BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN THỊ VÂN
NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC
HY LẠP CỔ ĐẠI
Chuyên ngành: Toán Giải Tích
Mã số: 60 46 01 02
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học
TS. Vi Thái Lang
HÀ NỘI - 2013
2
Nguyễn Thị Vân – K16 Toán Giải Tích
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thiện tiểu luận này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các
đoàn thể và cá nhân. Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn và kính trọng tới tất cả các tập
thể và cá nhân đã tạo điều kiện giúp tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Vi Thái Lang người đã
hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện tiểu luận. Tôi xin
trân trọng cảm ơn Thư viện, phòng sau đại học, tập thể K16 TGT, các đơn vị
liên quan của trường ĐHSP Hà Nội 2 những người đã trang bị cho tôi những
kiến thức quý báu để giúp tôi hoàn thiện bài tiểu luận này.
1. Lý do chọn đề tài................................................................................................................................... 5
2. Mục đích nghiên cứu đề tài:.................................................................................................................. 5
3. Nhiệm vụ nghiên cứu:........................................................................................................................... 5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:........................................................................................................ 5
5. Phương pháp nghiên cứu: .................................................................................................................... 5
6. Giả thiết khoa học: ............................................................................................................................... 5
CHƯƠNG 1- ĐIỀU KIỆN RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI................................6
1.1 - Về tự nhiên..................................................................................................................................... 6
1.2 - Về kinh tế ...................................................................................................................................... 6
1.3 - Về chính trị - xã hội [1]................................................................................................................... 7
CHƯƠNG 2 - ĐẶC ĐIỂM VÀ CÁC TRƯỜNG PHÁI TRIẾT HỌC CỔ HY LẠP...................9
2.1 - Đặc điểm của triết học Hy Lạp cổ đại............................................................................................... 9
2.2 -Các trường phái triết học Hy Lạp cổ đại........................................................................................... 9
2.2.1-Trường phái Milê...................................................................................................................................9
2.2.2-Trường phái Hªraclit : (520-460 tr. CN)...............................................................................................12
2.2.3-Trường phái đa nguyên....................................................................................................................13
2.2.4-Trường phái nguyên tử luận............................................................................................................13
2.2.5 Arixtèt (384-332 tr.CN):......................................................................................................................21
2.3 - Vài ưu điểm và hạn chế của triết học Hy Lạp cổ đại.........................................................................28
2.3.1 - Ưu điểm:............................................................................................................................................28
2.3.2 - Hạn chế..............................................................................................................................................29
KẾT LUẬN................................................................................................................................... 30
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................................................ 31
5
6
Nguyễn Thị Vân – K16 Toán Giải Tích
CHƯƠNG 1- ĐIỀU KIỆN RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI
1.1 - Về tự nhiên
Hy Lạp cổ đại chính là cái nôi của nền triết học phương Tây. Đây là quốc gia
rộng lớn có khí hậu ôn hòa. Bao gồm miền Nam bán đảo Ban Căng (Balcans), miền
ven biển phía Tây Tiểu Á và nhiều hòn đảo ở miền Egee. Hy Lạp được chia làm ba
khu vực. Bắc , Nam và Trung bộ.
Trung bộ có nhiều dãy núi ngang dọc và những đồng bằng trù phú, có thành
phố lớn như Athen. Nam bộ là bán đảo Pelopongnedơ với nhiều đồng bằng rộng lớn
phì nhiêu thuận lợi cho việc trồng trọt. Vùng bờ biển phía Đông của bán đảo Ban
Căng khúc khuỷu nhiều vịnh, hải cảng thuận lợi cho ngành hàng hải phát triển. Các
đảo trên biển Êgiê (Egée) là nơi trung chuyển cho việc đi lại, buôn bán giữa Hy Lạp
với các nước ở Tiểu Á và Bắc Phi. Vùng ven biển Tiểu Á là đầu mối giao thương
giữa Hy Lạp và các nước phương Đông. Với điều kiện tự nhiên thuận lợi như vậy
nên Hy Lạp cổ đại sớm trở thành một quốc gia chiếm hữu nô lệ có một nền công
thương nghiệp phát triển, một nền văn hóa tinh thần phong phú đa dạng. Nơi có
nhiều triết gia mà triết lý của họ trở nên bất hủ.
1.2
- Về kinh tế
Hy Lạp cổ đại nằm ở một vị trí vô cùng thuận lợi về khí hậu, đất đai, biển cả
và lòng nhiệt thành của con người là những tài vật, tài lực vô giá để cho tư duy bay
bổng, mở rộng các mối bang giao và phát triển kinh tế.
Thế kỷ 8 – 6 TCN, đây là thời kỳ quan trọng nhất trong lịch sử Hy Lạp cổ đại
hóa là thiết chế nhà nước chủ nô dân chủ Athen.
Thành Sparte nằm ở vùng bình nguyên, đất đai rất thích hợp với sự phát triển
nông nghiệp. Chủ nô quý tộc thực hiện theo lối cha truyền con nối. Chính vì thế
Sparte đã xây dựng một thiết chế nhà nước quân chủ, thực hiện sự áp bức rất tàn
khốc đối với nô lệ.
Do sự tranh giành quyền bá chủ Hy Lạp, nên hai thành phố trên tiến hành cuộc
chiến tranh khốc liệt kéo dài hàng chục năm và cuối cùng dẫn đến sự thất bại của
thành Athen. Cuộc chiến tàn khốc đã lưu lại sự suy yếu nghiêm trọng về kinh tế,
chính trị và quân sự của đất nước Hy Lạp. Chiến tranh, nghèo đói đã nảy sinh các
cuộc nỗi dậy của tầng lớp nô lệ. Nhưng lại thất bại vì họ xuất phát từ nhiều bộ lạc
khác nhau, không có ngôn ngữ chung, không có quyền hạn, không được tham gia
vào các hoạt động xã hội, chính trị. Chớp lấy thời cơ, Vua Philíp ở phía Bắc Hy Lạp
đã đem quân xâm chiếm toàn bộ bán đảo Hy Lạp thế kỷ thứ 2 TCN, Hy Lạp một lần
nữa bị rơi vào tay của đế quốc La Mã. Tuy đế quốc La Mã chinh phục được Hy
Lạp, nhưng lại bị Hy Lạp chinh phục về văn hóa.
Engels đã nhận xét “không có cơ sở văn minh Hy Lạp và đế quốc La Mã thì
không có Châu Âu hiện đại được” [2]. Vì điều kiện kinh tế, nhu cầu buôn bán, trao
8
Nguyễn Thị Vân – K16 Toán Giải Tích
đổi hàng hóa mà các chuyến vượt biển đến với các nước phương Đông trở nên
thường xuyên. Chính vì thế tầm nhìn của họ cũng được mở rộng, những thành tựu
văn hóa của Ai Cập, Babilon đã làm cho người Hy Lạp ngạc nhiên. Tất cả các lĩnh
vực, những yếu tố của nước bạn đều được người Hy Lạp đón nhận, “Những người
Hy Lạp mãi mãi là đứa trẻ nếu không hiểu biết gì về Ai Cập”.
Trong thời đại này Hy Lạp đã xây dựng được một nền văn minh vô cùng xán
lạn với những thành tựu rực rỡ thuộc các lĩnh vực khác nhau. Chúng là cơ sở hình
Đã xây dựng nên phép biện chứng chất phác, hoang sơ.
- Coi trọng vấn đề về con người.
Triết học cổ Hy Lạp mang tính duy vật tự phát và biện chứng sơ khai. Tách ra
khỏi yếu tố thần linh thống trị con người từ xưa, đỉnh cao của triết học cổ Hy Lạp là
triết gia Socrate. Ông đã đề cập đến thân phận con người. Đa phần các triết gia có
xu hướng hướng ngoại thì Socrate quay về hướng nội, ông đã đề cập đến đạo đức
con người.
2.2 -Các trường phái triết học Hy Lạp cổ đại
Ta lần lượt xét một số nhà triết học duy vật Hy Lạp cổ đại tiêu biểu:
2.2.1-Trường phái Milê
Trường phái triết học Milê là trường phái của các nhà triết học đầu tiên xứ
Lonie, một vùng đất nổi tiếng của Hy Lạp. Nằm chạy dài trên miền duyên hải Tiểu
Á, nằm giữ huyết mạch giao thông, là cửa mở đi về phương Đông, và là trung tâm
kinh tế, văn hóa của thời kỳ chiếm hữu nô lệ. Nơi đây được xem là quê hương của
nhiều trường phái triết học của triết gia nổi tiếng.
10
Nguyễn Thị Vân – K16 Toán Giải Tích
Trường phái này do ba nhà triết học lập nên như: Talet, Anaximăngđrơ và
Anaximen. Đóng góp quan trọng nhất của trường phái này là đã đặc nền móng do
sự hình thành các khái niệm triết học để các triết gia sau này tiếp tục bổ xung và
làm phong phú thêm những khái niệm đó như khái niệm chất, không gian, sự đấu
tranh của các mặt đối lập v.v… Một điều đáng quý nữa là các triết gia đã xuất phát
từ thế giới để giải thích thế giới, khẳng định thế giới xuất phát từ một thời nguyên
vật chất duy nhất.
•
Nguyễn Thị Vân – K16 Toán Giải Tích
là từ một dạng vật chất đơn nhất, vô định, vô hạn và tồn tại một cách vĩnh viễn: đó
là Apeiron. Các triết gia thời cổ đại đã có những giải thích khác nhau về Apeiron:
đó là vật mang tính vật chất; là hỗn hợp của các yếu tố như đất, nước, lửa, không
khí; là cái trung gian giữa lửa và không khí; là cái không xác định (Arixtôt).
Apeirôn không chỉ là nguồn gốc sinh ra mọi vật mà còn là cơ sở vận động của vạn
vật. Apeirôn là nguồn gốc sinh ra mọi cái, đồng thời là nguồn gốc và sự thống nhất
của các sự vật đối lập nhau: nóng-lạnh, sinh ra- chết đi,... toàn bộ vũ trụ tồn tại như
một vòng tuần hoàn biến đổi không ngừng.
Ông cũng tiên đoán về nguồn gốc sự sống, cho rằng, mọi vật trên trái đát đèu
xuất hiện dưới biển sau đó một số lên trên cạn sinh sống. con người sinh ra từ một
loài cá to, líc nhỏ sống dưới nước, sau đó lên trên cạn sinh sống
Giá trị:
Như vậy, so với Talet, Anaximăngđrơ có một bước phát triển xa hơn trong sự
khái quát trừu tượng về phạm trù vật chất. ở Talet, vật chất đầu tiên là nước mang
tính ít trừu tượng hơn so với ở Anaximăngđrơ là Apeirôn - một chất vô định hình
mà người ta không thể trực quan thấy được. Lần đầu tiên trong lịch sử Hy Lạp cổ
đại, vật chất không bị đồng nhất với vật cụ thể. Đó là bước tiến mới trong tư duy
trừu tượng của người Hy Lạp.
Quan niệm về nguồn gốc sự sống của ông tuy là một quan niệm ngây thơ, chất
phác, nhưng nó cũng có những tác dụng nhất định vào thời ấy, giúp chống lại thế
giới quan tôn giáo đương thời.
Hạn chế:
Cũng như Talet, chịu ảnh hưởng các quan niệm thần thoại và tôn giáo, khẳng
định điểm tận cùng giới hạn của thế giới. mọi sinh vật theo ông đèu sinh ra từ
Apeirôn và có lỗi lầm với nhau những lỗi lầm của chúng phá vỡ các chuẩn mực và
giới hạn của chúng. Mọi cái cuối cùng đều trở thành Apeirôn.theo nghĩa này,
Apeirôn trở thành một cái ít nhiều mang tính thần bí.
•
tìm ra một bản nguyên vật chất đẻ giải thích thế giới như một chỉmh thể thống nhất
của các dự vật muôn màu, muôn vẻ. mặc dầu còn mộc mạc ngây thơ, song những
quan niệm của họ đã đặt ra nèn móng cho sự phát triển của các tư tưởng duy vật
trong thời kì về sau.
2.2.2-Trường phái Hªraclit : (520-460 tr. CN)
Do nhà ẩn dật Hêraclit sáng lập. Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình quý
tộc chủ nô ở thành phố Ephetdơ. Ông sớm trở thành một nhà triết học duy vật thể
13
Nguyễn Thị Vân – K16 Toán Giải Tích
hiện rõ các tư tưởng biện chứng chất phát từ thời cổ Hy Lạp. Ông coi bản nguyên
của thế giới là lửa. Vũ trụ không phải do Thượng Đế hay một lực lượng siêu nhiên
nào đó tạo ra, mà nó “đã” và “đang” sẽ mãi mãi là ngọn lửa vĩnh hằng không ngừng
bùng cháy và lụi tàn. Tàn lụi và bùng cháy theo cái logos tức là “quy luật, trật tự”
nội tại của chính mình. Ông xem thế giới “vừa tồn tại vừa không tồn tại”, “không
ai tắm hai lần trong một dòng sông”. Thế giới vật chất “vừa đa dạng vừa thống
nhất, vừa mang tính hài hòa vừa xung đột”.
Như vậy, Hêraclit là nhà triết học đã nêu lên các phỏng đoán thiên tài về quy
luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, mà sau này Marx đã đề cập và đi
sâu. Phép biện chứng duy vật chất phát là đóng góp của triết học Hêraclit vào kho
tàng tư tưởng của nhân loại. “Thế giới chỉ là ngọn lửa đang bập bùng cháy suốt
ngày đêm”.[4]
2.2.3-Trường phái đa nguyên
Để giải thích tính đa dạng của vạn vật trong thế giới theo tinh thần duy vật
Empedocles ( 490 – 430 TCN ) và Anaxagoras ( 500 – 428 TCN ) cố vượt qua quan
niệm đơn nguyên sự khai minh của các trường phái như Milet - trường phái
Héraclite xây dựng quan niệm đa nguyên về bản chất của thế giới vật chất đa dạng.
nguyên tử chỉ khác nhau về kích thước và hình thức, sở dĩ có những sự vật khác
nhau là vì có những hình thức sắp xếp khác nhau của các nguyên tử.
Tán thành quan niệm về tồn tại của Pácmênít nheng khác với Pácmênít ở chỗ,
ông không phủ nhận cái không- tồn tại. theo ông, cái không -tồn tại chính là khoảng
chân không -“không gian rỗng” nhờ có không gian rỗng này mà mà các nguyên tử
và các vật thể có thể vận động, kết hợp và phân tán. ông hiểu sự vận động là sự thay
đổi vị trí trong không gian.
Lơxíp đã đè cập đén tính nhân quả tất yếu trên quan điểm luận duy vật, chống
lại mục đích luận của chủ nghĩa duy tâm. ông khẳng định: “không mọt sự vật nào
phát sinh một cách vô cớ mà tất cả đều phát sinh trên một căn cứ nào đấy, và do
tính tất nhiên”.
Giá trị:
Ông là người đầu tiên nêu len học thuyết nguyên tử, đã đua triết học Hy Lạp cổ
đại lên một tầm cao mới. Mà giá trị của học thuyết này vẫn còn đén ngày nay
Hạn chế:
Tuy học thuyết của ông là một tiên đoán tuyệt vời, nhưng ông cũng không thể
tránh khỏi những hạn chế như các nhà triết học thời trước, do trình độ khoa học thời
này còn thấp, đó là triết học của ông mang nặng tính chất phác, thô sơ.
• Đêmôcrit(460-370 tr.CN):
15
Nguyễn Thị Vân – K16 Toán Giải Tích
Là học trò giỏi của Lơxíp. ông đã đén Aicập, Babilon, Ânđộ tìm hiểu và đã tiếp xúc
với những tri thức triết học xuất hiện ở phương đông cổ đại. ông hiểu xâu rộng
nhiều lĩnh vực: triết học, đạo đức học, mỹ học, ngôn ngữ học, kỹ thuật, âm nhạc.
những nhà nghiên cứu về Đêmôrít cho rằng, ông đã viết được 70 tác phẩm về các
lĩnh vực nói trên. theo đánh giá của Mác và Ăngghẻntong tác phẩm “Hệ tư tưởng
trống rỗng, nó không chịu ảnh hưởng gì các sự vật (tức cái tồn tại) trong nó cả.
Giữa tồn tại và không tồn tại có những đặc tính khác nhau. Các nguyên tử thì
đậm đặc hoàn toàn, còn khoảng không lại hoàn toàn trống rỗng. Các nguyên tử thì
rất đa dạng trong khi khoảng không lại thuần nhất. Các nguyên tử bao giờ cũng có
kích thước hình dạng nhất định (Đemôcrit chưa đạt đến quan niệm nguyên tử có
khối lượng) nhưng khoảng không lại vô tận và không có hình dạng nào cả.
Ông đã nêu ra lý thuyết về vũ trụ học. Lý thuyết này được xây dựng trên cơ
sở lý luận nguyên tử về cấu tạo của vật chất, thấm nhuần tư tưởng biện chứng tự
phát và có ý nghĩa đặc biệt trong lịch sử triết học. Theo ông, dẹ xuất hiện cảu vô số
những thế hình thành vũ trụ và tất cả những biến đổi xảy ra trong tự nhiên đèu là sự
kết hợp khác nhau (tật hợp, phân tán ) cuả những nguyên tử vận động trong chân
không và tuân theo tính tất nhiên của tự nhiên. trong không gian vô tận của vũ trụ,
những nguyên tử vận động, rung chuyển về mọi phía, xô đi đảy lại lẫn nhau và làm
thành những cơn lốc nguyên tử, đẩy các nguyên tử nặng to vào tâm, các nguyên tử
nhẹ và nhỏ hơn ra vùng ngoại biên, nhờ đó các hành tinh và cả trái đất được hình
thành. Sự kết hợp trong cơn lốc đó như làn sóng biển đánh vào bờ, làm cho những
viên đá có hình thù cùng loại (dài, tròn) dồn thành từng đám từng lớp trên bãi biển.
Do các vận động đó các nguyên tử có cùng một kích thước, cùng một hình thức kết
hợp với nhau tạo thành: lửa, đát, nước, không khí. Trong thế giới mọi sự vật đều
luôn luôn quy tụ về trung tâm do trọng lượng của chúng. Đemôcrit khẳng định: vũ
trụ vô tận và vĩnh viễn, có vô số thề giới vĩnh viễn phát sinh phát triển và bị tiêu
diệt.
Quan niệm về sự vận động:
Quan điểm của Đemôcrit về vận động, gắn liền với vật chất là một phoán
đoán thiên tài có giá trị đặc biệ. Theo ông vận động của nguyên tử là vĩnh viễn, và
ông đã cố gắng giải thích nguyên nhân vận động của nguyên tử ở bản thân nguyên
tử, ở động lực tự thân, tự nó, còn khoảng trống chân không là điều kiện vận động
của nó. Tuy nhiên, Đêmôcrit đã không lý giải được nguồn gốc của sự vận động.
không phải là một hiện tượng tinh thần, ý thức mà là một hiện tượng vật chất. ông
bác bỏ quan niệm tôn giáo về linh hồn cho rằng linh hồn bất tử và cho rằng linh hồn
có thể chết cùng với cái chết của con người.
18
Nguyễn Thị Vân – K16 Toán Giải Tích
Nhận thức luận:
Đêmôcrit cho rằng trên thực tế chỉ tồn tạ các sinh vật khác quan do nguyên
tử tạo ra, còn tất cả những ccái như mùi vị, màu sắc, âm thanh.. chỉ tồn tại trong
cảm nhận của con người, là kết quả tác động của các nguyên tử lên các giác quan
của chúng ta.
Khác với các nhà triết học trước đây phủ nhận vai trò của nhận thức cảm
tính, tuyệt đối hoá vai trò của nhận thức lý tính, ông chia nhận thức của con người
thành hai dạng: nhận thức mờ tối là dạng nhận thức cảm tính, do các giác quan đem
lại; và dạng nhận thức chân lý thông qua những phoán đoán lôgic, đó là dạng nhận
thức được bản chất của sự vật.
Hai dạng nhận thức trên có liên hệ chặt chẽ với nhau và đều có vai trò quan
trọng, nhưng dạng nhận thức chân lý đáng tin cậy hơn. đêmôcrit gọi dạng nhận thức
mờ tối là nhận thức theo “dư luận chung”; vì theo ông những cảm giác như mùi vị,
màu sắc, âm thanh là những cảm giác phổ biến mà mọi người đều cảm nhận được
một cách dễ dàng khi nhận thức. đó là nhận thức chân thực nhưng còn mờ tối vì
chưa nhận thức được cái bên trong, cái sâu kín cảu sự vật. chỉ có dạng nhận thức
chân lý mới có khả năng nhậm thức được bản chất của sự vật. Vì thế, con người
không thể dừng lại ở nhận thức mờ tôi mà phải đi sâu hơn đẻ nhận thức được cái
bản chất sự vật, đó là chức năng của nhận thức chân lý.
Trong lý luận nhận thức của mình, Đêmôcrit đã nêu ra khái niệm “hình
tượng” hay còn gọi là “Iđôlơ”. mác đã giải thích “Iđôlơ” của Đêmôcrit là cái vỏ
bảo vệ chế độ dân chủ chủ nô.
Giá trị:
Với những thành tựu rực rỡ của mình, Đêmôcrit đã đưa chủ nghĩa duy vật
lên một đỉnh cao mới:
Học thuyết nguyên tử của ông là một tien đoán thiên tài mà cho đến nay nó
vẫn giữ nguyên giá trị, các nhà khoa học hiện đại đã chứng minh một số quan điểm
của ông là đúng. Ngoài ra quan điểm về nguồn gốc vũ trụ cũng có một số giá trị
nhất định. Tuy dưới ánh sáng của khoa học, thì quan niệm của Đêmôcrit là sai lầm;
nhưng nó đã góp phần chống lại thế giới quan tôn giáo, duy tâm đang thống trị thời
đó.
20
Nguyễn Thị Vân – K16 Toán Giải Tích
Quan điểm về vận động của ông cũng là một phoán đoán có giá trị đặc biệt.
Theo đó ông đã đi tìm nguồn gốc của sự vật động ở trong chính thế giới vật chất.
đây là một quan điểm đúng đắn mà sau này các nhà triết học Macxit đã công nhận.
Quan điểm quyết định luận cũng là một quan điểm của ông có giá trị đã đóng
góp cho nền triết học Hy Lạp cổ đại. quan điểm này đã chống lại quan điểm mục
đích luận, thế giới quan duy tâm và tôn giáo.
Về quan điểm nguồn gốc của con người cũng có giá trị nhất định. Nó cũng
chống lại chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo.
Ông đã đưa lý luận nhận thức duy vật lên một bước mới. Khác với các nhà
triết học trước, Đêmôcrit không phủ nhận vai trò của nhận thức cảm tính, tuyết đối
hoá vai trò của lý tính. đây cũng là một quan điểm đúng đắn mà sau này các nhà
triết học Macxit cũng công nhận.
Ngoài ra, các quan niệm của ông còn có vai trò quan trọng trong chủ nghĩa
vô thần, đó là những quan điểm về nguồn gốc, phủ nhận sự tồn tại của thần linh.
Arixtốt là nhà triết học lớn nhất, bộ óc bách khoa của triết học Hy Lạp cổ
đại. ông sinh ở Stagirơ, năm 17 tuổi đến Aten học ở viện hàn lâm của Platôn, sau đó
trở thành thầy giáo của viện. ông rất yêu người thầy của mình Platôn, nhưng cái mà
ông yêu nhất chính là chân lý. Vì thế ông đã bác bỏ nhiều quan điểm của Platôn. su
khi Platôn qua đời ông đã dời bỏ viện hàn lâm. ông đã để lại cho nhân loại nhiều tác
phẩm thuộc nhiều lĩnh vực: lôgic học, triết học, vật lý học, khoa học xã hội...
Các quan điểm:
Quan điểm về đối tượng của triết học:
Arixtot coi giới tự nhiên với những sự vật vô cùng đa dạng là đối tượng của
vật lý học (Phisica - thuyết về giới tự nhiên) đây được coi là “triết học thứ hai”. Nó
nghiên cứu dạng cụ thể của thế giới vật chất. để khám phá bản chất đích thực của
tồn tại nói chung, lý giải cụ thể các vấn đề nguồn gốc, bản chất của thế giới.. thì cần
có triết học thứ nhất tức siêu hình học. Theo cách hiểu của Arixtot, siêu hình học là
một khoa học ít nhiều mang tính thần thánh vì đối tượng nghiên cứu của nó là
những cái thần thánh, trong đó có cả thượng đế.
Nhưng thượng đế là một trong những đối tượng nghiên cứu của triết học thứ nhất,
khoa học nghiên cứu các khởi nguyên của tồn tại nói chung. Nếu các khoa học khác
nghiên cứu ccs sự vật của giới tự nhiên, dạng cụ thể đang vận động và biến đổi
không ngừng; thì triét học thứ nhất nghiên cứu những gì có tính vĩnh hằng trong thế
22
Nguyễn Thị Vân – K16 Toán Giải Tích
giới hiện thực, vì thế nó là nền tảng của mọi lĩnh vực thế giới quan khác của con
người.
Các quan điểm phê phán Platôn:
Thứ nhất, ông phản đối quan điẻm của Platôn coi các ý niệm như một dạng
tồn tại độc lập, tối cao, còn mọi sinh vật cảm tính của thế giới chúng ta đều tồn tại ở
với những bức tượng, bạc đối với cốc chén. Trong đó hình dạng, là cơ bản nhất, là
thực chất của tồn tại, là bản chất của sự vật, bởi chính nhờ hình dạng mà các vật
chất hiện thực hoá thành các sự vật thực tế. Nếu thiếu hình dạng thì vật chất chỉ tồn
tại ở dạng tiềm năng (khả năng)- ở trạng thái mà ông gọi là không tồn tại, vo định
hình. ví dụ: kiến trúc sư thiết kế nhà cửa và bản thân nghệ thuật kiến trúc là nguyên
nhan vạn động, bản đồ hoạ là hình dạng; vật liệu xây dựng là vật chất; toà nhà hình
thành là mục đích. ông xem sự phát triển của tự nhiên giống như hoạt động sản xuất
của con người. Quan niệm đó đẫ đưa ông đến sai lầm cho rằng, trong tự nhiên, hình
dạng (nguyên nhân tích cực) là cái có trước vật chất (nguyên nhân bị động). ông
quan sát tự nhien phỏng theo hoạt động vật chất của con người, không thấy được sự
khác nhau về chất giữa tự nhiên và sinh hoạt xã hội. Hơn nữa, quan niệm của ông
đã xa vào chủ nghĩa duy tâm là thừa nhận “hình dạng của tất cả mọi hình dạng” là
xuất phát từ thần thánh- là thần thánh; đó là nguyên nhân tận cùng, là mục đích của
tất cả mọi hiện tượng tự nhiên. cuối cùng với lập trường duy tâm đó, ông đưa toàn
bộ thế giới vào một cuộc vận động có mục đích.
Arixtốt là một nhà mục đích luận, khẳng định tính mục đích trong sự phát
triển của mọi sự vật. Nhưng tính mục đích trong học thuyết của ông khác với của
xôcrat và platôn: trong học thuyết của platôn và xôcrat thì mục đích là một cách chủ
quan, giải thích mọi cái theo hướng có lợi cho con người, quy mọi quá trình vận
động kết quả của sự vật là theo ý muốn của con người; còn Arixtốt hiểu mục đích
theo nghĩa khác quan hơn. dưới con mắt của ông, mọi vật đều phát triển theo trình
tự, quy luật và xu hướng của chúng, tức là có mục đích nhất định theo sự sắp đặt
trước của thượng đế.
Những ý tưởng thần học và mục đích luận của Arixtôt gần gũi với quan điểm
của Platôn và được chủ nghĩa kinh viẹn trung cổ sử dụng. tuy nhien quan điểm duy
tâm của Arixtốt khác với học thuyết duy tam của Platôn: platôn xây dựng một hệ
thống chủ nghĩa duy tâm còn Arixtốt đề ra quan điểm duy tâm tự mâu thuẫn với xu
hướng duy vật trong triết học tự nhiên của mình.
thể và ở ngay trong một cơ thể nhất định”. Với con mắt trực quan của người cổ đại,
ông cho rằng linh hồn trú ngụ tại trái tim của con người.
25
Nguyễn Thị Vân – K16 Toán Giải Tích
Là một nhà triết học có xu hướng tổng kết và hệ thống hoá các tri thức của loài
người, trong lĩnh vực này ông cho rằng linh hồn có các loại: linh hồn thực vật có
hoạt động sinh dưỡng và hoạt động sinh sản; linh hồn có cảm giác, có biểu tượng
cảm tính; linh hồn lý tính của con người. Phân loại như vậy chéng tỏ Arixtốt đã cảm
nhận sự khác nhau về trình độ của các loại hình thức phản ánh
Lý luận nhận thức:
Theo ông, quá trình tư duy diễm ra như sau: cơ thể - tác động bên ngoài cảm giác - tưởng tượng - tư duy. Mỗi khâu trong quá trình này đèu quan hệ mật
thiết với nhau, khâu sau không thể thiếu khâu trước.
Lý luận nhận thức của Arixtot là một đóng góp và là một bước tiến quan
trọng trong lịch sử triết học:
Khác với Platôn, coi “ý niệm” là đối tượng của nhận thức, Arixtot coi thế
giới khách quan là đối tượng của nhận thức, là nguồn gốc của kinh nghiệm và của
cảm giác; tự nhiên là tính thứ nhất còn tri thức là tính thứ hai. Tri thức được lấy từ
cảm giác về những sự vật đơn nhất. ông cũng phê phán nhận thức luận của Platôn là
thoát ly cuộc sống và cho rằng, cần phải rút ra những tri thức từ việc nghiên cứu
cuộc sống và tự nhiên; nhiệm vụ của khoa học là phải phát hiện ra cái tất yếu của tự
nhiên và cái tất yếu đó phải trở thành những khái niệm chung. ông coi cảm giác là
điểm khởi đầu trên con đường hìh thành tư duy và xuất hiện theo một quá trình sau:
cảm giác - biểu tượng - kinh nghiệm - nghệ thuật - khoa học.
Thành tựu nổi bật của Arixtot trong lý luận nhạn thức ở chỗ, ông coi nhận
thức là một quá trình:từ cảm tính đến lý tính, cũng là qua trình đi từ cảm giác đơn
lẻ, ngẫu nhiên đến tư duy trừu tượng; từ khái niệm đến phạm trù quy luật.