Hy Lạp cổ đại 1 - Pdf 20

Hy Lạp cổ đại
1

I. Địa lý và cư dân.

Lãnh thổ của Hy Lạp cổ đại bao gồm: miền Nam bán đảo Ban căng, các đảo trên
biển Egiê và miền ven biển phía Tây Tiểu Á, trong đó quan trọng nhất là miền
Nam bán đảo Ban căng tức là vùng lục địa Hy Lạp.

Miền lục địa Hy Lạp chia làm ba miền: Bắc bộ, Trung bộ và Nam bộ. Từ Bắc bộ
xuống Trung bộ phải qua đèo Técmôpin. Trung bộ có nhiều thành phố, trong đó
nổi tiếng nhất là Aten. Ranh giới giữa Trung bộ và Nam bộ ở eo đất Coranh. Nam
bộ là một bán đảo có nhiều đồng bằng gọi là bán đảo Pêlôpônedơ.

Điều kiện địa lý của Hy Lạp thuận lợi cho việc phát triển công thương nghiệp.

Cư dân Hy Lạp cổ đại gồm nhiều tộc người:
Người Eôliêng chủ yếu cư trú ở Bắc bán đảo Ban căng.
Người Iôniêng ở miền Trung
Người Akêăng ở vùng Bắc bán đảo Pêlôpônedơ.
Người Đôriêng ở phần bán đảo Pêlôpônedơ và đảo Crét.

Lịch sử Hy Lạp cổ đại từ khi thành lập nhà nước đến khi bị nhập vào đế quốc La
Mã bao gồm bốn thời kì:
Thời kì văn hoá Crét – Myxen.
Thời kì Hôme.
Thời kì thành bang .
Thời kì Makêđônia làm bá chủ Hy Lạp.

II. Văn hoá Crét Myxen và thời Hôme:



2. Thời kì Hôme ( Thế kỉ XI – IX TCN)

Thời kì này sở dĩ gọi như vậy là vì lịch sử Hy Lạp trong giai đoạn này được phản
ánh trong hai tập sử thi là Iliát và Ođixê của nhà thơ mù Hôme.

Nội dung của Iliát và Ođixê nói về cuộc chiến tranh giữa Hy Lạp với thành Tơroa
xảy ra cuối thời Myxen, nhưng chất liệu của cuộc sống hiện thực mà tác giả sử
dụng để xây dựng tác phẩm như tình hình sinh hoạt, phong tục tập quán, quan hệ
xã hội… thì thuộc thời kì từ thế kỷ thứ XI – IX TCN.

Xã hội Hy Lạp thời Hôme được phản ánh trong hai tập thơ này không phải là sự
phát triển tiếp tục xã hội có nhà nước thời Crét Myxen mà là giai đoạn cuối của xã
hội nguyên thuỷ.

Lúc bấy giờ, sự phân hoá giàu nghèo đã diễn ra rõ rệt, nô lệ cũng đã xuất hiện.Tuy
vậy, nhà nước chưa ra đời. Đứng đầu bộ lạc là badilớt ( basileus ) nhân vật này
chưa phải là vua mà chỉ là thủ lĩnh quân sự.
Bên cạnh badilớt còn có Đại hội nhân dân bao gồm toàn thể thành viên nam giới
của bộ lạc, và Hội đồng trưởng lão bao gồm các cụ tộc trưởng các thị tộc.

Thời kì xã hội vừa có thủ lĩnh quân sự vừa có Đại hội nhân dân gọi là thời kì dân
chủ quân sự, còn gọi là thời đại anh hùng.

III. Thời kì thành bang: ( Thế kỷ VIII – IV TCN )

Do sự phát triển của các ngành kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương
nghiệp, nhiều thành thị đã ra đời ở Hy Lạp và Tiểu Á. Đồng thời sự phát triển về
kinh tế đã dẫn đến việc phân chia cư dân Hy Lạp thành ba loại: quý tộc, nô lệ và
bình dân. Trên cơ sở đó, đến thế kỷ thứ VIII TCN, ở Hy Lạp một lần nữa lại xuất

Về quân sự, Xpác có một đội bộ binh rất hùng mạnh. Tất cả con trai Xpác đều
phải rèn luyện trong các trại tập trung của nhà nước, đến 20 tuổi thì chính thức trở
thành chiến sĩ và phải ở trong quân đội tới 60 tuổi.

Như vậy Xpác là một thành bang bảo thủ về chính trị, lạc hậu về kinh tế và văn
hóa nhưng lại là một thành bang hùng mạnh về quân sự.
Với ưu thế ấy, Xpác bắt các thành bang lân cận trở thành chư hầu của mình và đến
năm 530 TCN thì thành lập một đồng minh do Xpác cầm đầu gọi là đồng minh
Pêlôpônedơ nhằm mục đích giành quyền bá chủ ở Hy Lạp.

2. Thành bang Aten :

a. Sự ra đời và phát triển của nhà nước dân chủ:

Aten ở miền Trung Hy Lạp. Đây chủ yếu là một vùng đồi núi, không thuận tiện
đối với việc sản xuất nông nghiệp, nhưng lại có nhiều khoáng sản và có hải cảng
tốt nên rất thuận lợi trong việc phát triển công thương nghiệp.

Thời Hôme, ở xung quanh Aten có bốn bộ lạc người Iôniêng. Đến khoảng thế kỉ
VIII TCN, do sự phát triển về kinh tế và sự phân hóa giai cấp, nhà nước ở Aten bắt
đầu ra đời. Tuy nhiên tính chất dân chủ của nhà nước Aten lúc bấy giờ còn rất hạn
chế. Do sự đấu tranh không ngừng của quần chúng, Aten phải nhiều lần cải cách
để hoàn thiện chế độ dân chủ, trong đó quan trọng nhất là cuộc cải cách Xô lông
và cuộc cải cách Clixten.

- Cải cách Xô lông:

Năm 594 TCN, Xô lông được cử làm quan chấp chính. Ông đã thi hành những
chính sách cải cách sau đây:


các sinh hoạt dân chủ.

3. Cuộc chiến tranh Hy Lạp – Ba Tư:

Trong khi Aten đang bước vào thời kì phát triển về mọi mặt thì đến đầu thế kỉ V
TCN, Hy Lạp phải tiến hành một cuộc chiến tranh chống sự xâm lược của Ba Tư,
lịch sử gọi là cuộc chiến tranh Hy Lạp – Ba Tư.

-Nguyên nhân: Ba Tư là một đế quốc rộng lớn ở Tây Á, lãnh thổ phía Đông đến
tận An Độ, phía Nam bao gồm cả Ai Cập. Tuy vậy, Ba Tư còn muốn bành trướng
sang phía Tây.

Cuộc chiến tranh này gồm ba chiến dịch lớn:

+ Chiến dịch Maratông:Năm 490 TCN, quân Ba Tư đổ bộ lên cánh đồng
Maratông, một địa điểm cách Aten hơn 42 km về phía Đông. Tuy lực lượng so
sánh rất chênh lệch, nhưng quân Hy Lạp đã chiến thắng rất oanh liệt . (Để báo tin
thắng trận một chiến sĩ Aten đã chạy một mạch từ Maratông (Maraton) về
Aten.Khi vừa về đến quảng trường Hội nghị công dân, anh ta chỉ kịp kêu lên:” Hỡi
người Aten hãy vui mừng lên chúng ta đã thắng!” rồi ngã lăn ra chết. Do sự tích
đó, trong đại hội Olimpích lần thứ I tổ chức năm 1896 ở Aten, người ta bắt đầu
đưa vào một bộ môn điền kinh mới là môn chạy Maratông).
+ Chiến dịch Xalamin: Năm 480 TCN, tại trận thủy chiến ở vịnh Xalamin, quân
Ba Tư lại bị thất bại hết sức nặng nề.
+ Chiến dịch Platê: Năm 479 TCN. Quân Hy Lạp lại đánh thắng quân Ba Tư ở
Platê. Ba Tư bị thất bại hoàn toàn phải rút tàn quân về nước.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status