đặt vấn đề
Triết học là một hình thái ý thức xã hội, là học thuyết về những nguyên
tắc chung nhất của tồn tại và nhận thức, về thái độ của con ngời đối với
thế giới, là khoa học về những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và
t duy.
Lịch sử triết học cho chúng ta khả năng hiểu biết và khái quát sự phát
triển lịch sử t tởng triết học của nhân loại, nắm đợc những kinh nghiệm
của nhận thức khoa học, sự hình thành và phát triển của những phơng
pháp nhận thức khoa học, góp phần xây dựng phơng pháp t duy đúng đắn.
Nghiên cứu lịch sử triết học giúp con ngời thâu tóm đợc trí tuệ của mỗi
thời đại lịch sử đợc kết tinh trong triết học, nhằm làm giàu trí tuệ của mỗi
ngời.
Mặt khác, trong tiến trình vận động và phát triển của lịch sử văn hóa
nhân loại nói chung và t tởng triết học nói riêng, triết học phơng Tây giữ
một vị trí đáng kể, bởi vì những nội dung phong phú, đa dạng và những
giá nhiều mặt của nó đã để lại những dấu ấn đậm nét và có ảnh hởng lớn
đối với lịch sử loài ngời. Và sự kết tập những giá trị của nó đã góp phần
không nhỏ đối với sự hình thành nền văn minh nhân loại.
Từ sự cần thiết của việc nghiên cứu lịch sử triết học, đồng thời để có
thể hiểu rõ hơn t tởng triết học phơng Tây, tôi đã chọn một đại diện tiêu
biểu ở phơng Tây, đó là Hy Lạp để nghiên cứu hệ thống t tởng triết học
của họ, đợc thực hiện trong đề tài tiểu luận Đặc điểm của triết học Hy
Lạp cổ đại.
Đề tài đợc nghiên cứu theo ba phần chính sau:
Phần I
: Hoàn cảnh ra đời và phát triển của triết học Hy Lạp cổ đại.
Phần II : Đặc điểm của triết học Hy Lạp cổ đại.
Phần III : Kết luận.
mỗi ngời hòa tan vào cuộc sống cộng đồng, thì trong thời kỳ này đã
xuất hiện chế độ tu hữu về của cải, buộc mỗi ngời cần ý thức về bản thân
mình, cần có một quan điểm sống phù hợp với hoàn cảnh mới. Nhu cầu
2
đó đòi hỏi sự ra đời của triết học. Xôcrát đã nhận thấy điều đó khi ông coi
triết học là sự tự ý thức của con ngời về chính bản thân mình.
Về mặt chính trị - xã hội thì xã hội Hy Lạp cổ đại là xã hội chiếm hữu
nô lệ. Trong xã hội này có hai gia cấp chủ yếu là giai cấp chủ nô và giai
cấp nô lệ. Nô lệ không đợc tham gia và không đủ khả năng tham gia các
hoạt động xã hội, chính trị và văn hóa. Họ không có một chút quyền lợi
nào, ngoài sự lao động bị cỡng bức tàn bạo.
Chế độ nô lệ là một chế độ xã hội có hình thức áp bức bóc lột tàn bạo
nhất, vô nhân đạo nhất trong lịch sử so với tất cả các hình thức áp bức,
bóc lột ở các chế độ có giai cấp khác. Do vậy, những cuộc nổi dậy tự phát
của nô lệ chống lại giai cấp chủ nô luôn luôn diễn ra. Song họ lại không
có khả năng xây dựng một thế giới quan phản ánh những quyền lợi của
mình, vì bị lao động chân tay nặng nề và không có một ngôn ngữ chung,
tiếng nói chung bởi họ xuất thân từ nhiều bộ lạc khác nhau với những
ngôn ngữ khác nhau. Tuy nhiên, chế độ áp bức, bóc lột nô lệ cũng là cơ sở
kinh tế trên con đờng phát triển của Hy Lạp cổ đại. Nhờ có chế độ đó, giai
cấp chủ nô Hy Lạp mới có thể thoát ly khỏi cuộc đời lao động chân tay
vất vả để xây dựng các khoa học, trong đó có triết học, nghệ thuật. Trong
tác phẩm Chống Đuyrinh, Ăngghen đã nhận xét rằng, phải có những khả
năng của chế độ nô lệ mới xây dựng đợc một quy mô phân công lao động
lớn lao hơn trong nông nghiệp và công nghiệp, mới xây dựng đợc nớc Hy
Lạp cổ giàu có. Nếu không có chế độ nô lệ thì cũng không có quốc gia
Hy Lạp, không có khoa học và nghệ thuật Hy Lạp.
tính ôn hòa, ca ngợi quyền lợi chung của công dân tự do, ông kêu gọi chủ
nô đối xử với nô lệ nh những bộ phận trên cơ thể, ông kêu gọi đối xử với
nô lệ nhân đạo hơn. Ông cho rằng nền tảng của chế độ dân chủ chủ nô là
hình thức dân chủ của nhà nớc chủ nô, đó là nhà nớc công hòa dân cử.
Nhà nớc đóng vai trò duy trì trật tự và điều hành hoạt động xã hội, trừng
phạt nghiêm khắc những kẻ vi phạm pháp luật hay các chuẩn mực đạo
đức. Theo ông, thà sống nghèo còn hơn giàu có mà mất dân chủ và tự do.
4
Hạnh phúc là sự thanh thản tâm hồn, đợc tự do. Ông cho rằng, hoạt động
chính trị, quản lý nhà nớc là nghệ thuật cao nhất đem lại vinh dự và vinh
quang cho con ngời, làm cho con ngời sống hạnh phúc, đợc tự do. Tuy
nhiên, tự do mà Đêmôcrit đề cập là của chủ nô chứ không phải là của nô
lệ.
Đêmôcrit cũng có những cống hiến có ý nghĩa tích cực về đạo đức học.
Theo ông, đối tợng nghiên cứu của đạo đức học là cuộc sống, hành vi, số
phận của mỗi con ngời riêng biệt, nó phải giải quyết vấn đề về hành vi
con ngời và thái độ của con ngời đối với bản thân. Hạt nhân trung tâm
trong đạo đức của ông là lơng tâm, là sự lành mạnh về tinh thần của từng
cá nhân. Mỗi ngời phải sống đúng mực, ôn hòa, không gây hại cho ngời
khác, ông cho rằng con ngời tốt là con ngời không những không làm mà
còn không muốn làm điều phi nghĩa hay để nhận ra ngời trung thực và
không trung thực, phải căn cứ không chỉ vào việc làm của họ mà còn vào
ý muốn của họ. Ông nêu cao vai trò của trí tuệ trong đời sống hạnh phúc
của con ngời, ông nói: ngời hạnh phúc là ngời có trí tuệ và khả năng tinh
thần hay sống thiếu trí tuệ, không điều độ và không có lỗi lầm, có nghĩa
là sống không xấu nhng đó là chết dần.
Đối lập với t tởng về chính trị - xã hội của Đêmôcrit là nhà triết học
Platôn - đại biểu của trờng phái triết học duy tâm. Platôn là ngời bảo vệ
luậnvà những vấn đề này luôn đợc giải quyết theo hai quan điểm đối
lập nhau, hoặc là duy vật, hoặc là duy tâm.
Về vấn đề bản thể luận, trớc hết chúng ta đi nghiên cứu quan điểm của
trờng phái duy vật. Với nền kinh tế phát triển, triết học tự nhiên của ngời
Hy Lạp Cổ đã phát triển rực rỡ. Đó là kết quả của quá trình quan sát tự
nhiên một cách nhạy bén, suy xét sâu sắc các hiện tợng và lòng mong
muốn có một cách giải thích tổng quát về giới tự nhiên muôn hình muôn
vẻ trong điều kiện ít bị các thành kiến tôn giáo và uy quyền chuyên chế,
gò ép. Chính vì vậy mà quan điểm duy vật về Vũ trụ, về các chất và những
nguyên tố tạo thành các chất vốn phổ biến trong các dân tộc thời Thợng
cổ đã đợc thể hiện đầy đủ nhất trong các học thuyết của các nhà triết học
Cổ Hy Lạp.
Theo Talet (sống vào khoảng năm 640 - 550 Tr.CN) cho rằng chất đầu
của mọi vật là nớc và toàn bộ Vũ trụ phát sinh từ nớc. Khi ta đun nóng, nớc (biển) bay hơi còn lại đất (muối) Nh vậy các vật đều có thể xuất hiện
từ nớc và biến trở lại thành nớc. Quan điểm về nguồn gốc duy nhất của
mọi vật thể lúc đó đợc mọi ngời thừa nhận một cách tự nhiên, không cần
tranh cãi và với các nhà triết học chỉ còn vấn đề: phải chăng nớc hay một
chất khác là nguồn gốc của mọi vật.
6
Còn theo Hêraclit (540 - 525 Tr.CN) ở Ephê cho rằng chất đầu của mọi
vật là lửa, mọi vật trên thế giới này đều biến đổi và linh động nh lửa. Ông
nói: không thể hai lần cùng tắm trên một dòng sông, toàn bộ Vũ trụ là
một dòng các hiện tợng thờng xuyên thay đổi, sự thống nhất của thế giới
nằm trong sự muôn màu muôn vẻ của nó.
Gần nh đồng thời với học thuyết về chất đầu, một học thuyết về cấu
tạo gián đoạn của vật chất cũng xuất hiện ở Hy Lạp Cổ. Ngời sáng lập ra
thuyết này là nhà triết học Lơkip (500 - 440 Tr.CN) ở Milet và học trò của
giới các sự vật cảm tính, nó có trớc thế giới các sự vật cảm tính và quyết
định chúng. Thế giới các sự vật cảm tính là thế giới vật thể tĩnh (sông, núi,
cây,), nó có sau thế giới ý niệm, không chân thật, không hoàn hảo,
không đúng đắn vì mọi cái trong nó luôn biến đổi, có sinh ra và mất đi.
Thế giới các sự vật cảm tính chỉ là cái bóng của thế giới ý niệm, do thế
giới ý niệm quyết định.
Nh vậy, quá trình hình thành và phát triển của triết học Hy Lạp cổ đại
cũng phản ánh cuộc đấu tranh giữa tri thức khoa học và mê tín. Những
nhà triết học duy vật cũng chính là những ngời vô thần bảo vệ những quan
điểm khoa học tự nhiên tiến tiến, đề ra hàng loạt ý niệm khoa học, trong
đó có học thuyết về cấu tạo nguyên tử của vật chất, phê phán mê tín và
những t tởng thần học. Còn những nhà triết học duy tâm, bằng cách này
hay cách khác, chống những quan điểm khoa học tự nhiên tiên tiến, căm
thù chủ nghĩa vô thần, bảo vệ mê tín.
Về vấn đề nhận thức luận, theo Đêmôcrit của trờng phái duy vật cho
rằng thế giới quan là đối tợng của nhận thức. Ông công nhận khả năng
nhận thức thế giới của con ngời. Ông chia nhận thức làm 2 dạng: một là
nhận thức mờ tối - nhận thức thông qua cảm giác - đem lại cho ta hiểu
biết về vẻ ngoài của sự vật. Hai là nhận thức chân lý - nhận thức thông
qua các phán đoán logic - giúp chúng ta nhận thức đợc nguyên tử và
khoảng không trống rỗng. Với Đêmôcrit, nhận thức chân lý đáng tin cậy
hơn nhận thức mờ tối. Quan niệm về nhận thức của Đêmôcrit là duy vật
nhng còn giản đơn.
Bên cạnh đó, theo Platôn, một đại diện của trờng phái duy tâm, thì
quan niệm về nhận thức luận của ông cũng đối lập với quan niệm về nhận
thức luận của Đêmôcrit. Theo ông, tri thức có trớc sự vật, nhận thức lý
tính có trớc nhận thức cảm tính. Nhận thức về thực chất chỉ là quá trình
hồi tởng lại, nhớ lại những cái mà linh hồn trớc khi nhập vào thể xác con
ngời đã có sẵn, đã trải qua. Tri thức của các ý niệm, của linh hồn trớc khi
nhập vào thể xác con ngời mới là chân thực, đúng đắn, còn tri thức về các
cha thoát khỏi phạm vi của triết học. Các nhà triết học dờng nh đều là các
nhà khoa học nghiên cứu các lĩnh vực khác nhau nh toán học, thiên văn
học, vật lý học Các tri thức khoa học do các nhà triết học duy vật nêu ra
chỉ là sự phỏng đoán về thế giới xung quanh, chứ cha có cơ sở vững chắc,
song đó là những phỏng đoán thiên tài.
9
Thứ năm, triết học Hy Lạp cổ đại có tính biện chứng sơ khai tự phát
mà đỉnh cao là biện chứng duy vật của Hêraclit. Phép biện chứng của
Hêraclit cha đợc trình bày dới dạng một hệ thống các luận điểm khoa học
nh sau này, nhng hầu nh các luận điểm cốt lõi của phép biện chứng đợc
ông đề cập dới dạng các câu danh ngôn mang tính thi ca và triết lý. Đó là
những t tởng:
Một là, quan niệm về vận động vĩnh viễn của vật chất. Theo ông,
không có sự vật, hiện tợng nào của thế giới đứng im tuyệt đối, mà trái lại,
tất cả đều trong trạng thái biến đổi và chuyển hóa thành cái khác, và ngợc
lại.
Hêraclit nói: Nớc sinh ra từ cái chết của đất; không khí sinh ra từ cái
chết của nớc; lửa sinh ra từ cái chết của không khí và ngợc lại: chúng ta
không thể tắm hai lần trên cùng một dòng sông vì nớc mới không ngừng
chảy trên sông. Ngay cả mặt trời cũng mỗi ngày một mới. Hêgghen đã
nhận xét khi nói rằng mọi cái đang trôi đi, Hêraclit coi sinh thành là
phạm trù cơ bản của mọi tồn tại.
Theo quan điểm về vận động của Hêraclit, lửa chính là gốc của mọi sự
thay đổi. Tất cả các dạng khác nhau của vật chất chỉ là trạng thái chuyển
hóa của lửa mà thôi. Nh vậy, Hêraclit đã nêu khá rõ nét về tính thống nhất
của vũ trụ: Vũ trụ là một ngọn lửa duy nhất.
Hai là, Hêraclit đã nêu lên t tởng về sự tồn tại phổ biến của các mâu
Ngời nào càng tiếp cận đợc logos khách quan bao nhiêu thì càng thông
thái bấy nhiêu.
Lý luận nhận thức của Hêraclit mang tính chất duy vật và biện chứng
sơ khai. Trong lý luận nhận thức, vấn đề quan trọng trớc tiên là quan niệm
nh thế nào (duy vật hay duy tâm) về cảm giác. Bởi vì, cảm giác là cửa
ngõ của nhận thức.
Hêraclit cho rằng, nhận thức bắt đầu từ cảm giác, không có cảm giác
thì không có bất cứ nhận thức nào. Ông nói: mắt, tai là ngời thầy tốt
nhất, nhng mắt là nhân chứng chính xác hơn tai. Coi trọng nhận thức
cảm tính, nhng ông không tuyệt đối hóa giai đoạn này. Ông viết: thị giác
thờng bị lừa bởi vì tự nhiên thích giấu mình nên khó nhận thức. Nhiệm
vụ của nhận thức là phải đạt tới sự nhận thức logos của sự vật, nghĩa là
phải chỉ ra đợc cái bản chất, quy luật của sự vật.
Hêraclit còn nêu lên tính chất tơng đối của nhận thức. Tùy theo hoàn
cảnh và điều kiện mà thiện - ác, xấu - tốt, lợi - hại chuyển hóa cho nhau.
11
Hêraclit đã đa triết học duy vật cổ đại tiến lên một bớc mới với những
quan điểm duy vật và những yếu tố biện chứng. Học thuyết của ông sau
này đợc nhiều nhà triết học cận đại và hiện đại kế thừa. Ăngghen đã viết:
Quan niệm về thế giới một cách nguyên thủy, ngây thơ, nhng căn bản ấy
là đúng, là quan niệm của các nhà triết học Hy Lạp thời cổ, và ngời đầu
tiên diễn đạt đợc rõ ràng quan niệm ấy là Hêraclit: mọi vật đều tồn tại nhng đồng thời lại không tồn tại, vì mọi vật đều trôi đi, mọi vật đều không
ngừng thay đổi, mọi vật đều luôn luôn ở trong quá trình xuất hiện và biến
đi .
12