44
MỘT SỐ KINH NGHIỆM RA ĐỀ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ
KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC VIÊN BTTHPT
GV. Trần Thị Ngọc
Trung tâm GDTX-DN Như Xuân, Thanh Hoá
I. MỞ ĐẦU
Năm học 2006-2007, ngành Giáo dục và Đào tạo đã chọn nhiệm vụ trung tâm
là: "Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong ngành giáo dục". Chủ
trương này được toàn xã hội đồng tình ủng hộ. Nói không với tiêu cực trong thi cứ và
bệnh thành tích trong giáo dục, có nghĩa là ngành đã thấy được những hạn chế trong
dạy và học ở các cấp của ngành.
Thực tế, đó là tình trạng học giả, thi giả nên chưa phản ánh đúng kết quả thực
chất của quá trình giáo dục đào tạo. Khi kết quả chưa đúng thực chất sẽ để lại những
hậu quả không tốt, ảnh hưởng đến uy tín của ngành giáo dục.
Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích là phải tổ chức dạy thật,
học thật và thi thật. Có dạy thật, học thật, thi thật thì mới đánh giá đúng năng lực,trình
độ của người học. Người học được đánh giá đúng thực chất mới nỗ lực cố gắng phấn
đấu không ngừng để đạt kết quả cao hơn.
Dạy thật, học thật, thi thật mới loại trừ được tình trạng học giả, thi giả là cơ sở
để đẩy mạnh dạy tốt học tốt.
Giáo dục thường xuyên (GDTX) là một ngành học rất quan trọng và không thể
thiếu được trong xã hội, là môi trường cho người học có điều kiện học tập, vươn lên,
học không ngừng và học suốt đời nhưng ngược lại thường hay bị đánh giá thấp về chất
lượng dạy cũng như chất lượng học.
45
Để thực hiện được chủ trương chung của ngành, tất cả các giáo viên của
TTGDTX cũng đã hết sức nổ lực phấn đấu. Đổi mới cách dạy, đổi mới cách kiểm tra
đánh giá, đổi mới cách ra đề kiểm tra để phù hợp với đối tượng người học. Từ đó,
câu hỏi có nội dung áp dụng cho thực tiễn và đưa một số câu hỏi này vào đề kiểm tra.
Một phần tạo điều kiện để cho học viên làm bài tốt hơn, một phần gây hứng thú, và tạo
tâm lí giảm bớt áp lực trong thi cử cho HV. Nếu so sánh đề kiểm tra của GDTX cấp
THPT với đề kiểm tra của THPT ban cơ bản thì cần đơn giản hơn nhiều nhưng vẫn
phải bao quát và đảm bảo được những mục tiêu cơ bản đã nêu trong chương trình,
cũng không vì đối tượng HV mà hạ thấp độ khó của đề một cách tùy tiện, kết quả
kiểm tra vẫn phải có đủ độ tin cậy để xét lên lớp, xét tốt nghiệp, đánh giá đúng thực
chất người học.
Đối với học viên học hệ 2 năm, thời gian học ít hơn, GV có thể cho HV làm một
vài bài kiểm tra ở dạng đề mở, HV được sử dụng tài liệu ở nhà trả lời những câu hỏi
mà học viên đà tích lũy được, tổng hợp được, vận dụng được. Với loại đề thi này, có
thể HV sẽ chịu khó học hơn và tích lũyđược nhiều kiến thức hơn. Còn những bài kiểm
tra trên lớp, GV nên ra theo hình thức trắc nghiệm.
Khi soạn thảo một đề kiểm tra sao cho đạt yêu cầu, phù hợp với đối tượng
HV.Chúng ta cần lên kế hoạch trước. Khi viết câu hỏi cho đề kiểm tra cũng không
nên đưa ra các câu hỏi quá khó, các bài tập phức tạp có nhiều phép tính trung gian mà
chúng ta chỉ cần đưa ra những nội dung thật đơn giản câu hỏi phải dùng từ thật dễ hiểu
và ngắn gọn các bài tập định lượng thì cần phải lựa chọn các số liệu hợp lí nhưng dễ
tính toán, các biểu thứcđể tính cũng không được quá mức cồng kềnh. Số lượng câu hỏi
vừa phải phù hợp với thời gian làm bài.
Với đối tượng học viên của TTGDTX nếu GV ra đề vì quá tham kiến thức,
không biết chắt lọc những vấn đề cơ bản thì ngược lại có thể đã biến điều tích cực
thành cái tiêu cực trong kiểm tra.
1. Thời điểm soạn đề :
Cần phải biên soạn đề kiểm tra và hoàn thành đề trước khi cho học viên kiểm tra
nhiều ngày để có điều kiện suy nghĩ, sửa chữa và tham khảo ý kiến của đồng nghiệp.
47
2. Quy trình biên soạn đề kiểm tra:
Vẫn phải tuân theo đúng quy trình mà GV đã làm.
mức độ quan trọng của từng nội dung và mục tiêu, thời gian làm bài. Đối với học viên
của TTGDTX, hầu hết đều có học lực từ trung bình trở xuống. Như vậy, một đề kiểm
tra 15 phút ra ở dạng TNKQ không nên có quá 8 câu ; một đề kiểm tra 1 tiết ra ở dạng
TNKQ không nên có quá 25 câu. Đề gồm cả TNTL và TNKQ thì số câu cho từng
phần phụ thuộc vào số điểm dành cho mỗi phần. Nếu đề có 70% thời gian cho TNKQ,
30% cho TNTL thì điểm cho TNTL là 3đ còn TNKQ là 7đ. Nếu mà phần TNKQ cần
có 14 câu thì mỗi câu sẽ có 0,5 điểm.
- Xác định số điểm cho từng mạch kiến thức, chủ đề: Căn cứ vào số tiết quy
định trong phân phối chương trình, căn cứ vào mức độ quan trọng của từng chủ đề
kiểm tra mà xác định số điểm tương ứng.
- Xác định số điểm cho từng hình thức câu hỏi. Nếu kết hợp cả hai loại TNKQ
và TNTL trong cùng một đề thi, cần xác định tỷ lệ cho phù hợp. Ví dụ: 6:4 hay 7:3
- Xác định số câu cho mỗi loại trắc nghiệm: Căn cứ vào số điểm mà định số câu
hỏi tương ứng. Lưu ý các câu hỏi TNKQ là có số điểm như nhau.
Ví dụ đề kiểm tra 15 phút có thể có: 6 câu TNKQ và 2 câu TNTL.
- Hình thành ma trận: Lập bảng đặc trưng phân bố các câu hỏi một cách chi tiết. Đó
là ma trận hai chiều. Một chiều là nội dung chương trình, chiều kia là mức độ nhận thức.
Hàng ngang của ma trận ghi lĩnh vực kiến thức cần kiểm tra, hàng dọc ghi trình
độ yêu cầu kiểm tra, trong các ô ghi số lượng các câu. Nếu số lĩnh vực kiến thức nhiều
49
thì hàng dọc của ma trận dành cho việc ghi lĩnh vực kiến thức, hàng ngang ghi trình độ
yêu cầu kiểm tra.
- Thiết kế câu hỏi theo ma trận: Căn cứ vào ma trận đã xác định ở trên mà thiết
kế nội dung hình thức, lĩnh vực kiến thức và mức độ kiến thức cần đo ở học viên qua
từng câu hỏi và toàn bộ đề kiểm tra.
Để có một đề kiểm tra đạt yêu cầu, phù hợp với đối tượng học sinh Trung Tâm
GDTX, khi soạn thảo, chúng ta nên chú ý tuân thủ các điểm sau:
Trước hết, ta lựa chọn các ý tưởng quan trọng , viết ra giấy nháp một cách rõ
ràng làm căn bản cho việc soạn thảo.
dạng trắc nghiệm : Đó là trắc nghiệm đối chiếu cặp đôi dùng cho phần câu hỏi
nhận biết và trắc nghiệm nhiều lựa chọn cho phần câu hỏi ở mức độ thông hiểu và
vận dụng .
GV thiết lập một ma trận đề, trong ma trận đề, cần ghi rõ câu nào thuộc lĩnh vực
kiến thức nào có thể ra ở dạng câu hỏi vận dụng vào thực tế. Cần cố gắng suy nghĩ tìm
tòi nhiều câu hỏi hay nhưng dễ trả lời.
Đề kiểm tra 15 phút có thể ra ở dạng trắc nghiệm dễ làm đó là trắc nghiệm đúng
- sai, với số lượng câu không vượt quá 8 câu. Với đề kiểm tra 1 tiết, số lượng câu
không nên vượt quá 15 câu, vì trong đó có cả câu tự luận.
Sau khi lập xong ma trận , GV bắt đầu ra câu hỏi trắc nghiệm và bài tập tự
luận sao cho phù hợp với thời gian làm bài của HV. Trong khi soạn các câu hỏi
TNKQ cần phải có những ý tưởng hay nhưng đơn giản mà vẫn phát huy được khả
năng sáng tạo của HV.
Sau đây là ví dụ về ma trận của đề kiểm tra 1 tiết (các số chỉ số lượng câu hỏi)
51
DAO ĐỘNG CƠ
Lĩnh v
ực
kiến thức,
mức độ
Dao động
điều hòa
Con lắc lò
xo, con lắc
đơn
Dao động tắt
dần, dao động
CB. Cộng