chuyên đề tốt nghiệp 2011 thúc đẩy xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của công ty cổ phần xuất nhập khẩu eufood việt nam - Pdf 19

LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin trân trọng cảm ơn !
Giáo viên hướng dẫn: Thạc sĩ – NCS Nguyễn Thị Thuý Hồng đã tận
tình hướng dẫn giúp đỡ tác giả hoàn thành chuyên đề thực tập tốt nghiệp này.
Công ty cổ phần xuất nhập khẩu EUFOOD Việt Nam đã giúp đỡ tác
giả trong quá trình thực tập và thu thập tài liệu phục vụ cho chuyên đề thực
tập.
MỤC LỤC
Lời cảm ơn 1
Lời mở đầu 5
Chương 1: Khái quát về Công ty cổ phần XNK EUFOOD Việt Nam 8
1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty cổ phần XNK
EUFOOD Việt Nam 8
1.2. Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Công ty cổ phần XNK
EUFOOD Việt Nam 9
1.2.1. Chức năng, nhiệm vụ của Công ty cổ phần XNK EUFOOD Việt
Nam 9
1.2.2. Quyền hạn của Công ty cổ phần XNK EUFOOD Việt Nam 10
1.2.3. Cơ cấu tổ chức của Công ty cổ phần XNK EUFOOD Việt Nam. .11
1.3. Ngành nghề kinh doanh và thị trường tiêu thụ - đặc điểm hàng thủ
công mỹ nghệ 14
1.3.1. Ngành nghề kinh doanh và thị trường tiêu thụ 14
1.3.2. Đặc điểm hàng thủ công mỹ nghệ 15
Chương 2: Thực trạng hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ tại
Công ty cổ phần XNK EUFOOD Việt Nam 17
2.1.Tình hình xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt nam trong
những năm gần đây 17
2.2. Phân tích thực trạng hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ tại
Công ty cổ phần xuất nhập khẩu EUFOOD Việt Nam 19
2.2.1. Giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Công ty
cổ phần xuất nhập khẩu EUFOOD Việt Nam 19

Kết luận: 52
Danh mục tài liệu tham khảo: 53
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính tất yếu của việc lựa chọn đề tài
Hoạt động kinh doanh xuất khẩu ngày nay đóng vai trò quan trọng
trong sự phát triển của lĩnh vực ngoại thương nói riêng và sự phát triển kinh tế
của mỗi quốc gia.
Đối với Việt Nam, được sự quan tâm và tạo điều kiện của Đảng và Nhà
nước. Nên hoạt động xuất khẩu, thực sự có ý nghĩa chiến lược trong sự
nghiệp xây dựng và phát trỉển kinh tế, tạo tiền đề vững chắc, cho công nghiệp
hoá đất nước và là mũi nhọn ưu tiên trong nền kinh tế quốc dân. Có đẩy mạnh
xuất khẩu, mở cửa ra thế giới bên ngoài thì Việt Nam mới có điều kiện, thực
hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, ổn định đời sống nhân
dân.
Hiện nay, hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam ngày càng thu hút sự
quan tâm của nhiều khách hàng đặc biệt là khách hàng nước ngoài. Thủ công
mỹ nghệ là một ngành có giá trị không lớn, song có giá trị xuất khẩu cao, tuy
nhiên lại góp phần tăng nguồn ngoại tệ cho nền kinh tế quốc gia. Ngoài ra,
ngành thủ công mỹ góp phần giải quyết công ăn việc làm cho một lượng lớn
lao động thủ công, đồng thời làm tăng thu nhập cho người dân trong những
ngày tháng nông nhàn. Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động xuất
khẩu hàng thủ công mỹ nghệ, sau quá trình thực tập tại Công ty cổ phẩn XNK
EUFOOD Việt Nam, tác giả đã chọn đề tài “Thúc đẩy xuất khẩu hàng thủ
công mỹ nghệ của Công ty Cổ phần XNK EUFOOD Việt Nam” làm chuyên
đề thực tập tốt nghiệp.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
• Mục đích nghiên cứu:
Hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Công ty Cổ phần
XNK EUFOOD Việt Nam là: “Thúc đẩy xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ”
• Nhiệm vụ nghiên cứu:

1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty cổ phần XNK
EUFOOD Việt Nam.
Được thành lập năm 1998 với lĩnh vực kinh doanh chủ yếu là:
- Nhập khẩu các mặt hàng về thực phẩm, đồ uống
- Xuất khẩu các mặt hàng như: mây tre đan sang thị trường nước ngoài.
Ngoài ra Công ty còn tạo lập thêm thương hiệu bằng cách vừa nhập nguyên
liệu từ các tỉnh về làm và cung cấp sản phẩm cho các đối tác trong nước.
Tên công ty bằng tiếng việt: Công ty cổ phần XNK EUFOOD Việt Nam
Tên giao dịch: EUFOOD VIET NAM IMPORT EXPORT JOINT
STOCK COMPANY.
Trụ sở chính tại: Số 20 - Tạ Hiền – Hoàn Kiếm – Hà Nội.
Từ khi thành lập hoạt động chính của Công ty là nhập khẩu các mặt
hàng về thực phẩm, đồ uống như: Bơ, phomat, sữa, rượu, bia, nước ngọt…từ
các nước Châu Âu để phân phối cho các đại lý, siêu thị trên toàn quốc. Giai
đoạn đầu là thời kỳ khó khăn của Công ty, sự biến động nền kinh tế ở các
quốc gia trên thế giới đã khiến cho thị trường nhập khẩu của Công ty bị
ngưng trệ, thêm vào đó do mới thành lập, vốn lưu động không đủ bù đắp chi
phí, việc quay vòng vốn gặp nhiều khó khăn.
Sau nhiều nỗ lực, từ năm 2003 đến nay, nhận thấy được thế mạnh của
hàng thủ công mỹ nghệ đang trên đà phát triển mạnh. Công ty đã mở rộng
thêm hoạt động kinh doanh về thủ công mỹ nghệ, chính điều này đã giúp
Công ty ngày một đi lên và đã góp phần không nhỏ trong việc đưa lợi nhuận
của Công ty ngày một lớn. Hiện nay, đang là nguồn tạo doanh thu chủ yếu
của Công ty, đối với các mặt hàng nhập khẩu cũng nhanh chóng khởi sắc.
Những mặt hàng xuất khẩu của Công ty, dẫn đầu là hàng mây tre đan, ngày
càng chiếm lĩnh thị trường không chỉ trong nước mà còn chiếm lĩnh được cả
thị trường khó tính nước ngoài như: EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ…
Song bên cạnh đó, không thể không kể đến những khó khăn mà Công
ty gặp phải trong giai đoạn đầu, như việc cạnh tranh với các đối thủ khác, thị
trường xuất khẩu chưa nhiều, cơ cấu mặt hàng còn hạn chế nhưng với lòng

Được tự do, chủ động đàm phán, ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán
ngoại thương, hợp đồng kinh tế và các văn bản hợp tác liên doanh, liên kết đó
ký với khách hàng trong nước và ngoài nước thuộc phạm vi hoạt động của
công ty.
Được vay vốn, huy động và sử dụng vốn ở trong và ngoài nước nhằm
phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty theo đúng pháp luật
hiện hành của Nhà nước.
Công ty có quyền bảo vệ hợp pháp uy tín của mình về tất cả mọi
phương tiện: Tư cách pháp nhân, mẫu mã, đề tài, uy tín sản phẩm…
Được mở rộng các cửa hàng, đại lý mua bán ở trong và ngoài nước để
bán và giới thiệu sản phẩm.
Được lập các phương án kinh doanh và tiến hành kinh doanh trên cở sở
tự đảm bảo cân đối thu chi, đem lợi ích kinh tế cho công ty.
1.2.3. Cơ cấu tổ chức
• Bộ máy tổ chức quản lý:
Bộ máy bao gồm:
- Giám đốc
- Phó giám đốc
- Các phòng ban chức năng:
+ Phòng kế hoạch thị trường
+ Phòng kế toán tài chính
+ Phòng tổ chức hàng chính
Các đơn vị trực tiếp sản xuất kinh doanh trong Công ty:
+ Các phòng nghiệp vụ kinh doanh
Chức năng nhiệm vụ của các phòng trong bộ máy:
- Giám đốc là người đại diện cho Công ty trước pháp luật. Giám đốc là
người lập kế hoạch chính sách kinh doanh, đồng thời cũng là người trực tiếp
điều hành mọi hoạt động của Công ty. Giám đốc là người luôn đứng đầu
trong việc hoạch định chiến lược kinh doanh.
- Giám đốc là người chịu trách nhiệm chính về mọi việc tổ chức và điều

- Thanh toán tiền hàng với bạn hàng trong nước và nước ngoài
- Giám sát việc sử dụng vốn của các đơn vị, đôn đốc thu hồi vốn.
- Lựa chọn phương án hoạch toán phù hợp và hướng dẫn kế toán các
đơn vị trong công tác hoạch toán. Chấp hành nghiêm chỉnh chế độ báo cáo kế
toán, thống kê thuế kịp thời chính xác đúng quy định.
- Kế toán trưởng liên đới chịu trách nhiệm khi để các đơn vị trực thuộc
sử dụng vốn sai mục đích, làm thất thoát vốn.
+ Phòng tổ chức hành chính:
- Có chức năng tổ chức quản lý, tuyển chọn lao đông, đào tạo đội ngũ
cán bộ công nhân viên và nâng cao trình độ quản lý cho các bộ phận.
- Xây dựng phương án bố trí sắp sếp nhân viên toàn Công ty.
- Lên kế hoạch đào tạo bồi dưỡng nhân viên.
- Xây dựng phương án bảo vệ đảm bảo công tác an ninh trật tự an toàn
cơ quan.
- Làm tốt công tác văn thư, lưu trữ, quản lý dấu Công ty, dấu chức
danh.
- Đảm bảo công tác vệ sinh môi trường cơ quan.
+ Các đơn vị trực tiếp sản xuất – kinh doanh trong Công ty:
Các đơn vị trực tiếp sản xuất kinh doanh hoạt động trên nguyên tắc khoán với
3 hình thức:
• Đối với hàng hoá xuất nhập khẩu có điều kiện (do Giám đốc Công ty
giao) Giám đốc Công ty khoán các chi phí, 100% lợi tức nộp Công ty.
• Đối với hàng hoá xuất nhập khẩu do các đơn vị tự khai thác: Giám
đốc Công ty khoán lợi tức phải nộp cho Công ty (mức nộp tuỳ theo từng mặt
hàng).
• Đối với mặt hàng xuất nhập khẩu uỷ thác qua Công ty và hàng hoá
kinh doanh nội địa, Giám đốc Công ty quy định mức lợi tức phải nộp cho
Công ty theo phần trăm (%) tính trên hoa hồng uỷ thác hoặc tính trên doanh
số kinh doanh đối với hàng nội địa.
1.3. Ngành nghề kinh doanh và thị trường tiêu thụ - đặc điểm hàng thủ

văn hoá truyền thống, tập quán của từng địa phương, quốc gia. Với những nét
riêng biệt như vậy đã tạo cho hàng thủ công mỹ nghệ có những đặc điểm rất
riêng ngay từ nguyên liệu sản xuất, với những nguyên liệu có sẵn, tại chỗ,
phong phú về chủng loại như: mây, tre, nứa, sơ dừa, đay, gai, sương động vật,
ngà voi….
Với những nguyên liệu thô sơ này, qua bàn tay người lao động, tạo nên
cho hàng thủ công mỹ nghệ một đặc điểm nữa mà các ngành chế biến khác
không có, đó chính là các sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ được làm hoàn
toàn bằng đôi bàn tay khoé léo của người thợ, chỉ có một vài công đoạn có sử
dụng đến máy móc như cắt, xẻ, xén…lực lượng lao động tham gia ngoài
những người thợ chính xuất thân từ nông nghiệp thì còn rất nhiều những lao
động họ đi làm mang tính thời vụ, nhưng những sản phẩm họ làm ra rất tinh
tế và đẹp mắt đã lọt vào mắt của những khách hàng khó tính như Mỹ, Châu
Âu…
Sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ luôn đa dạng về màu sắc, chủng loại,
chất liệu, mang nét truyền thống. Là tinh hoa của từng địa phương, dân tộc,
phục vụ đời sống tinh thần nhân dân, nó được coi như nhịp cầu giao lưu văn
hoá giữa các vùng, miền. Ngày nay, hàng thủ công mỹ nghệ không chỉ đáp
ứng thị hiếu tiêu dùng trong nước mà đang ngày càng thu hút được sự quan
tâm của khách nước ngoài, đó chính là sự khám phá những nét đẹp văn hoá
nhờ các sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG THỦ
CÔNG MỸ NGHỆ TẠI CÔNG TY CỔ PHẨN XUẤT NHẬP KHẨU
EUFOOOD VIỆT NAM.
2.1 Tình hình xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt nam trong
những năm gần đây.
Trong những năm gần đây, hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam đã
ngày càng thu hút được sự quan tâm của khách hàng, nhất là khách hàng
nước ngoài, hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam đã có mặt trên nhiều nước
ở khắp các châu lục của thế giới. Với nhiều kiểu dáng, mẫu mã đa dạng phong

- Mỹ: là nước có nhu cầu nhập khẩu hàng thủ công mỹ nghệ rất cao,
kim ngạch đạt 13 tỷ USD/ năm nhưng hàng của Việt Nam chỉ chiếm 1,5% thị
phần. Năm 2006 Việt Nam xuất khẩu khoảng 77 triệu USD hàng thủ công mỹ
nghệ vào thị trường Mỹ chủ yếu là gốm sứ chiếm 36,8%.
Đây là thị trường mà chúng ta cần phải khai thác, muốn vậy hàng thủ
công mỹ nghệ phải được cải tiến hơn nữa về mẫu mã, nâng cao chất lượng
sản phẩm đây cũng chính là đòi hỏi chung cho tất cả các thị trường của Việt
Nam.
- Nhận Bản: Là thị trường đầy tiềm năng nhưng lại là thị trường khó
tính đòi hỏi khắt khe về chất lượng sản phẩm vì vậy cần có những biện pháp
xúc tiến thương mại và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Song bên cạnh đó hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam vẫn chưa đáp
ứng hết nhu cầu của thị trường, việc tiếp cận để tranh thủ cơ hội còn gặp
nhiều khó khăn, chính điều này đòi hỏi chúng ta phải tìm hiểu, học hỏi và tìm
ra giải pháp để đưa hàng thủ công mỹ nghệ của chúng ta đạt được kỹ xảo
riêng, chất liệu riêng, đặc trưng để đáp ứng thị hiếu khách hàng tạo ra sức
cạnh tranh trên thị trường Quốc tế.
2.2. Phân tích thực trạng hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ tại
Công ty cổ phần xuất nhập khẩu EUFOOD Việt Nam.
2.2.1 Giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Công ty
Cổ phần xuất nhập khẩu EUFOOD Việt Nam.
Kết quả hoạt động sản xuất và xuất khẩu của Công ty trong những năm
gần đây.
Để biết được hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phẩn xuất
nhập khẩu EUFOOD Việt Nam ta có thể xem xét các chỉ tiêu qua bảng Kết
quả hoạt động kinh doanh của Công ty qua 3 năm 2008, 2009 và 2010 và sáu
tháng đầu năm 2011 sau đây:
BẢNG 2.1: BÁO CÁO KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA CÔNG TY
XNK EUFOOD VIỆT NAM TỪ 2008 - 2011
Đơn vị tính: 1000đ

25,48% tương đương với trên 3 tỷ đồng so với năm 2009. Sáu tháng đầu năm
2011 tăng 13,95% so với năm 2010.
Giá vốn: Thể hiện tổng giá trị gốc của hàng hoá, dịch vụ đang thực hiện
tại Công ty, chỉ tiêu này cho thấy lượng giá vốn các mặt hàng kinh doanh của
Công ty qua 3 năm đều tăng dần, đồng thời chỉ tiêu này là căn cứ để tính phần
lãi gộp.
Lãi gộp: Là chênh lệch giữa chỉ tiêu doanh thu và giá vốn hay chính là
chênh lệch giữa doanh thu mang về và giá vốn sản xuất hoặc mua vào của
hàng hoá và dịch vụ, chỉ tiêu này không bao gồm các chi phí liên quan đến
quá trình sản xuất và kinh doanh của Công ty.
Qua bảng số liêu trên ta thấy lãi gộp của Công ty cũng tăng dần qua các
năm, nhất là năm 2009 tăng 64,25% so với năm 2008, sang năm 2010 có giảm
đi chỉ tăng 30,5% so với năm 2009. Sáu tháng đầu năm 2011 tăng lên 23,37%
so với năm 2010 và có thể từ nay đến hết năm 2011 lãi gộp sẽ còn tăng hơn
nữa.
Chi phí: Để đảm bảo cho quá trình kinh doanh có hiệu quả Công ty
phải chi phí về vận chuyển, bốc dỡ, bảo quản…các chi phí này cũng tăng dần
qua các năm, được thể hiện rõ trong bảng số liệu trên.
Năm 2009 tăng 10,39% so với năm 2008, lượng tăng tuyệt đối là
93,270 nghìn đồng.
Năm 2010 tăng 39,04% so với năm 2009, lượng tăng tuyệt đối là
386,630 nghìn đồng. Sáu tháng đầu năm 2011 tăng 13,86% so với năm 2010.
Nguyên nhân dẫn đến mức chi phí tăng đó là do Công ty phải chụi sự
tăng giá của cước phí vận chuyển, chi phí quảng cáo, tiếp thị, chi phí thu mua
bốc dỡ nguyên vật liệu…Một phần là do sự biến động của nền kinh tế trong
nước làm giá cả đều tăng cao.
Để đánh giá hiệu quả kinh doanh của Công ty ta phải xem xét tốc độ
tăng của doanh thu với tốc độ tăng của chi phí:
- Tốc độ tăng của doanh thu năm 2009 so với năm 2008 bằng 1,172 lần
(1,172%).

tựu nhất đối với Công ty, sang năm 2010 lợi nhuận này vẫn tăng nhưng tốc độ
tăng chậm hơn, tăng 15,1% so với năm 2009. Sau tháng đầu năm 2011 tốc độ
tăng vọt lên 44%, năm 2011 đang là năm hy vọng khởi sắc lớn của Công ty.
Thuế thu nhập doanh nghiệp: Chỉ tiêu này cho biết số tiền thuế mà
doanh nghiệp phải nộp cho ngân sách nhà nước, được tính bằng cách lấy
doanh thu trước thuế nhân với phần trăm thuế thu nhập doanh nghiệp phải
nộp. Ở bảng kết quả kinh doanh trên, năm 2008 áp dụng mức thuế thu nhập
doanh nghiệp là 32%, sang đến năm 2009 mức thuế này được Nhà nước
khuyến khích giảm xuống chỉ còn là 28%. Nhìn vào bảng số liệu ta thấy số
thuế thu nhập doanh nghiệp mà Công ty đã nộp cho Nhà nước rất nhiều qua
các năm nhất là năm 2009 và năm 2010.
Lợi nhuận sau thuế: Chỉ tiêu này đánh giá lợi nhuận mà Công ty được
hưởng sau khi trừ đi tất cả các chi phí.
Trong ba năm nay, Công ty luôn có lợi nhuận, nhất là năm 2009 và
năm 2010 và sáu tháng đầu năm 2011, lợi nhuận của Công ty tăng khá nhanh
cụ thể năm 2009 tăng 135,38% so với năm 2008 và năm 2010 tăng 15,11% so
với năm 2009, năm 2011 tăng vọt 44% so với năm 2010. Qua sự tăng trưởng
ở số liệu trong bảng trên, ta thấy năm 2009 năm Công ty đạt được lợi nhuận
cao nhất, sang đến năm 2010 thì lợi nhuận có tăng, nhưng chậm hơn. Sang 6
tháng đầu năm 2011 thì lợi nhuân tăng vọt so với năm 2010 và con số này
chắc chắn sẽ còn tăng trong sáu tháng cuối năm 2011. Lợi nhuận tăng, điều
này góp phần làm tăng nguồn vốn của Công ty và chỉ tiêu tổng hợp biểu hiện
kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh, phản ánh đầy đủ các mặt số lượng
và chất lượng của Công ty, kết quả sử dụng các yếu tố lao động, vật tư… nó
là nguồn vốn quan trọng để tái sản xuất mở rộng toàn bộ hoạt động kinh
doanh và là đòn bẩy kinh tế của doanh nghiệp trên cơ sở của chính sách phân
phối đúng đắn.
Về tiền lương: Nhìn chung tiền lương bình quân của lao động hàng
năm đều tăng, điều này là động lực để khuyến khích người lao động thêm
hăng say làm việc tạo hiêụ quả trong lao động sản xuất.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status