Đề tài
Giải pháp tăng cường thu hút vốn
đầu tư gián tiếp cho quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở
Việt Nam
- Góp phần giải thích rõ hơn về nguồn vốn đầu tư gián tiếp và vai trò của
nguồn vốn này hiện nay.
- Nắm rõ tình hình của nguồn vốn này để đưa ra giải pháp thu hút và quản
lí nguồn vốn này tránh các rủi ro.Đồng thời sử dụng hiệu quả cho quá
trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Nguồn vốn đầu tư gián tiếp từ khu vực tư nhân nước ngoài là chủ yếu vào
nền kinh tế việt nam thông qua thị trường chứng khoán và qua trái phiếu
chính phủ trong những năm gần đây(2001-2007).
Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình thực hiện sử dụng phương pháp thống kê,duy vật biện
chứng,duy vật lịch sử,phân tích,so sánh,….
CHƯƠNG I: Tổng quan về nguồn vốn FII và công nghiệp hoá-
hiện đại hoá ở Vịêt nam.
1. Khái quát chung về nguồn vốn FII
1.1Khái niệm
Một nền kinh tế muốn phát triển cần có vốn để mở rộng sản xuất phát triển
kinh tế xã hội.Một nước đang phát triển như Việt Nam nhu cầu về vốn lại
càng cao.
Nguồn vốn bao gồm đầu tư trong nước và nguồn vốn nước ngoài.
-Vốn trong nước thường là tiết kiệm trong nước của cả dân cư,doanh
nghiệp và chính phủ.
-Vốn nước ngoài gồm có :
+Vốn đầu tư trực tiếp FDI:là nguồn vốn của khu vực tư nhân nước
quỹ tự bảo hiểm rủi ro, các quỹ tương hỗ…
1.2.Những đặc trưng cơ bản của FII
1.2.1.Tính thanh khoản cao
Do chỉ quan tâm đến lợi tức(với một mức rủi ro nhất định) hoặc mức độ an
toàn của chứng khoán chứ không quan tâm đến việc quản lý quá trình sản
xuất và kinh doanh thực tế nên FII có tính thanh khoản cao. Nói cách khác,
nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài có thể dễ dàng bán lại những chứng khoán cổ
phần và chứng khoán mà họ đang nắm giữ để đầu tư vào nơI khác với mức tỷ
suất lợi tức cao hơn và một mức rủi ro nhất định, hay với một mức rủi ro thấp
hơn và với một mức tỷ suất lợi tức nhất định. Tính thanh khoản cao của FII
khiến cho hình thức đầu tư này mang tính ngắn hạn, đưa vào cũng rất nhanh
và rút ra cũng rất nhanh, tính theo phiên trong từng ngày, tuỳ theo phiên trong
từng ngày, tuỳ theo động tháI nóng lạnh của giá cổ phiếu, trái phiếu trên thị
trường chứng khoán hay sự tác động của chính sách quản lý của nhà nước bản
địa.Vì thế tính “đầu cơ” của nguồn vốn này thường cao hơn nhiều so với tính
“đầu tư”(“đầu cơ” chỉ là thu lợi nhanh-mua ồ ạt giá cổ p hiếu, tráI phiếu thấp
để nâng giá, sau đó lại bán ồ ạt lúc giá cổ phiếu, tráI phiếu cao; “đầu tư” cũng
nhằm thu lợi nhuận nhưng đầu tư nhằm phát triển để thu lợi nhuận lâu dài.
1.2.2 Tính bất ổn định và dễ bị đảo ngược
Ngoài ra, do có thể thay đổi rất nhanh để tìm kiếm tỷ suất lợi tức cao hơn
hay để có thể có được mức độ rủi ro thấp hơn nên FII có đặc tính bất ổn định
và dễ bị đảo ngược. Tính bất ổn định, trong một giới hạn nào đó có thể là có
lợi khi nó cung cấp những cơ hội kinh doanh với lợi nhuận cao với hoặc
những cơ hội kinh doanh chênh lệch giá. Những cơ hội này sẽ thu hút các nhà đầu tư và khiến cho thị trường tài chính nội địa hoạt động hìệu quả hơn. Tính
bất ổn định còn chỉ ra rằng thị trường đang tìm kiếm những hình thức phân bổ
vốn tốt nhất cho những cơ hội kinh tế hiện hành. Tuy vậy, nếu điều này xảy ra
thường xuyên và với mức độ lớn, những tác động tiêu cực tới hệ thống tài
FII đặt ra nhiêù yêu cầu hơn đối với sự phát triển và quản lý đối
với thị trường tài chính như hệ thống kiểm toán, kế toán và tính
minh bạch của thị trường
Về lợi ích và những rủi ro tiềm tàng mà những hình thức đầu tư
này đem lại: Trong khi những lợi ích tiềm tàng mà FDI mang
đến cho nên kinh tế của các nước tiếp nhận chủ yếu tập chung ở
việc phát triển kinh tế thực thì những lợi ích tiềm tàng của FII lại
chủ yếu tập chung ở việc thúc đẩy sự phát triển của thị trường tài
chính. Hơn thế nữa, khác với FDI, không phảI bất kỳ hình thức
FII nào cũng đưa lại nguồn vốn mới hay tạo ra những đầu tư
mới. Việc phát hành cổ phiếu và trái phiếu mới sẽ đưa lại nguồn
vốn nhưng việc mua cổ phiếu và tráI phiếu bởi các nhà đầu tư
nước ngoài trên thị trường thứ cấp không nhất thiết thúc đẩy đầu
tư hay làm tăng dòng vốn nước ngoài vào trong nứơc, thậm chí
còn làm giảm tiết kiệm nội địa
1.3.2Những điểm tương đồng và liên kết
Mặc dù có nhiều điểm khác biệt nhưng FDI và FII vẫn có những điểm
tương đồng và có thể bổ sung cho nhau
Thứ nhất,cả hai hình thức đầu tư nước ngoài này bổ sung thêm cho
nguồn vốn đầu tư, bên cạnh nguồn vốn có được từ tiết kiệm nội địa, cả
hai đều thúc đẩy đầu tư và hoạt động kinh tế của các nước tiếp nhận và
cho phép nền kinh tế đạt được mức tăng trưởng cao, vốn không thể đạt
được nếu không có sự bổ sung của hai hình thức vốn này
Thứ hai, có những lĩnh vực mà ranh giới giữa FDI và FII là không rỗ
ràng hay nói cách khác có những lĩnh vực mà cả hai hình thức đâu tư
này hoà quyện vào nhau chẳng hạn các nhà đầu tư gián tiếp có thể hoạt
động tích cực trên thị trường cổ phiếu nhưng việc nắm gĩư cổ phiếu lại
là một trong những đặc trưng cơ bản của đầu tư trực tiếp
hơn, vỡi kết quả là nguồn vốn sẽ dồi dào hơn và các chi phí vốn đối với các
công ty sẽ giảm
2.1.2 FII thúc đẩy sự phát triển của hệ thống tài chính nội đia: vốn FII
thúc đẩy sự phát triển của hệ thống tài chính nội địa thông qua các kênh khác
nhau
Cùng với sự xuất hiện của đầu tư gián tiếp nước ngoài, thị trường
tài chính nội địa sẽ hoạt động có hiệu quả hơn do có tính thanh
khoản cao hơn.Khi thị trường có tính thanh khoản cao hơn, rộng
hơn thì một loạt các dự án đầu tư khác sẽ được tài trợ. Chẳng hạn,
những công ty mới sẽ có cơ hội lớn hơn trong việc thu hút được nguồn vốn tài trợ ban đầu. Người tiết kiệm sẽ có nhiều cơ hội đầu
tư hơn với niềm tin rằng họ có thể quản lý được danh mục đầu tư
của họ hoặc có thể bán chứng khoán đI rất nhanh mỗi khi họ cần
đến nguồn tiết kiệm của mình. Bằng cách đó, những thị trường cố
tính thanh khoản cao sẽ khiến cho đầu tư dài hạn trở nên có sức
thu hút hơn
FII còn thúc đẩy sự phát triển của các thị trường cổ phiếu cũng
như quyền biểu quyết của các cổ đông trong quá trình điều hành
công ty. Một khi các công ty cạnh tranh nhau về nguồn vốn tài
trợ, thị trường sẽ ban thưởng cho những công ty có hiệu quả tốt
hơn, có triển vọng tốt hơn về hiệu quả và có trình độ điều hành
công ty tốt hơn. Một khi tính thanh khoản cũng như hoạt động của
thị trường được cảI tiến, cổ phiếu sẽ ngày càng phản ánh giá trị
của công ty và điều đó sẽ thúc đẩy sự phân bổ vốn một cách hiệu
quả. Những giá trị cổ phiếu hoạt động tốt hơn sẽ khuyến khích
mua lại và đây chính là giao điểm giữa đầu tư trực tiếp và đầu tư
gián tiếp. Mua lại có thể khiến cho một công ty kinh doanh kém
hiệu quả trở nên có hiệu quả và có lợi tức cao hơn. Mua lại cũng
kỷ luật hơn và có khả năng cạnh tranh cao hơn do giảm thiểu được những
hiệu ứng bất lợi như sự lựa chọn nghịch và rủi ro đạo đức.Kết quả là người
tiêu dùng sẽ có được các dịch vụ tài chính với chất lượng cao hơn và chi phí
thấp hơn
2.1.3 FII thúc đẩy cảI cách thể chế và nâng cao kỷ luật đối với các
chính sách của chính phủ: tính bất ổn định và dễ bị đảo ngược của vốn FII sẽ
buộc các chính phủ phảI thực hiện những chính sách kinh tế vĩ mô lành mạnh
nhằm giảm thâm hụt ngân sách, giảm lạm phát, giảm sự mất cân đối bên
ngoài…cũng như các chính sách kinh tế thân thiện với thị trường nói chung
và các nhà đầu tư nước ngoài nói riêng
Như vậy, thông qua các kênh khác nhau, đầu tư gián tiếp nước ngoài
có thể bổ sung thêm nguồn vốn cho nền kinh tế cũng như thúc đẩy việc củng
cố và cảI thiện hoạt động của các thị trường vốn nội địa. Điều này sẽ khiến
cho vốn và các nguồn lực trong nền kinh tế được phân bổ tốt hơn; tạo cơ hội
đa dạng hoá danh mục đầu tư, cảI thiện khả năng quản lý rủi ro, thúc đẩy sự
gia tăng của tiết kiệm và đầu tư với kết quả là nền kinh tế sẽ trở nên vững
mạnh hơn và tăng trưởng kinh tế sẽ được thúc đẩy
2.2 Những tác động tiêu cực
2.2.1 Sự gia tăng mạnh mẽ của dòng vốn FII sẽ khiến cho nền kinh tế
dễ rơI vào tình trạng phát triển quá nóng(kinh tế bong bóng) với những đặc trưng cơ bản là tỷ giá hối đoáI danh nghĩa hoặc lạm phát gia tăng. LãI suất
giảm do co sự gia tăng của mức cung tiền sẽ khiến cho nhu cầu nội địa gia
tăng và đồng tiền lên giá lên giá thực tế. Đến lượt mình, sự lên giá thực tế của
đồng tiền nội địa sẽ thúc đẩy sự phát triển của khu vực sản xuất hàng hoá phi
thương mại và hạn chế sự phát triển của khu vực sản xuất hàng hoá thương
mại. Hậu quả là cán cân tài khoản vãng lai sẽ bị xấu đI do khả năng cạnh
tranh của hàng hoá và dịch vụ trong nước giảm, nợ nước ngoài sẽ gia tăng.
Nói cách khác, nền kinh tế sẽ bị rơI vào tình trạng phát triển quá nóng, dễ bị
Tuy nhiên, khủng hoảng còn có thể xảy ra mà không liên quan gì đến
các nền tảng cơ bản của nền kinh tế như dưới tác động của sự không hoàn hảo
của thị trường vốn quốc tế, những thay đổi bên ngoài và hiệu ứng lây lan
2.2.3 FII làm giảm tính độc lập của chính sách tiền tệ và tỷ giá : Điều
này xảy ra bởi vì cùng với quá trình tự do hoá tài khoản vốn, ngân hàng trung
ương của các nứơc chỉ có thể thực hiện được một trong hai mục tiêu còn lại:
sự độc lập của chính sách tiền tệ hay sự độc lập của chính sách tỷ giá hối đoái.
Trong điều kiện tự do di chuyển của vốn, nếu ngân hàng trung ương muốn
duy trì chính sách tiền tệ độc lập thì họ buộc phảI thả nổi tỷ giá và ngược lại,
nếu họ muốn cố định tỷ giá thì buộc phảI từ bỏ chính sách tiền tệ độc lập.
Việc không tuân thủ nguyên tắc này sẽ khiến cho các chính sách kinh tế vĩ mô
trở nên trái ngược nhau và đưa đến những hậu quả tiêu cực cho nền kinh tế
3. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thu hút FII
3.1 Những nhân tố mang tính quốc gia
- Các nền tảng kinh tế cơ bản:hệ thống tài chính-ngân hàng mạnh,hoạt
động hiệu quả;công nghiệp dịch vụ phát triển;có lượng tích luỹ cao và có
tỉ lệ dự trữ ngoại tệ lớn.Sự biến động bên ngoài không tác động nhiều tới
nền kinh tế.
- Tăng trưởng kinh tế tiềm năng:nguồn vốn FII có xu hướng đầu tư tăng
vào các nước đang phát triển nhiều hơn do các nước phát triển đã khai
thác gần hết khả năng của mình ,tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp,làm cho
nhà đầu tư thu được ít lợi nhuận hơn.Các nước đang phát triển cần vốn
cho phát triển kinh tế,có tốc độ tăng trưởng cao ,lợi nhuận thu được lớn
cho nên dòng vốn đổ vào nhiều.
- Sự ổn định chính trị:Một quốc gia có chính trị ổn định luôn thu hút nhà
đầu tư hơn là một quốc gia có chính trị bất ổn.Quốc gia có chính trị ổn
định đảm bảo cho nhà đầu tư thu được cả gốc và lãi,còn bất ổn đầu tư
không an tâm,dễ gặp rủi ro.
- Sự điều tiết thị trường:Thị trường tự điều tiết là chính.Các nhà đầu tư lớn
thích thị trường tự điều tiết do đó họ có thể đầu cơ làm khuynh đảo thị
Tính thanh khoản của thị trường:đó là khả năng chuyển đổi sang
tiền mặt của tài sản nói chung và chứng khoán nói riêng.Nhà đầu tư
không chỉcó nhu cầu mua mà còn có nhu cầu bán ra.Nếu thị trường
không có tính thanh khoản cao thì sẽ hạn chế nhà đầu tư.Họ sẽ ngại khi mà muốn bán lại phải chuyển qua một trung gian khác.Đây là
hạn chế lớn của thị trường chứng khoán ở các nước đang phát triển.
Chất lượng của nghiên cứu thị trường:đánh giá hiệu quả hoạt động
của nền kinhtế,của thị trường tài chính,tính minh bạch công khai của
thị trường.Qua chất lượng nghiên cứu thị trường cũng đánh giá,dự
báo được rủi ro cho nhà đầu tư và cho cả nền kinh tế.
Tỷ số giá cả/thu nhập(P/E):đây là một trong những tỉ số đánh giá
được mức cổ tức tiềm năng cũng như rủi ro mà nhà đầu tư nhận
được
Mức vốn hoá thị trường:Mức vốn hoá thị trường cao thì tốt hơn,sẽ
hấp dẫn nhà đầu tư lớn.Còn nhỏ thì chỉ hấp dẫn ngắn hạn,nhỏ lẻ.
Mức độ công khai của các công ty trong các báo cáo hàng năm:Một
nhà đầu tư chiến lược,lâu dài và khôn ngoan không bao giờ đầu tư
vào những nơi không có tính minh bạch công khai các thông tin
cao.Họ bỏ ra một lượng vốn lớn để đầu tư dài hạn thu được lợi
nhuận lớn lâu dài chứ không phải là ngắn hạn,cỏn con.Do đó các
quốc gia muốn phát triển thị trường vốn cần phải minh bạch hơn các
báo cáo tài chính của công ty mình.
Sự phong phú của các công cụ thị trường:Công cụ thị trường càng
phong phú càng nhiều nhà đầu tư ở nhiều quốc gia.Nói chung họ có
nhiều sự lựa chọn hơn.
Hệ thống thanh khoản giao dịch:nhanh và tiện là điều mà nhà đầu tư
mong muốn.
Chi phí giao dịch:thấp làm cho lợi nhuận mà nhà đầu tư có cao.
trên cơ sở thực hiện cơ khí hoá nền sản xuất xã hội và áp dụng thành tựu khoa
học công nghệ hiện đại.Sở dĩ vậy vì công nghiệp hoá hiện đại hoá là quá trình
chuyển biến lao động thủ công lạc hậu sang lao động sử dụng máy móc thiết
bị.Trong giai đọan hiện nay thì khoa học công nghệ phát triển cần áp dụng
vào sản xuất.
-Chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại và hợp lí.Cơ cấu kinh tế
hiện đại,hợp lí là:
+Nông nghiệp phải giảm dần về tỉ trọng;công nghiệp,xây dựng,dịch vụ
phảI tăng dần về tỉ trọng.Mục tiêu của nước ta phấn đấu đến năm 2010 là tỷ
trọng GDP của nông nghiệp 16-17%;công nghiệp 40-41%;dịch vụ 42-43%.
+Trình độ kĩ thuật của nền kinh tế không ngừng tiến bộ,phù hợp với xu
hướng của sự tiến bộ khoa học và công nghệ đã và đang diễn ra như vũ bão
trên thế giới. +Cho phép khai thác tối đa mọi tiềm năng của đất nước,của các
ngành,các địa phương,các thành phần kinh tế.
+Thực hiện sự phân công và hợp tác quốc tế theo xu hướng toàn cầu
hoá kinh tế,do vậy cơ cấu kinh tế được tạo dựng phải là “cơ cấu mở”.
-Thiết lập quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa.Xã
hội chủ nghĩa chỉ có thể xây dựng được trên cơ sở lựclượng sản xuất phát
triển phù hợp với quan hệ sản xuất.Lực lượng sản xuất phát triển ở trình độ
cao hiện nay là phải sở hữu được thành tựu của khoa học kĩ thuật tiên tiến.Do
đó chúng ta cần tranh thủ áp dụng thành tựu khoa học của thế giới.
1.4.2. Những nội dung cụ thể của công nghiệp hóa-hiện đại hoá nước ta
trong những năm trước mắt.
a)Đặc biệt coi trọng công nghiệp hoá,hiện đại hoá ở khu vực nông
thôn:Phát triển toàn diện nông,lâm,ngư và khai thác sử dụng hiệu quả tiềm
năng của các ngành này nhằm đảm bảo an ninh lương thực cho xã hội;tạo
nguồn nguyên liệu lớn,chất lượng cao cho công nghiệp chế biến,xuất
quả các nguồn vốn là một điều kiện,tiền đề quan trọng để công nghiệp hoá -
hiện đại hoá thành công.
Vốn cho công nghiệp hoá-hiện đại hoá gồm 2 nguồn chính là vốn trong
nước và vốn nước ngoài.
*Nguồn vốn trong nước được tích lũy từ nội bộ nền kinh tế quốc dân dựa
trên cơ sở hiệu quả sản xuất,là lao động thặng dư của người lao động thuộc tất
cả các thành phần kinh tế.Nguồn vốn trong nước chủ yếu có được là tỉ lệ tiết
kiệm của hộ gia đình,doanh nghiệp,chính phủ.Tỉ lệ tiết kiệm này cũng còn
phụ thuộc các chính sách của chín phủ.Nhưng nước ta có xuất phát điểm thấp
nên tiết kiệm là rất nhỏ.Lượg vốn này không đủ cho CNH_HĐH.
*Muốn thoát khỏi vòng luẩn quẩn vì nghèo nên tích luỹ thấp;tích luỹ thấp
tăng trưởng kinh tế chậm và khó thoát khỏi đói nghèo…Do đó cần tận dụng
nguồn vốn từ bên ngoài.Đây là nguồn vốn vô cùng quan trọng không những
giúp các nước khó khăn trong thời gian đầu mà còn nâng cao trình độ quản lí
và công nghệ,tạo công ăn việc làm cho người lao động…Tuy nhiên mặt trái
của nguồn vốn này là phải chấp nhận bị bóc lột tài nguyên bị khai thác,nợ
nước ngoài tăng lên…
Để có thể huy động và sử dụng nguồn vốn nước ngoài hiệu quả,xây dựng
và phát triển thị trường vốn là giảI pháp có ý nghĩa rất quan trọng.Thị trường
vốn đó chính là thị trường chứng khoán để thu hút nguồn vốn đầu tư gián tiếp
FII.Nhờ có thị trường vốn,người sở hữu vốn nếu nhượng quyền sử dụng vốn
sẽ có thêm thu nhập.Đồng thời khi có thị trường vốn ,đồng vốn sẽ dễ dàng
dịch chuyển từ nơi hiệu quả thấp đến nơi có hiệu quả cao.Do đó,để đáp ứng cho nhu cầu công nghiệp hoá-hiện đại hoá,xây dựng thị trường vốn ở nước ta
là vô cùng cần thiết.
Qui mô huy động và sử dụng vốn nước ngoài còn phụ thuộc vào môi trường
vĩ mô.Môi trường vĩ mô càng thuận lợi thì qui mô huy động và hiệu quả sử
dụng ngày càng cao.Do đó tạo môi trường vĩ mô thuận lợi cho các hoạt động
nhau và rất phức tạp.Có nhiều nước thu hút và sử dụng thành công nguồn vốn
này cho quá trình phát triển đất nước,có những nước lại lâm vào tình trạng
khủng hoảng khi sử dụng nguồn vốn này tiêu biểu là khủng hoảng tài chính
năm 1997 tại các nước châu á.
Trung quốc và Malaxia được coi là hai nước thu hút và sử dụng thành
công nguồn vốn FII và thoát khỏi tình trạng quay ra của nguồn vốn không làm
ảnh hưởng tới phát triển kinh tế.Các nước đã sử dụng một số chính sách sau:
- Đưa ra môi trường kinh tế vĩ mô ổn định và khai thác tiềm năng đất
nước,quảng bá môi trường đầu tư,hệ thống pháp luật nhất quán ….khuyến
khích thu hút đầu tư.
- Xác định rõ mục tiêu của thu hút FII và sử dụng,quản lí:đảm bảo ổn định
tài chính,tính cạnh tranh của tỷ giá hối đoáI,tính độc lập của chính sách tiền tệ
và tránh sự lây lan của khủng hoảng từ bên ngoài;thay đổi cơ cấu của dòng
vốn này thông qua việc khuyến khích dài hạn và hạn chế ngắn hạn; đảm bảo
sự độc lập chính trị;trợ giúp chính sách công nghiệp,thực hiện quá trình tự do
hoá từ từ và có thể kiểm soát được,tăng tiết kiệm nội địa và dự trữ ngoại tệ.
-áp dụng đa dạng các biện pháp để điều tiết sự di chuyển của vốn gián tiếp
nước ngoài như đánh thuế dòng vốn vào,kiểm soát dòng vốn ra,chính sách tài
khoá thắt chặt….
Kết quả thu được là tăng được nguồn vốn nàyvà kiểm soát được dòng vốn
này và có biện pháp thay đổi nhanh khi dòng vốn này có xu hướng quay
ra.Các chính sách trên đã thay đổi được cơ cấu và thời hạn của dòng vốn vào
trong nước tăng dài hạn,giảm ngắn hạn.Điều này đã giảm thiểu rủi ro.Đồng
thời đã đảm bảo được sự ổn định tài chính và tránh được nguy cơ lây lan
khủng hoảng,đảm bảo được sự độc lập của chính sách tiền tệ…Các kết quả
trên đã làm cho lượng vốn dài hạn tăng,giảm thiểu được rủi ro lớn.
Thành công của những chính sách trên phảI kể đến vai trò của chính
phủ.Chính phủ có quyết tâm và năng lực trong viêc thiết lập chính sách và
thực hiện nhất quán linh hoạt,mềm dẻo theo sự thay đổi của tình hình thực
tế.Mặt khác phảI kể đến nền tảng kinh tế vĩ mô lành mạnh và tiến hành tự do
nước để xây dựng cho đúng và đưa ra các biện pháp giảm thiểu rủi ro cho phù
hợp.
Chương 2:Thực trạng thu hút FII vào Việt Nam
1.Thực trạng của việc thu hút và sử dụng vốn cho quá trình công nghiệp
hoá,hiện đại hoá ở Việt Nam
Để thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa,hiện đại hoá đưa Việt Nam ra khỏi
tình trạng nước kém phát triển vào năm 2010 và trở thành một nước công
nghiệp vào năm 2020 thì trong những năm(2001-2006) Việt Nam đã huy
động một lượng vốn khổng lồ cho quá trình này.Nguồn vốn được huy động
nhiều cho quá trình này là nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài:ODA
,FDI,FII.Những nguồn vốn này liên tục gia tăng,năm sau luôn cao hơn năm
trước.
1.1. Sự cần thiết của nguồn vốn FII.
Lượng vốn đầu tư nước ngoài chủ yếu là FDI và ODA vào Việt Nam khá
nhiều song trên thực tế đưa vào các dự án chỉ đạt được khoảng 70-80% giai
đoạn 2001-2006.Sau đây là bảng số liệu về lượng vốn đầu tư nước ngoài
trong tổng số vốn đầu tư:
Năm ĐTNN (t ỷ USD) Tổng vốn đầu tư
Việc sử dụng FDI có tác dụng phát triển kinh tế của một số vùng,ngành
trọng điểm.Do đó làm kinh tế cả nước phát triển song dẫn đến sự phân hóa
giàu nghèo,chênh lệch giữa các vùng miền của đất nước cao,bất bình đẳng
0
5
10
15
20
25
30
35
40
2000
2001
2002
2003
2004
2005
T
§
T
§TNNngày càng gia tăng.Mặt khác, FDI tập trung ở những khu công nghiệp phát
triển làm cho quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh,làm tăng di dân,gây ra tình
trạng khó quản lí dân cư…Đây là những hạn chế của FDI.
Nguồn vốn ODA: Đây là nguồn vốn viện trợ phát triển chủ yếu đầu tư cho
phát triển cơ sở hạ tầng của chính phủ các nước nhằm mục tiêu tạo điều kiện
cho doanh nghiệp của họ vào đầu tư thuận lợi.Nguồn vốn này liên tục tăng
-Hình thức bán trái phiếu chính phủ thực hiện lần đầu tiên vào năm 2005
với số lượng là 750 triệu USD.Đây là nguồn vốn dài hạn mà chính phủ có thể
sử dụng cho phát triển kinh tế không có thêm ràng buộc.Đây là một trong
những ưu điểm của vốn FII dài hạn.
Hình thức bán cổ phiếu trên thị trường chứng khoán ở Việt nam mới phát
triển vào năm 2001.Hình thức này thu hút vốn vẫn nhỏ lẻ,đầu tư ngắn
hạn,tiềm ẩn nhiều rủi ro.
-FII theo sự phát triển của thị trường chứng khoán,theo nhu cầu của nhà
đầu tư và của nước tiếp nhận đầu tư.Việt nam là nước đang phát triển có nhu
cầu thu hút FII nên đã mở cửa thị trường chứng khoán ,cho phép vốn được
lưu thông tự do.Nhưng sự lưu thông tự do này vẫn có sự kiểm soát để việc lưu
thông tự do diễn ra từ từ không làm ảnh hưởng xấu tới nền kinh tế.Trong 2
năm gần đây thị trường chứng khoán Việt Nam rất sôi động.
Đây là một nguồn vốn mới ,mấy năm gần đây mới được quan tâm thu
hút.Song nguồn vốn này cũng chứa nhiều rủi ro,vì vậy cần có sự quan tâm
kiểm soát chặt chẽ của chính phủ,của cơ quan có chức năng,của các doanh
nghiệp.
1.3 Các cơ chế chính sách của Việt Nam thu hút đầu tư gián tiếp FII.
Do nhu cầu sử dụng vốn quá lớn trong thời gian tới lại mong có tính chủ
động trong sử dụng vốn,Việt Nam đã đưa ra các chính sách thu hút vốn đầu tư
gián tiếp nước ngoài.(trước đó Việt Nam không quan tâm đến thu hút nguồn
vốn này mà chỉ quan tâm thu hút FDI và ODA).
Việc thu hút nguồn vốn này đồng nghĩa với việc phát triển thị trường
chứng khoán bởi vì FII là việc nhà đầu tư tham gia mua bán các giấy tờ có giá
trên thị trường vốn(TTCK). Để thu hút nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường
này,Việt Nam đã có một số cải cách mở cửa kêu gọi nhà đầu tư:
- Hệ thống pháp luật ngày một hoàn thiện hơn.Năm 2003 luật chứng khoán
qui định nhà đầu tư nước ngoài không được nắm giữ quá 30% cổ phiếu của
công ty,năm 2006 cho phép lên tới 49% và hiện nay đang dự kiến cho phép là
100% đối với những ngành nghề không quan trọng.Nhưng hiện nay trong luật
Tuy nhiên với những chính sách phù hợp cộng với tiềm năng của đất nước
năm 2006 đã thu hút được một lượng vốn FII tương đối.Kết quả này coi như
là khá thành công.
3.1 Giai đoạn 2001-2004
Sau khủng hoảng năm 1997,nguồn vốn FII vào Việt Nam có xu hướng
tăng,nhưng qui mô còn nhỏ và chiếm tỉ lệ thấp.