Đánh giá tác dụng bí đái cơ năng sau phẫu thuật hậu môn trực tràng và sau đẻ bằng phương pháp xoa bóp bấm huyệt - Pdf 19

ĐẶT VẤN ĐỀ
Bí đái cơ năng là biến chứng thường gặp: Sau đẻ, sau phẫu thuật sản phụ khoa,
sau phẫu thuật hậu môn trực tràng, sau phẫu thuật ổ bụng, sau phẫu thuật cột sống
vv cũng có thể bệnh tự phát. Bệnh diễn biến cấp tính với các triệu chứng: Đau tức
vùng hạ vị, mót đi tiểu song rặn nước tiểu không ra, cầu bàng quang (+) làm bệnh
nhân đau đớn, phiền hà, ảnh hưởng đến sức khoẻ cũng như kết quả điều trị các
bệnh kèm theo.
Bí đái kéo dài là một trong những yếu tố gây nhiễm khuẩn đường tiết niệu 4,5%
[23] do tạo điều kiện cho vi khuẩn lưu lại, làm tổn thương niêm mạc đường niệu,
nhất là tổn thương chảy máu làm cho vi khuẩn phát triển [14].
Tại Việt Nam từ trước đến nay đã có một số công trình nghiên cứu về bí tiểu cấp
tính sau đẻ, phẫu thuật, song chưa có một tác giả nào đi sâu vào nghiên cứu nguyên
nhân, cơ chế bệnh sinh của bí đái và chưa giải thích một cách thoả đáng, vì vậy
việc điều trị còn gặp nhiều khó khăn.
YHHĐ có nhiều phương pháp điều trị nh: Tiêm canxi clorua, nước muối sinh lý,
urotropin, clohydrrat pilocacbin, hoặc atropin sunfat, chườm nóng hạ vị hoặc ngồi
dậy, đi bộ sớm nếu không có kết quả thì đặt sông bàng quang. Đặt sông bàng quang
dễ gây nhiễm khuẩn đường niệu ngược dòng nếu không đảm bảo vô khuẩn tuyệt
đối, nếu nhiễm nặng sẽ gây nhiều tác hại cho bệnh nhân, có khi dẫn tới tử vong
[14], [23].
Bí đái được miêu tả trong phạm vi chứng lung bế của YHCT: Lung là đái không
thông thoát thường tiểu nhỏ giọt, bế là muốn đái mà đái không được. Đây là bệnh
của bàng quang do khí hoá ở bàng quang không thông lợi mà gây nên[12]. Theo
các tài liệu hiện có cho đến nay Lung bế có nhiều phương pháp điều trị đó là:
phương pháp dùng thuốc gồm: thuốc uống, thuốc bôi, thuốc đắp và phương pháp
không dùng thuốc là châm cứu. Xoa bóp bấm huyệt là phương pháp được nhiều tác
1
giả đề cập đến vì: nó là phương pháp đơn giản, thuận lợi, Ýt có tai biến, hiệu quả
kinh tế cao, có thể áp dụng ở mọi cơ sở Y tế, nhất là Y tế cơ sở và vùng sâu vùng
xa.
Hiện nay chưa có một công trình nào nghiên cứu, tổng kết và đánh giá một cách hệ

xương.
3.700 60 1.3%
Mổ cột sống tủy, khung
chậu
415 23 5.3%
Tổng 7.658 219 2.86%
3
Trong đó Nam là 37%, Nữ là 63%. Lứa tuổi mắc bí đái nhiều nhất ở tuổi > 60
(30%), Ýt nhất ở tuổi < 20 là 4,6%. Tất cả các bệnh nhân bí đái này đều được điều
trị bằng phương pháp điện chân mang lại kết quả tương đối tốt .
1.2. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VỀ GIẢI PHẪU SINH LÝ HỆ TIẾT NIỆU.
 Hệ tiết niệu gồm có:
 Thận là cơ quan lọc máu ra nước tiểu.
 Niệu quản là ống dẫn nước tiểu từ thận xuống bàng quang.
 Bàng quang là nơi chứa đựng nước tiểu do niệu quản dẫn đến.
 Niệu đạo là nơi dẫn nước tiểu ra ngoài.
1.2.1. Thận:
 Vị trí, hình thể, kích thước [1,16]. thận hình hạt đậu, có hai mặt: mặt trước lồi,
mặt sau phẳng; hai bờ: bờ ngoài lồi, bờ trong lõm ở giữa gọi là rốn thận, hai cực
trên và dưới. Kích thước: cao 12 cm, rộng 6cm, dày 3cm, nặng 130 – 150g.
 Đối chiếu trên xương [1,16]. Hai thận nằm dọc ở hai bên cột sống thắt lưng và
ở ngoài phúc mạc; thận phải thấp hơn thận trái khoảng 2cm.
 Cực trên thận phải ngang mức bờ dưới xuơng sườn XI, cực trên thận trái ngang
mức bờ trên xuơng sườn XI.
 Cực dưới thận phải cách mào chậu 3cm. Hai cực trên gần nhau hơn hai cực
dưới, có trường hợp hai cực trên dính với nhau tạo nên một hình móng ngựa.
 Liên quan [1,16].
 Mặt trước:
 Thận phải: Trên là gan, dưới là đại tràng phải, trong là phần xuống của tá tràng
và tĩnh mạch chủ dưới.

5
 Đoạn bụng: Bắt đầu từ bể thận, đi theo hướng chếch xuống dưới và vào trong
tới đường tận cùng chậu.
 Phía trước: có phúc mạc, mạch sinh dục bắt chéo phía trước.
 Phía sau: có cơ thắt lưng - chậu, mỏm ngang các đốt sống thắt lưng, thần kinh sinh
dục đùi. Đáng chú ý là niệu quản bắt chéo phía trước động mạch chậu ngoài ở bên
phải và động mạch chậu chung ở bên trái. Chiếu lên thành bụng thì ở điểm nối 1/3
ngoài với 1/3 giữa của đường nối liền hai gai chậu trước trên, gọi là điểm niệu quản.
 Đoạn chậu hông: là phần còn lại, tiếp tục đi tới mặt sau bàng quang.
 Phía sau: là khớp chậu cùng, bó mạch thần kinh bịt.
 Phía trước: ở nam và nữ khác nhau; ở nam liên quan với túi tinh và ống dẫn
tinh; ở nữ chui vào đáy dây chằng rộng, bất chéo phía sau động mạch tử cung ở
cách cổ tử cung 1,5cm.
 Từ mặt sau của bàng quang, hai niệu quản xuyên chếch trong thành bàng quang
khoảng 1,5 cm, tới trong lòng bàng quang hai lỗ cách nhau khoảng 2-3 cm.
 Thần kinh [1,16]. Các thần kinh đến niệu quản từ đám rối thận và đám rối hạ
vị, gồm các sợi vận động chi phối vận động cho cơ trơn thành niệu quản và các sợi
cảm giác mang đến cảm giác đau khi có sự đột ngột thành niệu quản.
1.2.3.Bàng quang.
 Vị trí, kích thước [1,16].
 Bàng quang nằm trong chậu hông bé, dưới phúc mạc, sau xương mu, trước các
tạng sinh dục, trực tràng.
 Thể tích: Chứa được 250 – 350 ml, nếu cố nhịn hoặc bí đái có thể chứa được vài
lít.
 Liên quan [1,16].
 Mặt trên: được bao phủ bởi phúc mạc, qua đó liên quan tới các quai ruột non và
đại tràng xích ma. Riêng nữ giới còn có thân tử cung đè lên. Khi bàng quang chỉ có
6
Ýt nước tiểu thì nằm dưới gò mu, khi bàng quang căng đầy sẽ vượt lên trên gò mu,
thăm khám thành bụng thấy được cầu bàng quang.

1.2.4. Niệu đạo [1,16]. Niệu đạo là ống dẫn nước tiểu từ bàng quang ra ngoài. niệu
đạo nam dài hơn niệu đạo nữ , đồng thời còn là ống dẫn tinh.
 Niệu đạo nam [1,16].
 Giới hạn đường đi và kích thước: Bắt đầu từ lỗ niệu đạo trong cổ bàng quang tới
lỗ niệu đạo ngoài ở đỉnh quy đầu. Từ cổ bàng quang đi theo hướng cong xuống
dưới và ra trước, ôm lấy bờ dưới khớp mu vào góc dương vật, chạy trong vật xốp
tới đỉnh quy đầu.
Dài từ 16 - 18 cm, có thể chia thành 3 đoạn: Đoạn tiền liệt 2,5 – 3cm; đoạn màng
1,2cm; đoạn xốp 12cm
 Liên quan:
 Đoạn tiền liệt: xuyên qua tuyến tiền liệt nhưng theo trục tuyến nên phần lớn
tuyến ở sau niệu đạo, chỉ có một phần nhỏ của tuyến ở trước niệu đạo, trong
lòng niệu đạo có một lỗ rộng ở khoang giữa đoạn này gọi là lồi tính, hai bên có
2 lỗ phóng tinh và nhiều lỗ nhỏ ngoại tiết của tuyến tiền liệt.
 Đoạn màng: Đi từ đỉnh tuyến tới thành dương vật đoạn này nằm ngay giữa khớp
mu nên dễ dập, đứt khi ngã kiểu cưỡi ngựa hoặc vỡ xương chậu do cân đáy chậu
giữa giằng kéo. Phía ngoài có cơ thắt vân bao quanh, trong lòng thì niêm mạc có
nhiều nếp gấp dọc.
 Đoạn xốp: nằm trong thể xốp của dương vật. Trong lòng đoạn xốp có:
Ở phần đầu có 2 lỗ tuyến hành niệu đạo
Ở chỗ lõm của niêm mạc là các tuyến niệu đạo.
8
Ở cách lỗ niệu đạo ngoài 1-2 cm có van hố thuyền.
 Cấu tạo: Gồm 2 líp
 Lớp cơ ở ngoài, có 2 loại thớ: thớ dọc ở trong, thớ vòng ở ngoài.
 Lớp niêm mạc ở trong, có đặc điểm: rất chun dãn nên khi bị đứt thì 2 đầu xa
nhau nên khó tìm khó nối. Có nhiều hốc và tuyến niệu tiết nhờn, là nơi Èn náu
của vi khuẩn nên khi bị viêm dễ trở thành mãn tính, đặc biệt là viêm lậu.
 Mạch và thần kinh
 Động mạch: niệu đạo được cấp máu bởi nhiều nhánh nhỏ và tuỳ theo từng đoạn

quang có cơ hình tam giác, 2 lỗ niệu quản đổ vào và lỗ niệu đạo đều nằm trong
vùng cơ tam giác này. Khi cơ bàng quang co để tống nước tiểu ra niệu đạo, các cơ
thành bàng quang Ðp chặt lỗ niệu quản. Nhờ vậy, nước tiểu không trào ngược lên
bể thận.
 Cổ bàng quang dài khoảng 2-3 cm. Phần này gồm các sợi cơ trơn xen kẽ các sợi
chun và được gọi là cơ thắt trơn (hay cơ thắt trong). Trương lực tự nhiên của cơ
thắt trơn ngăn cản nước tiểu thoát vào niệu đạo cho tới khi áp xuất trong bàng
quang thắng được sự co tự nhiên này.
Phía dưới cơ thắt trơn là cơ thắt vân (hay cơ thắt ngoài). Cơ thắt vân chịu sự chi
phối của não, do đó có khả năng “đóng – mở “ theo ý muốn.
 Thần kinh bàng quang gồm có:
 Thần kinh giao cảm: Trung tâm thần kinh giao cảm ở đốt tuỷ sống thắt lưng 5
(L5), đốt tuỷ cùng 1 và 2 (S2, S2). Thần kinh giao cảm chi phối cơ trơn để kìm
hãm nước tiểu bằng cách giãn cơ thành bàng quang và co cơ thắt trơn.
10
 Thần kinh phó giao cảm: Trung tâm ở đốt tuỷ sống cùng 2 và 3. Tác dụng của
thần kinh phó giao cảm đối lập với thần kinh giao cảm, nghĩa là co cơ thành bàng
quang và giãn cơ trơn cổ bàng quang cho nước tiểu vào niệu đạo.
 Thần kinh thẹn tách ra từ khe đốt sống cùng 2,3 và 4. Tác dụng của thần kinh
này là điều khiển co giãn cơ thắt vân.
1.3.2. Áp suất trong bàng quang và phản xạ tiểu tiện [5].
 Nước tiểu từ hai thận liên tục đổ vào bàng quang. Thể tích nước tiểu trong bàng
quang tăng lên dần làm cho áp suất trong bàng quang tăng lên. áp suất tăng chậm
hơn so với tăng lượng nước tiểu. Có sự tăng không tương xứng này là do thành
bàng quang có khả năng co giãn cao.
 Khi bàng quang chứa Ýt nước tiểu, áp suất xấp xỉ bằng 0. Thể tích nước tiểu lên
tới 100 ml, áp suất sẽ là 5-10 cm H2O. Thể tích nước tiểu trước khi đạt tới 400 ml,
áp suất tăng rất chậm. Khi thể tích vượt qua 400 ml, áp suất tăng rất nhanh. áp suất
trong bàng quang tăng cao sẽ tác động vào bộ phận cảm thụ với áp suất trong thành
bàng quang tạo xung động thần kinh, các xung động này truyền về trung tâm phản

 Khám thấy có cầu bàng quang.
 Siêu âm thấy bàng quang đầy nước tiểu hoặc thông đái lấy được nhiều nước
tiểu, cầu bàng quang xẹp xuống.
1.4.3.Nguyên nhân:
 Tại bàng quang:
12
 Dị vật ở bàng quang: Sái hay cục máu. Có thể từ trên xuống, hoặc sinh ngay tại
bàng quang, lúc đó không đi đái được.
 Ung thư bàng quang: Rất hiếm gặp. Nếu khối u to có thể làm tắc lỗ niệu đạo
thông với bàng quang và gây bí đái. Soi bàng quang sẽ thấy khối u hay nằm ở vùng
cổ bàng quang.
 Hẹp niệu đạo: Trong bệnh lậu, hay gây hẹp niệu đạo. Nếu phần hẹp nhiều có thể
gây bí đái.
 Ngoài bàng quang:
 Do tiền liệt tuyến: là nguyên nhân thường gặp nhất ở nam giới. Tiền liệt tuyến
to lên sẽ đè bẹp niệu đạo, gây bí đái. Tiền liệt tuyến to lên do hai nguyên nhân.
 Ung thư tiền liền liệt tuyến: Rất hay gặp ở người già, là nguyên nhân bí đái chủ
yếu ở những người già. Thăm trực tràng, thấy tiền liệt tuyến to và cứng.
 Viêm tiền liệt tuyến: Có triệu chứng viêm bàng quang, đái ra mủ, đôi khi có thể
gây bí đái. Thăm trực tràng thấy tiền liệt tuyến to nhưng mềm, đau, có thể nặn ra mủ.
 Do khối u ở tiểu khung: Ung thư trực tràng, ung thư cổ tử cung, ung thư thân tử
cung, vv khi di căn vào tiểu khung, có thể đè vào vùng cổ bàng quang gây bí đái.
 Do các tổn thương thần kinh trung ương:
 Bệnh ở tuỷ sống: chấn thương, gãy cột sống, đứt ngang tuỷ, lao cột sống, u tuỷ,
viêm tuỷ, vv đều có thể gây bí đái.
 Bệnh ở não và màng não: Viêm não, áp xe não, chảy máu não, nhũn não, viêm
màng não,vv đều có thể gây bí đái.
 Bí đái cấp sau phẫu thuật: Đây là một nguyên nhân thường gặp, chiếm một tỷ lệ
lớn, bí đái thường xuất hiện sau phẫu thuật 3 - 6 giờ, làm BN đau đớn khó chịu ảnh
hưởng đến kết quả phẫu thuật và kéo dài thời gian điều trị. Nguyên nhân và cơ chế

tiền liệt tuyến, viêm bàng quang, viêm niệu đạo, nhưng các chứng này được y văn
xưa và nay quy nạp về chứng lâm là chỉ chung về các chứng bệnh tiết niệu như:
lâm chứng, lung bế.
 Lâm chứng: Là bệnh bí đái nhiều lần, đái đau , nước tiểu Ýt, khó ra, bụng dưới
đau, nặng thì đái không được. Theo kim quỹ yếu lược thì bệnh lâm đi đái nước tiểu
nhỏ giọt, bụng dưới đau căng, lan đến rốn. Thường có nhiệt lâm, thạch lâm, huyết
lâm, cao lâm, khí lâm. Theo sách nội khoa y học cổ truyền cho rằng các chứng
nhiễm trùng đường tiết niệu, sỏi tiết niệu, đái dưỡng chấp của YHHĐ tương ứng
với lâm chứng của YHCT.
 Long bế (lung bế) [12]. Theo YHCT lung bế là chứng tiểu tiện bất lợi hoặc sát
trệ bất thông, làm cho tiểu phúc bị trướng mãn, tiểu tiện bất thông. Nội kinh viết:
(bàng quang là quan năng của bến nước, nơi tàng chứa tân dịch, khi nào khí hoá thì
mới xuất ra được). Bệnh lung bế tuy nói rằng do khí hoá của bàng quang bị bất lợi
nhưng tiểu tiện dù bị nói là cũng khó khí hoá, khai ngòi nước lại do ở tam tiêu. Nội
kinh còn nói:

tam tiêu là tam quan năng khai ngòi nước, thuỷ đạo xuất ra

(từ đó).
Nạn kinh cũng nói:

tam tiêu là con đường thông đạo của thuỷ cốc, là nơi chung
của thuỷ khí

. Do đó nếu khí hoá của tam tiêu bị thất thường, không làm thông lợi
được thuỷ đạo nó sẽ xuống bàng quang để sinh ra chứng lung bế. Nếu bàng quang
và thận bị tà nhiệt hoặc thấp nhiệt ở trung tiêu không xuống hạ tiêu, bàng quang sẽ
bị kết nhiệt làm cho khí hóa bị rối loạn, khí trệ huyết ứ, vô âm thì dương không lấy
được để hoá, vậy là phát sinh lung bế hoặc do thận khí hư tổn, tinh huyết hao tổn,
mệnh môn hoả suy không hoá được thuỷ, Vô dương thì âm cũng không lấy gì để

1.6. PHƯƠNG PHÁP XOA BÓP BẤM HUYỆT [11].
1.6.1. Nguồn gốc [11].
 YHCT và YHHĐ đều có xoa bóp. Xoa bóp là phương pháp ra đời sớm nhất,
được xây dựng và phát triển trên cơ sở những kinh nghiệm tích luỹ được trong đấu
tranh bảo vệ sức khoẻ của người xưa. Xoa bóp của YHCT được lý luận của YHCT
chỉ đạo; xoa bóp của YHHĐ được lý luận của YHHĐ chỉ đạo và các phương tiện
hiện đại hỗ trợ.
 Về YHCT: Xoa bóp cũng được coi là một phương pháp phòng bệnh và chữa
bệnh. Đặc điểm của nó là: Chỉ dùng thao tác của bàn tay; ngón tay tác động lên da
thịt của bệnh nhân để đạt được mục đích phòng bệnh và chữa bệnh. Ưu điểm của
nó là giản tiện, có hiệu quả, có phạm vi chữa bệnh tương đối rộng, có giá trị phòng
bệnh lớn.
 Giản tiện vì chỉ cần dùng tay để phòng bệnh và chữa bệnh trong bất kỳ hoàn
cảnh nào, không bị các phương tiện khác hạn chế.
 Có hiệu quả vì nó có khả năng chữa một số chứng bệnh cấp tính và nhiều khi
đạt kết quả nhanh chóng. Dùng xoa bóp để chữa một số bệnh mãn tính tương
đối an toàn, làm xong nhẹ người, triệu chứng giảm hẳn.
 Xoa bóp có tác dụng phòng bệnh và giữ sức khoẻ tương đối tốt.
 Xoa bóp có các môn phái khác nhau. Biểu hiện các thủ thuật và vị trí xoa bóp
khác nhau. Có phái làm nhiều thủ thuật, xoa bóp từng bộ phận kết hợp với tác động
vào huyệt, làm thời gian dài; có phái dùng Ýt thủ thuật chỉ chú trọng kinh lạc, làm
thời gian ngắn; Có phái có lý luận chủ đạo, có phái là kinh nghiệm dân gian hoặc
gia truyền.
1.6.2.Tác dụng của xoa bóp [11].
17
Xoa bóp là một kích thích vật lý, trực tiếp tác động vào da thịt và các cơ quan
cảm thụ của da và cơ, gây nên những thay đổi về thần kinh thể dịch, nội tiết, từ đó
ảnh hưởng đến toàn thân.
 Tác động đối với hệ thần kinh: Cơ thể thông qua hệ thần kinh có những phản
ứng đáp lại tích cực đối với những kích thích của xoa bóp. Rất nhiều tác giả cho

còn có thể dùng để chữa bệnh khớp.
 Tác dụng đối với tuần hoàn.
 Tác dụng đối với huyết động: Một mặt xoa bóp làm dãn cơ, trở lực trong mạch
gảm đi, mặt khác xoa bóp trực tiếp đẩy máu về tim, do đó xoa bóp vừa giảm gánh
nặng cho tim vừa giúp máu trở về tim tốt hơn.
 Đối với người huyết áp cao Ýt tập luyện, xoa bóp có thể làm hạ áp.
 Xoa bóp trực tiếp Ðp vào hệ lympho, giúp tuần hoàn lympho nhanh và tốt hơn,
do đó có thể có tác dụng tiêu sưng.Trong khi xoa bóp, số lượng hồng cầu, tiểu cầu
hơi tăng, xoa bóp xong trở lại như cũ, số lượng bạch cầu, huyết sắc tố cũng có thể
tăng.
 Tác dụng đối với hô hấp, tiêu hoá và quá trình trao đổi chất.
 Đối với hô hấp: khi xoa bóp, thở sâu lên, có thể do trực tiếp kích thích vào thành
ngực và phản xạ thần kinh gây nên, do đó có tác giả dùng xoa bóp để chữa khí phế
thòng, hen phế quản, xơ cứng phổi… để nâng cao chức năng thở và ngăn chặn sự
suy sụp chức năng thở.
 Đối với tiêu hoá: có tác dụng tăng cường nhu động dạ dày, của ruột và cải thiện
chức năng tiêu hoá. Khi chức năng tiết dịch tiêu hoá kém, dùng kích thích mạnh để
19
tăng tiết dịch. Khi chức năng tiết dịch tiêu hoá quá mạnh, dùng kích thích nhẹ hoặc
vừa để giảm tiết dịch.
 Xoa bóp làm tăng lượng nước tiểu bài tiết ra, nhưng không thay đổi độ acid
trong máu. Có tác giả nêu lên, xoa bóp 2 đến 3 ngày sau, chất nitơ trong nước tiểu
tăng lên và kéo dài vài ngày, do tác dụng phân giải protid của xoa bóp gây nên. xoa
bóp toàn thân có thể tăng nhu cầu về dưỡng khí 10 – 15%, đồng thời cũng tăng
lượng bài tiết dưỡng khí.
1.6.3.Các thủ thuật: Xát, xoa, day, bấm và ứng dụng trên lâm sàng [11].
 Xát.
 Cách làm: dùng gốc gan bàn tay, mô ngón tay út, hoặc mô ngón tay cái xát lên
da, theo đường thẳng (đi lên xuống hoặc sang phải sang trái). Tay của thày thuốc di
chuyển trên da người bệnh. Cũng có khi dùng dầu, bột tan (tal) để làm trơn da.

đái. Toàn thân chữa phù thũng.
 Trên lâm sàng:
 Phối hợp với Thuỷ phân, Thuỷ tuyền, Phục lưu, Tam âm giao để chữa phù do tim.
 Phối hợp với Tam âm giao để chữa đái dầm, bí đái.
 Phối hợp với Âm lăng tuyền, Tam âm giao để chữa đái són.
 Phối với Tử cung,Tam âm giao chữa kinh nguyệt không đều.
1.7.2. Quan nguyên [12,24].
Huyệt thứ 4 của mạch nhâm.
(Huyệt mộ của tiểu trường; hội của mạch nhâm với 3 kinh âm ở chân).
21
 Vị trí: ở dưới rốn 3 thèn, lấy ở điểm nối 3/5 trên và 2/5 dưới của đoạn nối rốn và
bờ trên xương mu.
 Giải phẫu: Huyệt ở trên đường trắng. Sau đường trắng là mạc ngang, phúc mạc,
vào sâu có ruột non khi bàng quang bình thường và không có thai, có bàng quang
khi bí tiểu tiện, có tử cung khi có thai.
 Da vùng huyệt được chi phối bởi tiết đoạn thần kinh D12 và D11.
 Trên lâm sàng: Kết hợp cứu Quan nguyên, Khí hải để nâng huyết áp trong hội
chứng choáng.
1.7.3. Khí hải [12,24].
Huyệt thứ 6 của mạch nhâm
 Vị trí: ở dưới rốn 1,5 thèn, lấy ở điểm nối 1,5/5 trên với 3,5/5 dưới của đoạn rốn
– bờ trên xương mu.
 Giải phẫu : Huyệt ở trên đường trắng, sau đường trắng là mạc ngang, phúc mạc
vào sâu có ruột non khi không bí đái nhiều hoặc có thai còn nhỏ, có bàng quang khi
bí đái nhiều, có tử cung khi có thai 4-5 tháng.
 Da vùng huyệt được chi phối bởi tiết đoạn thần kinh D11
 Trên lâm sàng:
 Cứu kết hợp với Quan nguyên để nâng huyết áp trong hội chứng choáng.
 Kết hợp với chi câu, Túc tam lý, Đại trường du để chữa tắc ruột cơ năng.
1.7.4.Tóc tam lý [12,24].

Huyệt thứ 22 của kinh túc thái dương bàng quang.
(Huyệt du của tam tiêu)
23
 Vị trí : Huyệt ở hai bên xương sống dưới đốt sống lưng thứ 13 ngang ra 1,5
thốn. Điểm gặp nhau của đường ngang qua đường mỏm gai sống thắt lưng 1 và
đường thẳng đứng ngoài mạch Đốc 1,5 thốn là huyệt.
 Giải phẫu: Dưới da là cân ngực thắt lưng của cơ lưng to, cơ lưng dài, cơ ngang
gai, cơ gian mám ngang, cơ vuông thắt lưng, cơ đái - chậu.
 Thần kinh vận cơ là các nhánh của đám rối cánh tay, nhánh của dây sống thắt
lưng 1, nhánh của đám rối thắt lưng.
 Da vùnh huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh L4.
 Tác dụng lâm sàng: Chữa đầy bụng, ăn không tiêu, nôn mửa, ỉa chảy, bí đái, đau
thắt lưng, lỵ, phù thũng.
1.7.7.Thận du [12,24].
Huyệt thứ 23 của kinh túc thái dương bàng quang.
( Huyệt du của thận )
 Vị trí: Huyệt ở hai bên xương sống dưới đốt sống lưng thứ 14 đo ngang ra 1,5
thốn. Điểm gặp nhau của đường ngang qua đầu mỏm gai đốt sống thắt lưng 2 và
đường thẳng đứng ngoài mạch Đốc 1,5 thốn là huyệt.
 Giải phẫu: dưới da là cân ngực - thắt lưng của cơ lưng to, cơ răng bé sau - dưới,
cơ lưng dài, cơ ngang gai, cơ gian mám ngang, cơ vuông thắt lưng, cơ đái - chậu.
 Thần kinh vận động cơ là nhánh của đám rối cánh tay, nhánh của dây sống thắt
lưng 2, nhánh của đám rối thắt lưng.
 Da vùng huyệt chi phối bởi tiết đoạn thần kinh L1 hay L2.
 Tác dụng lâm sàng: Chữa đau lưng, đầu váng, mắt hoa, ù tai, liệt dương di,
mộng tinh, đái đục, đái ra máu, đái dầm, bí đái, các bệnh kinh nguyệt, khí hư, phù
thũng. Phối hợp với bàng quang du, trung cực, tam âm giao chữa viêm nhiễm
đường tiết niệu, bí đái.
1.7.8. Bàng quang du [12,24].
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status