Phần 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sự phát triển mạnh mẽ của nghề nuôi cá, đặc biệt là mở rộng phạm vi
cho đẻ nhân tạo những loài cá có giá trị kinh tế, áp dụng hình thức công
nghiệp trong khâu ấp trứng và ương cá con, việc tăng mạnh mẽ nhu cầu về
giống cá là động lực dẫn đến sự cần thiết phải nuôi trồng thuần chủng các
sinh vật thức ăn có giá trị dinh dưỡng cho cá, nhất là cá con. Do vậy, song
song với việc sản xuất con giống thì việc lựa chọn thức ăn thích hợp cho sinh
trưởng phát triển của Moina nhằm tăng nhanh sinh khối, cung cấp ngày càng
nhiều cho nhu cầu thực tiễn về ương nuôi ấu trùng tôm cá là một vấn đề quan
trọng cần được nghiên cứu.
Ấu trùng tôm cá giai đoạn đầu thường rất nhỏ, cực kỳ yếu và chưa phát
triển đầy đủ về mặt sinh lý, kích thước miệng nhỏ, cơ quan cảm nhận, hệ tiêu
hóa phát triển chưa hoàn toàn dẫn tới sự khó khăn trong việc cung cấp các
loại thức ăn phù hợp ở thời kỳ đầu tiên hoặc bắt đầu ăn mồi từ bên ngoài.
Thức ăn chế biến hầu như chưa đáp ứng được những yêu cầu về kích
thước phù hợp với cỡ miệng ấu trùng giai đoạn nhỏ và chức năng chưa hoàn
thiện của ống tiêu hóa dẫn đến tình trạng sinh trưởng kém và tỷ lệ sống sót
thấp. Trong khi đó các sinh vật làm thức ăn tươi sống dường nhu đáp ứng
được mọi tính chất của ấu trùng tôm cá cỡ nhỏ. Chúng có sự tương phản ánh
sáng tốt hơn thức ăn nhân tạo và khả năng thu hút do sự chuyển động liên tục
của chúng làm tăng khả năng nhận biết của ấu trùng.
Động vật phù du là một trong những nguồn thức ăn sống cho việc nuôi
dưỡng các giai đoạn sớm của ấu trùng các loài tôm cá.
Moina là một loài ấu trùng thuộc bộ râu nhánh, sống ở thủy vực nước
ngọt. Trong cơ thể chứa một phổ rộng enzim tiêu hóa như proteaza, peptidaza,
amylaza và cả xenlulose, có thể làm enzim ngoại bào trong ruột ấu trùng cá.
Hàm lượng protein trong cơ thể chúng tương đối cao. Sinh khối sản xuất ra
được sử dụng thành công trong nuôi ấu trùng cá hồi, cá mú sọc, cá trê, cá lóc,
cá rô phi Người ta đã dùng sinh khối Moina dưới dạng ướp đông để nuôi
trên 60 loài cá nước ngọt và nước mặn.
hạn chế bởi vì trong ao xây, thức ăn tự nhiên hầu như không có hoặc rất
nghèo nàn. Trong tự nhiên, các loài sinh vật thủy sinh đều sử dụng tảo (thực
vật phù du), vi khuẩn, động vật phù du, động vật đáy làm thức ăn. Tùy theo
mỗi loại mà tỷ lệ giữa chúng khác nhau theo đặc điểm của từng loài sinh vật
thủy sinh. Tập tính các sinh vật này được coi là "cơ sở thức ăn tự nhiên" của
vùng nước. Đó cũng là "chuỗi thức ăn tự nhiên" của vùng nước. Chuỗi thức
ăn bắt đầu bằng tảo phù du và vi khuẩn, kết thúc bằng tôm cá. [2]
Trong thiên nhiên, cá sống trong nước sinh trưởng được bình thường
nhờ có nguồn thức ăn tự nhiên phong phú về chủng loại và về số lượng, như
côn trùng, cá nhỏ, ếch nhái, thân giáp thủy sinh, rong, tảo
Còn trong môi trường bể nuôi, với nguồn nước sử dụng, nhất là nước
máy, thì hoàn toàn không có thức ăn tự nhiên cho cá. Làm thế nào cho cá sinh
sống được bình thường và chóng lớn. Người ta đã nghiên cứu và chế ra nhiều
loại thức ăn nhân tạo cho nhu cầu chung cho các loại cá dù là cá ăn thịt hay cá
ăn cỏ, hoặc riêng cho từng loại cá. Có nhiều loại thức ăn được chế biến khác
nhau, như thức ăn thái lát, thức ăn lỏng, nén, dạng bánh, bọt hay miếng làm
đông lạnh. Có đủ loại thức ăn không những để cho cá sinh sống bình thường
mà còn giúp cho cá trưởng thành suốt đời sống của cá, từ lúc còn là cá bột
mới nở rất nhỏ, đòi hỏi thức ăn hiển vi, cho đến cá lớn có thể ăn được mồi có
cỡ lớn.
3
Tuy nhiên, thức ăn tổng hợp này, dù có phong phú về chủng loại và đầy
đủ về chất thì cũng bị giới hạn, vì chỉ là một kiểu thức ăn giản đơn sẽ gây ra
một số phiền phức: cá chán một cách đặc biệt thức ăn đơn điệu này. Những
điều rủi ro chủ yếu là khi người ta dùng loại sản phẩm nhân tạo này là sự
dư thừa thức ăn. Cá ăn có mức độ mà người nuôi thì không hiểu hết nhu
cầu của cá. Do vậy, cái nguy hiểm chính gây ra từ thức ăn dư này là nếu cá
ăn quá nhiều sẽ tích tụ mỡ làm giảm tuổi thọ của chúng. Mặt khác, phần
thức ăn do cá ăn không hết sẽ tan rã ở trong nước bể nuôi và làm ô nhiễm
nước nhanh hay chậm gây ra những hậu quả tai hại đối với sức khỏe của cá
ngành Giun đốt Annalidae. Giun đỏ đỏ mờ, nhỏ, thường dài 1 - 5cm, sống và
sinh sản ở những nơi dơ bẩn nhất của ao, hoặc ở cống rãnh. Thường được bắt
và bán ở các cửa hàng cá cảnh. Chúng thường khó tách khỏi chất dơ bẩn mà
chúng sống. Nên xử lý trước trong nước muối pha loãng nồng độ 0,1%, số
lượng chỉ bỏ vừa cá ăn trong ngày. Nếu bỏ quá nhiều, cá ăn không hết, giun
sẽ chìm xuống đáy bể, thiếu không khí và chết làm thối nước trong bể, có thể
làm cá ngộ độc.
Cũng cần lưu ý là thuộc họ Giun ống, còn có một loài giun khác
Limnodrilus hoffmeisteri kết thành các búi dày đặc màu hồng ở cống rãnh và
ao nuôi cá cũng có sinh khối lớn, dùng nuôi cá tốt.
- Cung quăng, lăng quăng là ấu trùng của các loại muỗi khác nhau, là
loài thức ăn quan trọng của nhiều loài cá nuôi. Thường gặp ấu trùng này ở bề
mặt các ao, hồ Phải vớt nhanh nếu không chúng sẽ di chuyển xuống đáy.
Chỉ nên cho cá ăn vừa đủ trong 1 - 2 ngày, không nên bỏ vào bể quá nhiều, cá
ăn không hết, hóa muỗi gây bệnh nguy hiểm.
Việc sử dụng các thức ăn sống trong tự nhiên không phải là không có
trở ngại, bởi vì chúng có thể mang vào bể nuôi cá bệnh tật và các loại thù địch
của cá. Giun ống hay giun chỉ gặp trong bùn ở cửa sông, gần xế các cống, cần
được giữ dưới dòng nước chảy. Cũng có thể cho cá ăn những giun đất nhỏ
(tránh dùng các con giun trong đất có thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ ).
Có những loài động vật làm thức ăn cho cá có thể nuôi để có nguồn
thức ăn thường xuyên:
5
- Trứng nước, bọ đỏ hay Moina sp (bo bo), cùng với rận nước
Daphnia, thuộc bộ râu chẻ Cladocera, ngành Chân khớp Arthropoda, và cũng
đều được nuôi công nghiệp làm thức ăn cho cá con. Trứng nước phân bố
trong các thủy vực nước ngọt, thường tập trung thành đám dày đặc màu đỏ
vào buổi sáng ở các ao, hồ, đầm, vũng nước, cửa cống rãnh chứa nhiều chất
hữu cơ. Từ lâu, nhân dân ta thường vớt chúng làm thức ăn cho cá bột và các
loài cá tra, trê, tai tượng, chép và nhất là để nuôi cá cảnh. Việc vớt trứng
Tiến hành thí nghiệm trên đối tượng là loài Moina sp với khóa phân
loại như sau:
Nghành chân khớp: Arthropoda
Lớp giáp xác: Crustacea
Bộ râu chẻ: Cladocera
Họ: Daphnidae
Giống: Moina
Loài: Moina sp
2.1.2. Đặc điểm phân bố và tập tính sống
Moina hay còn gọi là Bo bo xuất hiện với mật độ cao ở các ao, hồ, vũng
nước, dòng chảy chậm và đầm lầy nơi có nhiều chất hữu cơ. Chúng đặc biệt tập
trung ở những vùng nước ấm nơi có đầy đủ điều kiện để chúng phát triển.
Bo bo hoàn toàn thích nghi với nguồn nước kém chất lượng. Chúng có
thể sống nơi nồng độ ô-xy hoà tan từ 0 cho đến bão hoà. Bo bo đặc biệt thích
nghi với sự biến đổi của nồng độ ô-xy và thường sinh sôi với số lượng lớn
trong môi trường nước ô nhiễm ở cống rãnh. Bo bo được cho là có vai trò
quan trọng trong việc xử lý các hồ chứa nước thải. Chúng có thể sống sót
trong môi trường nghèo ôxy nhờ khả năng tổng hợp hemoglobin. Sự hình
thành hemoglobin dựa trên mức độ ôxy hoà tan trong nước. Hemoglobin có lẽ
cũng phát sinh bởi nhiệt độ cao và mật độ bo bo.
Tuổi thọ bo bo rất ngắn, trung bình khoảng 4 - 7 ngày. Môi trường
nước nuôi bobo thường có độ pH 7 - 8, hàm lượng oxy từ 3 - 3,5 mg/lít, độ
cứng trên 150 - 200 mg/lit, NH
3
: 0,2 mg/lit. [15]
7
Bo bo chịu đựng được tầm nhiệt độ rất cao và dễ dàng vượt qua biến
đổi nhiệt độ trong ngày từ 5 đến 31
0
C. Nhiệt độ lý tưởng để nuôi bo bo là từ
Có sự khác biệt đáng kể về kích thước giữa các chi. Bo bo có kích
thước tối đa chỉ bằng một nửa rận nước. Bo bo trưởng thành (700 - 1,000 µm)
có kích thước gần gấp đôi ấu trùng artemia (500 µm) và gần gấp 2 - 3 lần kích
8
thước của trùng bánh xe trưởng thành (rotifer). Tuy nhiên, bo bo mới nở (nhỏ
hơn 400 µm) gần bằng hay hơi lớn hơn trùng bánh xe trưởng thành và nhỏ
hơn ấu trùng artemia. Hơn nữa, artemia chết khá nhanh trong nước ngọt. Kết
quả, bo bo là thức ăn lý tưởng dành cho cá con mới nở.[16]
2.1.4. Đặc điểm dinh dưỡng
Bộ máy lọc của Moina bao gồm các chân ngực phụ chuyên dụng để thu
gom các hạt thức ăn. Năm cặp chân ngực được sử dụng như một chiếc bơm
hút và áp lực. Đôi chân ngực phụ thứ ba và thứ tư có bộ phận giống như màng
lọc để lọc các hạt từ nước. Hiệu quả của bộ phận lọc cho phép chúng bắt được
cả vi khuẩn (khoảng 1µm). Một công trình nghiên cứu chất lượng thức ăn của
thực vật phù du nước ngọt dùng để sản xuất bộ râu nhánh đã phát hiện được
rằng trong phổ lục - lam, trùng roi và tảo lục thì Daphnia và Moina có hiệu
quả cao nhất trong chế độ ăn của Rhodonmonas minata và Crytomonas sp,
chứa các mức HUFA (Highly unsaturated fatty acid) cao ( trên 50% các loại
acid béo trong hai loài tảo này bao gồm EPA (Eicosapentanenoic acid) và
DHA (Docosahexaenoic acid), trong khi đó tảo lục được đặc trưng bởi tỷ lệ
trên 18:3n-3. Điều đó có nghĩa là các axít béo chuỗi dài không có khả năng
tạo cholesteron là quan trọng đối với sự sinh trưởng bình thường và sinh sản
của Moina. Các trùng roi nhỏ và trùng lông rung tới kích cỡ của Paramecium
có thể dùng làm thức ăn cho Moina. Ngay cả các mảnh vụn và thức ăn đáy
cũng có thể là nguồn thức ăn quan trọng nhất khi nồng độ thức ăn giảm xuống
dưới một ngưỡng nhất định nào đó. Trong trường hợp này, dòng chảy tạo ra
bởi các động vật bơi dưới đáy làm vẩn lên cũng có thể là nguồn thức ăn quan
trọng đối với Moina.[8]
Bo bo ăn các loại vi khuẩn, men bia, vi tảo và mùn bã hữu cơ (thối
rữa). Vi khuẩn và nấm men có giá trị dinh dưỡng cao. Số lượng bo bo phát
C. Ở giai đoạn thành thục có thể quan sát thấy các đặc tính sinh
dục lưỡng hình ở kích thước và hình thái râu nhỏ của Moina. Con đực (0,6 -
0,9mm) nhỏ hơn con cái (1 - 1,5mm) và có các râu nắm dài hơn dùng để ôm
con cái khi giao cấu. Con cái thành thục sinh dục chỉ mang hai trứng được
bọc trong hố ấp trứng là một bộ phận của bộ xương ngoài ở phía lưng.
Bo bo có thể sinh sản theo cách vô tính và hữu tính. Thông thường, bo
bo gồm toàn con cái sinh sản theo cách vô tính. Ở điều kiện tối ưu, bo bo cái
từ 4 - 7 ngày tuổi bắt đầu sinh sản với số lượng từ 4 - 22 con. Mỗi lứa cách
nhau từ 1,5 đến 2 ngày, mỗi con cái đẻ từ 2 - 6 lần trong đời.
Các loài Moina sinh sản đơn tính theo chu kỳ hoặc bắt buộc, và quần
thể của chúng chỉ gồm có con cái. Trứng được sản sinh thành từng ổ có từ hai
đến nhiều trăm trứng, và một con cái có thể đẻ ra nhiều ổ trứng, liên quan tới
quá trình lột xác. Các trứng đơn tính được sinh ra không giảm phân và kết quả
10
là sinh ra các con cái, nhưng trong một số trường hợp vẫn có các con đực.
Cách sinh sản này tương tự như của trùng bánh xe vì thông thường chúng
được sản sinh ra các trứng lưỡng bội đơn tính. Các trứng đơn tính (số lượng
có thể từ một đến 300 và phụ thuộc nhiều vào kích thước của con cái và lượng
thức ăn ăn vào) được dẫn vào ổ chứa trứng ngay sau khi lột xác và nở ngay
trước lần lột xác sau đó.
Ở điều kiện môi trường bất lợi như sự thay đổi nhiệt độ nước hoặc sự
cạn dần thức ăn do quần thể tăng lên có thể kích thích sự sản sinh ra con đực.
Con đực này có một hoặc hai lỗ sinh sản. Các lỗ này ở gần hậu môn và có thể
biến đổi thành cơ quan giao cấu. Con đực dùng râu phía trước ôm chặt con cái
và đưa các mấu giao cấu vào lỗ sinh sản đơn ở giữa của con cái. Trứng được
thụ tinh là trứng to và chỉ có hai trứng được sản sinh ra trong một ổ trứng đơn
(mỗi trứng từ một buồng trứng), và có vỏ dày: các trứng nghỉ hoạt động này
được bao bọc bởi một số màng bảo vệ, chính là hố ấp trứng. Ở dạng này,
chúng chịu được khô, băng giá và các enzim tiêu hóa, và như vậy chúng có
vai trò quan trọng trong việc sống ở những sinh cảnh mới hoặc trong việc tái
nếu có thì chỉ là những bản đánh máy hay xuất bản hạn chế.
So sánh sự sinh sản trong các hồ nuôi Daphnia magna (rận nước) và
Moina macrocopa (bobo) bón bằng men bia và ammonium nitrate NH
4
NO
3
cho thấy lượng thu hoạch ở bo bo (106 - 110 g/m
3
) lớn gấp 3 - 4 lần so với thu
hoạch ở rận nước (25 - 40 g/m
3
). Khối lượng thu hoạch hàng ngày ở bo bo với
thức ăn vi tảo nuôi bằng phân hữu cơ đạt 375 g/m
3
.
Ở miền Nam nước Mỹ, các trang trại kinh doanh cá và các tiệm bán cá
cảnh người ta cũng ươm nuôi Moina để làm thức ăng cho chúng. [6], [7], [8],
[9], [15], [16]
2.3.2. Tình hình nuôi và sử dụng Moina ở nước ta
Ở nước ta đã có kết quả bước đầu về nuôi Daphnia cũng như Moina
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Hữu Dụng (1975) đã đi đến kết luận về nuôi
loại này theo phương pháp bón phân như sau: bón cho 1m
3
nước 0,5kg phân
lợn và 0,3kg lá dầm, bón 1 tuần hai lần. Năng suất thu được ở bể xi măng là 8
- 10 g/m
3
/ngày, ở ao đất nhỏ là 5 - 8 g/m
3
. Hệ số thức ăn với cá chép cỡ 2,4
trước 2 ngày khi thả cá bột. Moina
ăn tảo phát triển, cá bột ăn Moina.
Để duy trì mật độ phát triển và Moina không bị thoái hóa trong bể hay
ao nuôi lâu dài dùng làm mồi ăn thường xuyên cho cá bột, mỗi ngày nên hòa
bột đậu nành trong nước và rãi đều khắp bể ao nuôi và cho vào vài giọt sinh
tố A, D, E vào bể nuôi. [1], [7]
13
Phần 3
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Tiến hành thí nghiệm trên đối tượng là loài Moina sp với khóa phân
loại như sau:
Nghành chân khớp: Arthropoda
Lớp giáp xác: Crustacea
Bộ râu chẻ: Cladocera
Họ: Daphnidae
Giống: Moina
Loài: Moina sp
3.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
3.2.1. Thời gian nghiên cứu
Đề tài được tiến hành nghiên cứu từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2009.
3.2.2. Địa điểm nghiên cứu
Bố trí thí nghiệm được tiến hành tại xã Phong Thủy, huyện Lệ Thủy,
tỉnh Quảng Bình. Đây là một trong những xã vùng giữa của huyện Lệ Thủy,
có nền kinh tế nông nghiệp phát triển mạnh.
Tất cả các việc thí nghiệm được tiến hành nuôi trong nhà có diện tích 4
x 4 = 16m
2.
.
3.3. Vật liệu nghiên cứu
trong nước vài ngày để khử hết mùi nhựa.
- Nguồn nước: lấy từ sông Kiến Giang, đảm bảo nước tốt, phù hợp để
nuôi Moina, có độ pH trong khoảng 6,5 – 7,5 và luôn ổn định.
- Vợt dùng để vớt Moina là loại vợt vải làm bằng vải khăn voan, có
kích cở mắt vợt nhỏ, thông nước tốt, đảm bảo khi vớt Moina không thoát ra
ngoài, vợt có chiều dài 55 cm để vớt Moina trong thùng được dễ dàng. (Một
số hình ảnh minh họa ở phụ lục)
15
3.4. Nội dung nghiên cứu và chỉ tiêu theo dõi
3.4.1. Sự biến động một số yếu tố môi trường trong thùng nuôi
Theo dõi một số yếu tố môi trường trong thùng nuôi thí nghiệm bao
gồm các chỉ tiêu theo dõi là: Nhiệt độ, chỉ số pH, hàm lượng oxy hòa tan
trong nước
3.4.2. Thành phần dinh dưỡng của moina bao gồm các chỉ tiêu
Hàm lượng vật chất khô
Hàm lượng Protein thô
Hàm lượng lipid thô
Hàm lượng khoáng tổng số
3.4.3. Sinh khối của Moina khi sử dụng các loại phân bón khác nhau
Nghiên cứu sinh khối của Moina khi sử dụng các loại phân bón khác
nhau, chỉ tiêu theo dõi gồm:
Số con/l nước
Sinh khối: g/50lít nước
Năng suất VCK: g/50 lít nước
Năng suất protein: g/50 lít nước
3.4.4. Hạch toán kinh tế
Từ kết quả sinh khối Moina thu được trong thùng nhựa, tính hạch toán
kinh tế theo các chỉ tiêu:
- Thu nhập hỗn hợp
- Giá thành sản xuất/kg Moina
thả ngẫu nhiên 5g Moina, giống mua tại các tiệm bán cá cảnh.
Các lô thí nghiệm được đặt trong cùng một phòng có diện tích 16m
2
.
Các thùng được đặt cạnh nhau trong phòng nên đảm bảo được nguyên tắc
đồng đều các yếu tố môi trường trong khi nuôi thí nghiệm.
17
Nguồn nước lấy trực tiếp từ sông Kiến Giang, nước đảm bảo không bị
ô nhiễm, trước khi nuôi nước được lọc qua túi vải coton để loại bớt các chất
lơ lửng, chất cặn bã ở trong nước.
Thùng nhựa dùng để nuôi thí nghiệm được mua ở chợ về đem ngâm
trong nước một tuần để khử bớt mùi nhựa, thùng có thể tích chứa 50l nước,
chiều cao thùng 50cm.
Con giống mua về thả ngẫu nhiên trong thùng đã được bón phân gây
màu nước với mật độ 5g Moina/50l nước tương đương với 0,1g Moina/l nước.
Đây là mật độ có thể chấp nhận được đối với loài Moina.
Nuôi dưỡng và chăm sóc: Sử dụng các loại phân bón khác nhau để gây
màu nước, tạo ra tảo làm thức ăn nuôi Moina ở các công thức thí nghiệm. Giả
thiết thí nghiệm là các loại phân bón khác nhau sẽ tạo ra lượng tảo khác nhau
trong thùng ở các công thức thí nghiệm, do đó có ảnh hưởng đến sinh khối
của Moina nuôi thí nghiệm.
Bón phân gây màu nước trước một tuần để tạo lượng tảo có ở trong
thùng trước khi thả giống vào.
Quản lý dịch bệnh:
Hàng ngày quét dọn, vệ sinh phòng nuôi sạch sẽ. Các dụng cụ thí
nghiệm sau mỗi lần sử dụng cần được rửa sạch, phơi khô để ráo. Buổi tối
dùng vải màn đậy lên các thùng thí nghiệm để phòng muỗi và các côn trùng
khác bay vào. Buổi sáng khoảng 7giờ lấy màn ra khỏi thùng thí nghiệm.
Ban ngày mở cửa sổ cho ánh nắng khuyếch tán vào, tạo không khí
trong lành trong nhà nuôi thí nghiệm. Những ngày trời lạnh mắc thêm bóng
khoáng.
Phương pháp thu mẫu: Mẫu Moina được lấy để phân tích thành phần
hoá học là đại diện đặc trưng cho toàn bộ khối mẫu Moina. Do đó, việc tiến
hành lựa chọn mẫu rất quan trọng vì nếu lấy mẫu không chuẩn và không đồng
nhất sẽ ảnh hưởng đến kết quả phân tích sau này. Việc lấy mẫu không phải
lấy ở một nơi của khối mẫu mà lấy ở nhiều nơi khác nhau để có tính đại diện
cao cho toàn thể khối mẫu. Sau khi lấy mẫu điểm xong thì trộn đều các mẫu
19
điểm đã lấy và dàn đều trên dụng cụ chứa thành lớp dày không quá cm. Kẻ
hai đường chéo hình chữ nhật và tiếp tục lấy như sau.
Lúc đầu lấy mẫu ở hai đường chéo đối xứng với nhau phần còn lại sẽ
bị loại bỏ. Phần mẫu đã lấy cho vào dụng cụ chứa dàn đều và loại bỏ theo
chiều ngược lại. Cứ tiếp tục làm như vậy đến khi thu được một khối lượng
mẫu cần thiết.
Xác định thành phần dinh dưỡng của Moina tại trung tâm phân tích của
Khoa Chăn nuôi – Thú y, trường Đại học Nông Lâm - Huế.
Phương pháp xác định thành phần vật chất khô
- Nguyên tắc:
Dùng phương pháp nhiệt để sấy mẫu khô đến khối lượng không đổi sau
đó tiến hành cân để xác định vật chất khô.
- Cách tiến hành: Ban đầu lấy cốc sạch, đem sấy ở nhiệt độ 105
0
C đến
khối lượng không đổi. Lấy cốc ra cho vào bình hút ẩm, để nguội ở nhiệt độ
phòng trong vòng 30 phút. Sau đó cân trên cân phân tích để xác định trọng
lượng bì (W
1
).
Cân một lượng mẫu nhất định (C), cho vào cốc đã xác định trọng lượng
bì. Cho cốc vào tủ sấy và sấy ở 105
H
2
SO
4
tạo thành (NH
4
)
2
SO
4
. Sau đó dùng NaOH đẩy NH
3
ra khỏi (NH
4
)
2
SO
4
.
Dùng acid boric để hứng NH
3
. Sau đó chuẩn độ sản phẩm tạo thành bằng
H
2
SO
4
đã biết trước nồng độ.
- Cách tiến hành:
+ Vô cơ hoá: Cân 0,5 - 1 g mẫu cho vào bình đốt Kjeldahl sao cho mẫu
không dính vào thành bình. Cho vào 10 ml acid H
Sau khi chưng cất xong dung dịch trong bình có màu xanh lá cây và lấy
bình tam giác ra để chuẩn độ bằng dung dịch H
2
SO
4
có nồng độ 0,01N cho
đến khi dung dịch xuất hiện màu tím là dừng lại.
Công thức tính kết quả:
1400
2
×=
E
FNV
N
Trong đó: V là số ml H
2
SO
4
chuẩn độ
N là nồng độ acid H
2
SO
4
F là hệ số điều chỉnh nồng độ (=1)
E là số mg mẫu phân tích.
21
Phương pháp xác định chỉ tiêu Lipit thô có trong mẫu:
Có nhiều phương pháp phân tích mỡ khác nhau, tuy nhiên phương pháp
WW
ASH
3.5.2.3. Phương pháp nghiên cứu khả năng tăng trưởng của Moina khi sử
dụng các loại thức ăn khác nhau:
- Sinh khối: Cứ sau 5 ngày thu hoạch 1 lần và tiến hành cân sinh khối
thu được. Dùng cân tiểu ly mức chia đến 1g để cân khối lượng Moina từng đợt.
Phương thức cân : Dùng vợt vớt tất cả số Moina có được trong quá
trình nuôi, dùng thìa cà phía dưới vợt để cho ráo nước, sau đó cho số Moina
thu hoạch được lên bàn cân để cân. Ta được số lượng Moina sau thu hoạch, số
liệu được ghi chép và tổng hợp lại sau các lần cân.
Khối lượng của Moina qua các giai đoạn nuôi sử dụng các loại phân
bón khác nhau là trung bình thu được của lặp lại 3 lần. Như vậy, khối lượng
của Moina qua các giai đoạn nuôi là trung bình của 3 lần lặp lại đại diện cho
mỗi công thức phân bón.
22
- Số con/l: Trong 12 đợt nuôi, lấy mẫu 5 đợt đầu để xác định mật độ.
Trong 5 ngày nuôi thí nghiệm ở mỗi đợt, mỗi ngày lấy mẫu một lít nước có
chứa Moina để đếm mật độ. Trước lúc lấy mẫu cần khuấy đều ở trong thùng.
Dùng ống nhựa dài 30cm, đường kính 2cm để lấy mẫu 5 điểm ở trong
thùng, mỗi lần lấy mẫu khoảng 1l nước có chứa Moina cho vào ca nhựa, dùng
muỗng cafe để múc đếm mật độ Moina có được trong 1l nước, ghi chép số
liệu sau mỗi lần đếm.
Mật độ của Moina qua mỗi ngày nuôi với các loại phân bón khác nhau là
trung bình của 5 ngày lấy mẫu với 3 lần lặp lại. Như vậy, mật độ của Moina qua
mỗi ngày nuôi là trung bình của 15 mẫu đại diện cho mỗi công thức phân bón.
- Năng suất vật chất khô và năng suất protein được xác định sau khi
nuôi và tiến hành phân tích thành phần dinh dưỡng của Moina. Năng suất thu
được là đại diện để tính được hiệu quả dinh dưỡng của đối tượng sau quá
trình nuôi thí nghiệm với các công thức phân bón khác nhau. Để từ đó người
nuôi có thể áp dụng vào thực tiễn trong việc sản xuất ra các loại thức ăn cung
3.5.3. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
- Số liệu được xử lý trên phần mềm Excel để tính giá trị trung bình, độ
lệch chuẩn của các yếu tố môi trường (nhiệt đô, pH, DO), kết quả khối lượng
Moina, mật độ con/lít.
Giá trị trung bình
X
được tính bằng cách sử dụng hàm Average(a
1
a
n
)
Độ lệch chuẩn: δ được tính bằng cách sử dụng hàm Stdev(a
1
a
n
)
- Phân tích ANOVA 1 yếu tố (α = 0,05) để so sánh sự sai khác về sinh
khối giữa các lô thí nghiệm.
24
Phần 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1. Sự biến động một số yếu tố môi trường nuôi
Qua quá trình nuôi thí nghiệm việc theo dõi các yếu tố môi trường chủ
yếu là rất quan trọng, chúng tôi đã theo dõi một số chỉ tiêu của môi trường
nước gồm: nhiệt độ nước, chỉ số pH nước, hàm lượng oxy hoà tan (DO)
4.1.1. Nhiệt độ
Nhiệt độ có ảnh hưởng rõ rệt đến đến hoạt động sống, dinh dưỡng và
phát triển của Moina. Nhiệt độ nước trong thùng có sự biến động theo các
ngày khác nhau và giữa các thời điểm khác nhau trong ngày. Bảng 1 là kết
quả tổng hợp từ các lần đo thường nhật của chúng tôi.
0,76 28,1
±
0,52 25,5
±
0,67
Đợt 5 19,1
±
1,22 23,8
±
0,75 22,4
±
0,90
Đợt 6 20,2
±
1,22 24,2
±
1,18 23,5
±
1,32
Đợt 7 21,3
±
0,88 26,9
±
0,84 24,0
±
1,31
Đợt 8 23,0
±
0,61 27,8
±
1,04
25