BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Đề tài
Kinh tế thị trường và việc cần thiết
chuyển sang kinh tế thị trường
định hướng XHCN ở Việt Nam
1
MỤC LỤC
I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ VIỆC CẦN THIẾT
CHUYỂN SANG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT
NAM.
1. Lý luận chung về kinh tế thị trường.
Kinh tế thị trường là kinh tế hàng hoá phát triển ở trình độ cao, khi tất cả các
quan hệ kinh tế trong quá trình tái sản xuất xã hội đều được tiền tệ hoá; các yếu tố
“đầu vào”, “đầu ra” của sản xuất như đất đai và tài nguyên, vốn bằng tiền và vốn vật
chất, sức lao động, công nghệ và quản lý; các sản phẩm và dịch vụ tạo ra; chất xám
đều là đối tượng mua bán, là hàng hoá
Kinh tế thị trường được coi như một hệ thống các quan hệ kinh tế. khi các quan
hệ kinh tế giữa các chủ thể đều biểu hiện qua mua bán hàng hoá dịch vụ trên thị trường
(người bán cần tiền, người mua cần hàng và họ phải gặp nhau trên thị trường) thì nền
kinh tế đó là nền kinh tế thị trường.
Kinh tế thị trường là cách tổ chức nền kinh tế - xã hội, trong đó, các quan hệ
kinh tế của các cá nhân, các doanh nghiệp đều biểu hiện qua mua bán hàng hoá, dịch
vụ trên thị trường và thái độ cư xử của từng thành viên chủ thể kinh tế là hướng vào
việc tìm kiếm lợi ích của chính mình theo sự dẫn dắt của giá cả thị trường.
2.Sự cần thiết chuyển sang kinh tế thị trường ở Việt Nam.
Đại hội VII của Đảng đã xác định, đổi mới cơ chế kinh tế ở nước ta là một tất yếu khách
quan. Đổi mới để nâng cao chất lượng cuộc sống, để phát triển kinh tế phù hợp với xu hướng
phát triển chung của kinh tế thế giới. Vì với cơ chế kinh tế cũ, với việc bao cấp tràn lan, quản lý
kinh tế kém hiệu quả thì việc sản xuất không đủ sản phẩm để tiêu dùng dẫn đến không thể tích
luỹ để mở rộng sản xuất dẫn đến thiếu hụt ngân sách, làm cho nền kinh tế đình trệ. Đặc trưng
của kinh tế chỉ huy là rất cứng nhắc nó chỉ có tác dụng thúc đẩy phát triển kinh tế trong giai
hướng XHCN là quá trình kết hợp giữa chuyển nền kinh tế còn mang nặng tính chất tự cung tự
cấp sang nền kinh tế hàng hoá tiến tới nền kinh tế thị trường và quá trình chuyển cơ chế tập
trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước.
3
Quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở nước ta có đặc điểm là quá trình chuyển
nền kinh tế kém phát triển mang tính tự cấp tự túc sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần.
Mặt khác, ở nước ta cũng đã tồn tại mô hình kinh tế chỉ huy với cơ chế kế hoạch hoá tập trung.
Nó gần như đối lập với thị trường, kinh tế thị trường vận động theo cơ chế thị trường. Thị
trường được coi là trung tâm của sản xuất và toàn bộ quá trình tái sản xuất xã hội. Vì vậy quá
trình chuyển nền kinh tế nước ta sang nền kinh tế thị trường còn là quá trình xoá bỏ cơ chế tập
trung quan liêu bao cấp, hình thành đồng bộ cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước.
Quá trình chuyển nền kinh tế nước ta sang kinh tế thị trường đồng thời cũng là quá trình
quá trình thực hiện nền kinh tế mở, nhằm hoà nhập thị trường trong nước với thị trường thế
giới. Kinh tế “đóng” “khép” thường gắn với nền kinh tế phong kiến, gắn với sản xuất nhỏ mang
nặng tính cục bộ địa phương chủ nghĩa và với tình trạng “bế quan tỏa cảng”. Chính sự xuất hiện
và phát triển của sản xuất hàng hóa đã phá vỡ các quan hệ truyền thống của kinh tế khép kín.
Sự phát triển của tư bản chủ nghĩa đã khẳng định: kinh tế hàng hoá làm cho thị trường dân tộc
gắn bó và hoà nhập với thị trường thế giới. Chính giao lưu hàng hóa đã làn cho các quan hệ
kinh tế được mở rộng, vượt ra khỏi phạm vi quốc gia, đã thúc đẩy nền kinh té phát triển nhanh
chóng. Kinh tế mở là đặc điểm và là xu thế của thời đại ngày nay mà bất kỳ một quốc gia nào
cũng phải coi trọng. Trong quan hệ kinh tế quốc tế, chúng ta đã có nhiều đổi mới quan trọng,
chúng ta đã chuyển quan hệ kinh tế quốc tế từ đơn phương sang đa phương, quan hệ với tất cả
các nước không phân biệt chế độ chính trị, theo nguyên tắc đôi bên cùng có lợi không can thiệp
vào công việc nội bộ của nhau.
Trong những năm gần đây, thực hiện quan điểm về kinh tế đối ngoại nói trên hoạt động
kinh tế đối ngoại nước ta có những tiến bộ lớn. Xuất khẩu hàng hoá tăng nhanh với nhịp độ trên
dưới 20% hàng năm (1986-1992) đảm bảo nhập khẩu các loại vật tư và công nghệ chủ yếu,cải
thiện dần cán cân thanh toán quốc tế. Chúng ta đã nhanh chóng điều chỉnh và khắc phục được
những hẫng hụt về thị trường và nguồn vốn từ các nước SNG và Đông Âu. Nguồn vốn nước
ngoài đầu tư vào Việt Nam cũng tăng nhanh.
phải nắm giữ những khâu, những lĩnh vực then chốt của nền kinh tế quốc dân. Kinh tế
nhà nước phải là kiểu mẫu về năng suất, chất lượng, hiệu quả và chấp hành pháp luật
để lôi cuốn các thành phần kinh tế khác theo quỹ đạo của CNXH. Kinh tế Nhà nước
phải có giá trị tổng sản lượng hàng hoá ngày càng tăng, đóng góp tỷ lệ cao trong ngân
sách nhà nước, không ngừng nâng cao trình độ và đời sống của mọi người lao động.
6
2. Nền kinh tế thị trường với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế
trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo là lực lượng vật chất để dẫn dắt các
thành phần kinh tế khác phát triển theo một định hướng chung, đó là XHCN.
Nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta lấy giải phóng sức sản xuất
làm căn cứ chủ yếu để hoạch định cơ cấu thành phần kinh tế, hình thức sở hữu. Trong
nền kinh tế nước ta tồn tại ba loại hình sở hữu cơ bản: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể
và sở hữu tư nhân, từ ba loại hình sở hữu cơ bản đó hình thành nhiều thành phần kinh
tế, nhiều hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh. Đại hội Đảng VII đã khẳng định, các
thành phần kinh tế đang tồn tại khách quan tương ứng với tính chất và trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất trong giai đoạn lịch sử hiện nay, đó là: kinh tế Nhà nước,
kinh tế hợp tác, kinh tế cá thể, kinh tế tư nhân tư bản chủ nghĩa và kinh tế tư bản Nhà
nước. Do đó không chỉ ra sức phát triển các thành phần kinh tế thuộc chế độ công hữu,
mà còn phải khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế thuộc sở hữu tư nhân để
hình thành nền kinh tế thị trường rộng lớn bao gồm các đơn vị kinh tế thuộc chế độ
công hữu, các đơn vị kinh tế tư doanh, các hình thức hợp tác liên doanh giữa trong và
ngoài nước, các hình thức đan xen và xâm nhập vào nhau giữa các thành phần kinh tế
đều có thể tham gia thị trường với tư cách chủ thể thị trường bình đẳng.
Nền kinh tế nhiều thành phần trong sự vận động của cơ chế thị trường ở nước ta
là nguồn lực tổng hợp to lớn để đưa nền kinh tế vượt khỏi tình trạng thấp kém, đưa nền
kinh tế hàng hoá phát triển kể cả trong điều kiện ngân sách nhà nước hạn hẹp.
Nền kinh tế nhiều thành phần vừa phản ánh tính đa dạng phong phú trong việc
đáp ứng nhu cầu xã hội vừa phản ánh tính chất phức tạp trong việc quản lý theo định
hướng xã hội chủ nghĩa. Do đó, việc “ phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
phải đi đôi với tăng cường quản lý của Nhà nước về kinh tế xã hội”. Để hạn chế và
doanh giờ đây đã trở thành điều bình thường. Chỉ có trên cơ sở đó mới gia tăng số
người giàu có trong xã hội. Tăng số người có thu nhập cao đồng thời giảm số người có
thu nhập thấp trong xã hội và thu hẹp dần khoảng cách chênh lệch giàu - nghèo vừa là
mục tiêu, vừa là nội dung quan trọng của chính sách thu nhập và chính sách điều tiết
thu nhập của Nhà nước trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN ở nước ta.
8
4. Mở cửa hội nhập kinh tế thế giới, trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ và toàn
vẹn lãnh thổ quốc gia.
Quá trình phát triển của kinh tế thị trường đi liền với xã hội hoá nền sản xuất xã
hội. Tiến trình xã hội hoá trên cơ sở phát triển của kinh tế thị trường là không có biên
giới quốc gia về phương diện kinh tế. Một trong những đặc trưng quan trọng của kinh
tế thị trường hiện đại là việc mở rộng giao lưu kinh tế với nước ngoài. Xu hướng quốc
tế hoá đời sống kinh tế với những khu vực hoá và toàn cầu hoá đang ngày càng phát
triển và trở thành xu thế tất yếu trong thời đại của cuộc cách mạng khoa học - công
nghệ hiện nay. Tất cả các nước trên thế giới, dù muốn hay không muốn, ít nhiều đều bị
lôi cuốn, thu hút vào các quan hệ kinh tế quốc tế. Tranh thủ thuận lợi và cơ hội, tránh
nguy cơ tụt hậu xa hơn và vượt qua thách thức là yêu cầu nhất thiết phải thực hiện. Để
phát triển trong điều kiện của kinh tế thị trường hiện đại, Việt Nam không thể đóng
cửa, khép kín nền kinh tế trong trạng thái tự cung, tự cấp, mà phải mở cửa, hội nhập
với nền kinh tế thế giới. Sự mở cửa, hội nhập được thực hiện bằng nhiều hình thức như
tăng cường hoạt động ngoại thương, hợp tác, liên doanh, liên kết để thu hút vốn đầu tư
nước ngoài, tranh thủ nắm bắt công nghệ mới, tiến tới có khả năng cạnh tranh trên thị
trường thế giới, nhanh chóng đưa nền kinh tế nước ta hội nhập vào nhịp điệu kinh tế
thế giới. Tuy nhiên, sự mở cửa, hội nhập không có nghĩa là sự hoà tan, đánh mất mình,
mà phải trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh và không ngừng nâng cao sức cạnh tranh
của nền kinh tế, giữ vững độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia.
5. Nền kinh tế thị trường vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước theo định hướng XHCN một mặt phát huy được mặt tích cực đồng thời hạn
chế khuyết tật của thị trường đảm bảo kinh tế thị trường phát triển nhằm mục
đó sẽ nâng cao GDP. Ngân hàng Trung ương là người kiểm soát khối lượng tiền tệ có
thể áp dụng các biện pháp “nới lỏng tiền tệ” trong cơn suy thoái; Khi lạm phát cao,
ngân hàng Trung ương áp dụng các biện pháp “thắt chặt tiền tệ” nhằm giảm lạm phát.
Như vậy, thông qua chính sách tài chính và chính sách tiền tệ Nhà nước cố gắng ổn
định nền kinh tế duy trì nền kinh tế càng sát càng tốt đối với tình trạng có đầy đủ việc
làm và lạm phát thấp.
10
Ba là, đảm bảo cho nền kinh tế hoạt động có hiệu quả. Một trong những nguyên
nhân dẫn đến tính kém hiệu quả của cả hoạt động thị trường là những tác động, mà các
nhà kinh tế gọi là tác động bên ngoài. Các doanh nghiệp vì lợi ích tối đa của mình có
thể lạm dụng tài nguyên xã hội, gây ô nhiễm môi trường sống của con người mà xã hội
phải gánh chịu. Chẳng hạn, một doanh nghiệp sản xuất hoá chất, tống chất thải ra hồ
gây ô nhiễm nguồn nước địa phương, làm chết cá, Chính phủ có thể buộc các doanh
nghiệp phải trả tiền cho những thiệt hại do ô nhiễm, mà doanh nghiệp đã gây ra. Sự
can thiệp của Chính phủ nhằm ngăn chặn những tác động bên ngoài để nâng cao hiệu
quả.
Một nguyên nhân khác dẫn đến tính kém hiệu quả của hoạt động thị trường là
sự xuất hiện của độc quyền. Các tổ chức độc quyền có thể không tăng thậm chí giảm
số lượng hàng hoá mà chỉ tăng giá để tăng lợi nhuận. Một nền kinh tế được thúc đẩy
bởi cạnh tranh hoàn hảo sẽ đạt hiệu quả cao, nhưng cạnh tranh làm hạn chế khả năng
đạt lợi nhuận độc quyền nên các doanh nghiệp thường giảm bới cạnh tranh. Vì vậy,
Nhà nước có một nhiệm vụ rất cơ bản bảo vệ cạnh tranh và chống độc quyền để nâng
cao tính hiệu quả của hoạt động thị trường.
Bốn là, đồng thời để đảm bảo tính hiệu quả thì Nhà nước phải sản xuất ra hàng
hoá công cộng, đảm bảo xây dựng kết cấu hạ tầng cho nền kinh tế, thực hiện công
bằng xã hội. Sự hoạt động của cơ chế thị trường có thể làm cho nền kinh tế đạt hiệu
quả cao. Nhưng cơ chế thị trường hoạt động phi nhân tính, nó không tính đến các khía
cạnh nhân đạo và xã hội, không mang lại những kết quả mà xã hội cố gắng vươn tới.
Việc phân phối và sử dụng tối ưu các nguồn lực không tự động mang lại một sự phân
phối thu nhâp cao. Sự can thiệp của Nhà nước nhằm phân phối thu nhập công bằng,
là chúng ta chưa tôn trọng và vận dụng những quy luật khách quan, tư tưởng kinh tế
vẫn còn chủ quan duy ý chí. Cụ thể cơ cấu kinh tế còn mất cân đối nghiêm trọng giữa
12
công nghiệp và nông nghiệp, nông nghiệp vẫn chiếm một tỷ trọng lớn trong nền kinh
tế, hiện tượng độc canh cây lúa còn khá phổ biến, cây công nghiệp có giá trị cao chưa
có cơ hội phát triển, đồng thời các ngành nghề chưa phát triển chính vì thế có thể nói
cơ cấu kinh tế nước ta còn mang nặng đặc trưng của một cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
Tuy từ Đại hội VI của Đảng đến nay Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương chuyển
dịch cơ cấu kinh tế và đã đạt được một số thành tựu đáng khích lệ nhưng chúng ta vẫn
chưa hình thành được một cơ cấu kinh tế hợp lý và có hiệu quả.
Thứ ba, là chưa hình thành được thị trường đúng nghĩa của nó, ở nước ta thị
trường còn mang tính sơ khai, hoang sơ, thị trường dân tộc phát triển thiếu đồng bộ
giữa các loại thị trường: thị trường hàng hóa tiêu dùng do hạn chế hệ thống giao thông
vận tải nên thị trường hàng hóa tiêu dùng bị chia cắt, nhiều tiêu cực, gian lận, trốn
thuế. Các thị trường mới hình thành như thị trường bất động sản, thị trường tài chính
thiếu minh bạch. Thị trường khoa học công nghệ, thị trường sức lao động manh nha,
thiếu các yếu tố cần thiết như luật pháp Các quan hệ tiền tệ hàng hoá chưa hình thành
một cách rõ nét.
Thứ tư, là năng suất lao động xã hội và thu nhập quốc dân tính theo đầu người
còn thấp, đời sống nhân dân còn khó khăn.
Thực trạng nền kinh tế hàng hoá còn manh mún nhỏ lẻ, kém phát triển được
biểu hiện ra bên ngoài ở năng suất lao động xã hội thấp, đời sống nhân dân không
được cải thiện là bao, so với các nước Đông Nam A thì thu nhập tính theo đầu người ở
nước ta vào dạng thấp.
Thứ năm, nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, nhiều loại hình sản xuất
nhưng trong đó chủ yếu là sản xuất nhỏ, tỷ trọng hàng hóa thấp là do nhận thức chưa
đầy đủ về nền kinh tế thị trường kết hợp với tư tưởng chủ quan duy ý chí về nền kinh
tế xã hội chủ nghĩa, hơn nữa một quan niệm đã được hình thành và tồn tại rất lâu từ
trước tới nay trong lí luận về chủ nghĩa xã hội là cho rằng kinh tế thị trường và chủ
nghĩa xã hội là không thể dung hợp với nhau. Tất cả những tư tưởng quan điểm trên đã
và cung ứng những dịch vụ công cộng và sản phẩm thuộc các lĩnh vực có ý nghĩa quốc
tế, dân sinh. Để đảm bảo vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước, trong những năm tới
cần thiết phải củng cố lại hệ thống kinh tế Nhà nước, thực hiện sắp xếp lại doanh
nghiệp Nhà nước, cải tiến quản lý, nâng cao tính hiệu quả hoạt động sản xuất kinh
14
doanh của chúng thông qua việc nghiên cứu và phát triển một cách phù hợp các hình
thức tổ chức kinh doanh.
Đối với kinh tế hợp tác xã: Cần thiết phải có sự tổng kết, rút kinh nghiệm về
bài học hợp tác xã kiểu cũ và xây dựng mô hình kinh tế hợp tác và hợp tác xã kiểu mới
đang được phát triển hiện nay, đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, đổi mới
phương thức quản lý, đẩy nhanh sự phát triển của các thành phần kinh tế trong các lĩnh
vực của nền kinh tế để huy động nguồn lực vào phát triển kinh tế hàng hoá, kinh tế thị
trường ở nước ta.
Đối với loại hình sản xuất hàng hoá nhỏ của nông dân, thợ thủ công, người
buôn bán nhỏ: Một mặt thông qua cơ chế, chính sách và hướng dẫn phát triển của
Nhà nước khuyến khích sự phát triển của các thành phần kinh tế này. Mặt khác cần
tăng cường công tác quản lý để xây dựng nề nếp sản xuất kinh doanh theo quy định
của pháp luật.
Đối với thành phần kinh tế tư bản tư nhân: Cần có chính sách khuyến khích
thành phần kinh tế này để các nhà tư bản yên tâm và mạnh dạn đầu tư vào nền kinh tế,
đặc biệt là lĩnh vực sản xuất hàng hoá tiêu dùng và xuẩt khẩu.
Đối với kinh tế tư bản Nhà nước: Nhà nước cần có chính sách khuyến khích
thành phần kinh tế này phát triển kể cả với tư bản Nhà nước trong nước và tư bản Nhà
nước với nước ngoài. Muốn vậy, phải có các chính sách và các hình thức đa dạng để
thu hút vốn đầu tư của các nhà tư bản trong và ngoài nước thông qua phát triển các
khu công nghiệp tập trung, các hình thức chế xuất, các hình thức liên doanh, liên kết.
Ngoài ra, hiện nay ở nông thôn và đặc biệt ở vùng núi còn tồn tại khá nặng tính
chất của nền kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc. Vì vậy, cần có chính sách thúc đẩy sự phát
triển mạnh mẽ sản xuất hàng hoá ở các vùng này, đặc biệt chú ý tới việc xây dựng cơ
sở hạ tầng, đẩy mạnh lưu thông hàng hoá với các vùng phát triển trong nước.
một đất nước có 70 triệu dân và mỗi năm tăng thêm hơn một triệu dân là rất lớn. Một
mặt, đó là sức ép lớn đối với sản xuất trong điều kiện sản xuất thấp kém, sản phẩm tiêu
dùng, dịch vụ chưa đủ đáp ứng tiêu dùng tối thiểu là vấn đề căng thẳng cho đất nước.
Mặt khác, nhu cầu lớn về hàng tiêu dùng và dịch vụ là động lực phát triển kinh tế hàng
hoá. Vì nhu cầu lớn tạo ra khả năng tăng cầu, mà tăng cầu là vấn đề trọng yếu trong
kinh tế hàng hoá. Vì vậy, việc phát triển thị trường hàng tiêu dùng và dịch vụ đòi hỏi
16
phải tăng dung lượng thị trường, tăng khối lượng hàng hoá tiêu dùng và dịch vụ để
thoả mãn nhu cầu về ăn, ở, mặc, đi lại, học tập, chữa bệnh cho nhân dân. Ở đây cần
khai thác thế mạnh của đất nước về đất đai, rừng, biển, tiểu thủ công nghiệp, công
nghiệp hàng tiêu dùng, chế biến để có nguồn hàng ngày càng lớn đáp ứng nhu cầu.
Đồng thời, cùng với số lượng cũng phải chú ý tới chủng loại phong phú và nâng cao
chất lượng để đáp ứng nhu cầu đa dạng và ngày càng cao.
Hai là, từng bước giảm giá cả hàng hoá tiêu dùng và dịch vụ. Vì với một lượng
thu nhập nhất định, nếu giá cả hàng hoá thấp, khả năng mua sản phẩm sẽ tăng lên, làm
tăng dung lượng thị trường và ngược lại. Song đối với người sản xuất, người bán, việc
giảm giá cả hàng hóa đặt ra một yêu cầu khác. Đối với họ, cái quan tâm là lợi nhuận.
Điều đó có nghĩa là, giá cả hàng hoá phải bù đắp được chi phí và có lãi. Vì vậy giảm
giá cả hàng hoá và có lợi nhuận là một mâu thuẫn đối với người sản xuất. Để giải
quyết mâu thuẫn này, cần phải lựa chọn một trong hai phương án sau:
Phương án thứ nhất là giảm chi phí sản xuất để làm cơ sở cho việc giảm giá.
Trong trường hợp này, giá cả hàng hoá và chi phí đều giảm, nhưng chi phí sản xuất
phải giảm nhiều hơn, do đó lợi nhuận vẫn đảm bảo.
Phương án thứ hai là tăng khối lượng sản phẩm cung ứng trên thị trường để
trong trường hợp giảm giá, lợi nhuận của một đơn vị hàng hoá bán ra ít hơn, nhưng
tổng số hàng hóa bán nhiều hơn thì tổng lợi nhuận vẫn đảm bảo.
Đương nhiên, tốt nhất là kết hợp cả hai phương án trên. Khi đó kết hợp được cả
yêu cầu của người sản xuất và người tiêu dùng.
Đối với thị trường các yếu tố sản xuất: Thị trường các yếu tố sản xuất bao gồm
thị trường vốn, thị trường sức lao động và thị trường các điều kiện vật chất khác cho
Đất đai thuộc quyền sở hữu của Nhà nước, còn quyền sử dụng, chuyển nhượng,
thừa kế giao cho người lao động. Chuyển nhượng đất đai từ người này sang người
khác thực tế là bán quyền sử dụng đất. Do vậy, phải xác định giá cả ruộng đất. Cơ sở
xác định giá cả ruộng đất là thu nhập do mảnh đất đó mang lại, đó chính là địa tô.
Trong hoạt động kinh tế, địa tô có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Một mặt, nó làm cho
người sở hữu ruộng đất có thu nhập. Mặt khác, nó yêu cầu người sử dụng ruộng đất có
hiệu quả, tiết kiệm đất đai và áp dụng kỹ thuật thâm canh để tăng độ màu mỡ đất đai.
18
Một vấn đề cấp bách hiện nay trong nông nghiệp là vấn đề tích tụ ruộng đất
trong nông nghiệp. Những năm đổi mới, nông dân đã có quyền sử dụng, quyền chuyển
nhượng, quyền thừa kế ruộng đất. Song, một mặt việc phân chia ruộng đất cho nông
dân theo nguyên tắc bình quân: có gần, có xa, có tốt có xấu do ruộng đất trong nông
thôn bị phân chia cho các hộ gia đình một cách manh mún. Điều đó gây trở ngại cho
việc áp dụng tiến bộ khoa học trong nông nghiệp, thêm vào đó, quá trình phát triển ở
nước ta trong những năm qua làm tăng trình độ của phân công lao động xã hội và
chuyên môn hoá sản xuất, kinh doanh, xuất hiện xu hướng tích tụ ruộng đất. Tuy
nhiên, xu hướng này đang gặp cản trở bởi mức hạn điền chật hẹp trong nông nghiệp.
Vì vậy, bên cạnh việc tính tới vấn đề địa tô, cần có chính sách hợp lý tạo điều kiện cho
sự vận động thông suốt của thị trường đất đai ở nước ta.
Thứ hai: Phải tuân thủ nguyên tắc tự do giá cả. Giá cả không thể áp đặt bằng
mệnh lệnh hành chính, mà nó được hình thành trên cơ sở thoả thuận giữa người mua
và người bán. Tự do giá cả không có nghĩa là cứ để mặc cho giá cả thị trường lên
xuống mất ổn định. Sự mất ổn định giá một loại hàng nào đó, nhất là hàng hoá thuộc
nhu cầu yếu phẩm sẽ tác động xấu đến cân bằng chung giữa các thị trường. Như vậy,
tuân thủ nguyên tắc tự do giá cả thì đồng thời phải bảo đảm sự bình ổn giá cả. Muốn
bảo đảm sự bình ổn giá cả cần thiết phải đẩy mạnh sự phát triển sản xuất, tạo ra nguồn
hàng dồi dào, phong phú; đồng thời, Nhà nước phải có lực lượng hàng hoá dự trữ và
có biện pháp ổn định tiền tệ.
Thứ ba: Phát triển thị trường ngoài nước,đẩy mạnh hoạt động ngoại thương
Sẽ là sai lầm nếu muốn phát triển thị trường “đầu ra”, “đầu vào”, muốn đảm
từ bên ngoài, ngăn chặn nhập những loại hàng hoá mà trong nước có thể sản xuất và
đáp ứng được chu cầu tiêu dùng.
Hai là, áp dụng nguyên lý lợi thế so sánh trong quan hệ trao đổi quốc tế. Các
yếu tố tự nhiên thuận lợi phải được xem xét cụ thể trong mối quan hệ với các yếu tố
kinh tế - xã hội và kỹ thuật ở cả trong nước và ngoài nước, từ đó có phương án tính
toán chi tiết về từng mặt hàng và so sánh với trình độ quốc tế để xác đinh sản xuất và
cung cấp cho thị trường thế giới loại hàng hoá nào đó của ta có lợi thế hơn.
d. Đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật pháp và cải cách nền hành
chính quốc gia.
20
Nước ta phấn đấu trong vài năm tới có đủ các đạo luật để điều chỉnh các lĩnh
vực về hoạt động kinh tế và quản lý kinh tế, về quản lý hành chính Nhà nước. Chúng
ta cần bổ xung và hoàn thiện các lĩnh vực sau:
- Trong việc sử dụng chuyển nhượng, cho thuê đất, thị trường bất động sản, thị
trường vốn, thị trường chứng khoán.
- Bổ sung điều chỉnh bộ luật thuế tránh trồng chéo phân tán theo hướng mở
rộng diện thu thế nhưng giảm mức thu nhằm khuyến khích tích cực, tự giác đóng góp
của người sản xuất kinh doanh.
- Khuyến khích đầu tư trong nước. Sửa đổi bổ xung luật công lý, luật doanh
nghiệp tư nhân, luật kiểm soát độc quyền và cạnh tranh.
Xây dựng bộ luật thương mại, luật ngân sách, luật hành chính Nhà nước, các
hiệp định đa phương và song phương.
- Nâng cao hiệu lực thi hành pháp luật, hoàn thiện hệ thống các cơ quan thi
hành pháp luật. Xây dựng Nhà nước pháp quyền và quản lý bằng pháp luật.
- Xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân nhất là người lãnh đạo chủ chốt
trong mỗi cơ quan, tổ chức đối với việc thực hiện pháp luật trong phạm vi cơ quan, tổ
chức của mình.
Đồng thời cần thiết phải đẩy mạnh cải cách nền hành chính quốc gia theo
hướng đoạn tuyệt với các cơ chế bao cấp, thay thế bộ máy quản lý theo cơ chế tập
trung, chuyển sang quản lý theo phương thức công nghiệp và cơ chế thị trường để đảm