Huế - Làng nón bài thơ Tây Hồ
Khi nhắc đến hình ảnh o gái Huế, mọi người đều không quên tà áo dài tím thướt
tha sánh cùng chiếc nón lá trắng xinh, che nghiêng trong nắng. Nơi ấy, chứa đựng
cả một dáng hình đất nước, dù đi xa ai cũng gắng quay về. Vì thế, trong nhiều địa
danh đẹp và thơ của Huế, người đến du ngoạn nơi đây cũng không quên ghé thăm
làng nón Bài thơ Tây Hồ, để tận mắt nhìn thấy những chiếc nón duyên dáng đã
được ra đời từ bàn tay khéo léo của con người đất cố đô như thế nào.
Làng Tây Hồ nằm bên dòng sông Như Ý, thuộc xã Phú Hồ, huyện Phú Vang, tỉnh
Thừa Thiên Huế. Không biết tự bao giờ, làng đã bắt đầu nghề làm nón bài thơ.
Người ta chỉ biết rằng trải qua bao sự thăng trầm lịch sử làm nón vẫn là cái nghề,
là nghiệp phải noi theo của bao thế hệ người làng Tây Hồ.
Nguyên liệu để làm nên một chiếc nón bài thơ xứ Huế rất đơn giản, chỉ bằng lá
dừa và lá gồi. Để có một chiếc nón bài thơ vừa nhẹ vừa đẹp, người ta phải thực
hiện khoảng 15 công đoạn từ lên rừng hái lá, rồi sấy lá, mở, ủi, chọn lá, xây độn
vành, chằm, cắt lá, nức vành, cắt chỉ Để có được lá đẹp, người ta thường lên
rừng chọn loại lá non (của cây Bồ Qui Diệp) có màu xanh nhẹ, sau đó đem phơi
sương qua đêm để lá dịu lại. Tiếp theo, người ta ủi lá cho phẳng, chuẩn bị khung
để chằm nón. Khung này bao gồm 6 cây sườn chính, dựa trên đó người ta bố trí 16
nan tre được vót nhỏ uốn quanh khung hình chóp nón. Khi làm nón bài thơ, người
ta chỉ làm 2 lớp lá, ở giữa là những thắng cảnh và các câu thơ hay. Để bền hơn
người ta lót thêm một lớp lá đót. Cuối cùng là cắt phần lá thừa, làm quai và phết
một lớp mỏng sơn dầu để chống thấm.
Chiếc nón bài thơ xứ Huế tuy đơn giản nhưng mang trong nó là một tấm lòng, một
tình yêu quê hương đất nước, nhẹ nhàng đi vào thơ ca:
“Áo trắng hỡi thuở tìm em chẳng thấy
Nắng mênh mang mấy nhịp Trường Tiền
Nón rất Huế nhưng đời không phải thế
Mặt trời lên từ phía nón em nghiêng”
Hình ảnh o gái nhỏ xinh trong tà áo dài mang sắc tím, trên đầu là chiếc nón
bài thơ, dịu dàng trên đường phố Huế đã để lại biết bao xúc cảm cho người đến
với mảnh đất cố đô này. Đến đây, bạn không chỉ tận hưởng được không khí cổ
Có thể nói, nón bài thơ là sản phẩm đặc trưng nổi tiếng ở riêng Huế. Nó không
chỉ đơn thuần là vật đội đầu để che mưa che nắng mà còn là vật để làm duyên,
trang điểm thêm cho vẻ đẹp dịu dàng, đáng yêu của những cô gái Huế. Vì thế
chiếc nón Huế đã đi vào nhạc, vào thơ, vào những bức tranh, bức ảnh. Những văn
nghệ sỹ đến, làm nên tác phẩm rồi đi mà vẫn hẹn lòng quay lại bởi niềm hứng
khởi trước những vẻ đẹp duyên dáng dịu dàng của người con gái Huế cùng mảnh
đất Huế thân yêu.
- Làng rèn Hiền lương
Hiền Lương là một làng cổ hình thành từ giữa thế kỷ XV, dưới thời Hậu Lê,
nay thuộc xã Phong Hiền, huyện Phong Điền, ở bờ Bắc trung lưu sông Bồ. Nơi
đây dân làng vốn thành thạo nghề rèn truyền thống, một nghề quan trọng
chuyên sản xuất các loại nông cụ rèn từ sắt như cày, cuốc, liễn, hái, dao, rựa,
phăng, mỏ xay…
Ngược về quá khứ, ngoài nghề rèn nông cụ, vào cuối thời chúa Nguyễn bước
qua thời Tây Sơn và triều Nguyễn, với tay nghề rèn khéo léo, các dân đinh làng
thường được tuyển mộ, trưng tập vào Dã Tượng cuộc (một tổ chức thợ rèn nhà
nước chuyên chế tác vũ khí, vật dụng của phủ chúa, vương triều). Một số
người xuất sắc đã trở thành những vị quan quản lý, đốc công ở tổ chức này hay
ở sở vũ khố của bộ Công (sở sản xuất binh khí và vật dụng) như các ông
Hoàng Văn Gia, Hoàng Văn Cẩn, Hoàng Văn Lịch. Đặc biệt ông Hoàng Văn
Lịch, giữ chức Đốc công sở vũ khí tại Kinh thành Huế, vào năm 1838 đã tổ
chức đóng thành công chiếc tàu thủy với cỗ máy hơi nước tái tạo từ bộ máy và
chiếc tàu thủy mua của Tây phương đã bị hỏng. Hai năm sau, lại đóng thành
công 2 chiếc tàu thủy lớn hơn, được vua Minh Mạng ban thưởng. Điều đó
khẳng định tay nghề xuất sắc của các hiệp thợ rèn Hiền Lương, và hướng phát
triển mới của nghề này.
Do nhu cầu phát triển nghề nghiệp, cư dân làng tỏa đi sinh sống, làm nghề
khắp các làng xã ở Thừa Thiên Huế, và đặc biệt là khắp các thị xã, thị trấn từ
Quảng Trị vào Nam. Một số ít vẫn giữ nghề rèn nông cụ, và đa số đã mở rộng,
chuyển đổi nghề nghiệp thích ứng với nhu cầu mới của xã hội, như các nghề cơ