoang tưởng, ảo giác chi phối.
Họ phải phản ứng theo cách không làm tăng sự nghi ngờ của BN. Các kỹ
thuật khác bao gồm sự trấn an, làm sao nhãng, thảo luận các vấn đề khỏc…cú
thể làm giảm tần suất hay sự dai dẳng các triệu chứng. Môi trường quen thuộc
và những kích thích như giọng nói đều có thể làm cho BN giao tiếp tốt hơn,
25
giảm hành vi phá phách. Sự thiếu hụt giác quan (thị giác, thính giác) được cải
thiện có thể loại trừ các triệu chứng xuất phát từ sự hiểu sai thực tế [72].
Tuy nhiên, can thiệp không dùng thuốc chỉ dùng cho những bệnh SSTT
mức độ nhẹ, các triệu chứng loạn thần không rầm rộ, chưa ảnh hưởng nhiều
đến cảm xúc và hành vi [66].
* Điều trị dược lý
Can thiệp dược lý trở nên cần thiết khi hoang tưởng, ảo giác gây ra các
vấn đề đáng kể đối với BN và gia đình họ. Điều trị dược lý gồm thuốc chống
loạn thần điển hình hoặc không điển hình, thuốc ức chế cholinesterase, các
chất chủ vận có chọn lọc muscarinic, thuốc điều trị nhận thức [38].
Các thuốc chống loạn thần
+ Các thuốc chống loạn thần điển hình:
ATK vẫn được coi là trị liệu hóa dược cơ bản mặc dù trên lâm sàng
chúng có thể gây ra tác dụng không mong muốn. Tác dụng phụ hay gặp như
ngủ gà, ngã, loạn động muộn, triệu chứng giống Parkinson. Bác sỹ cần cân
nhắc sử dụng thuốc ATK trên bệnh nhân SSTT. Hai nhóm ATK được sử dụng
là ATK điển hình và ATK không điển hình. Thuốc ATK điển hình có tác