Nghiên cứu một số đặc điểm khu hệ Bò sát, Ếch nhái vườn quốc gia Pù Mát - Pdf 20

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình khoá học, cùng với sự nhất trí của trường Đại
học Lâm nghiệp, khoa Quản lý tài nguyên rừng và môi trường, tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu một số đặc điểm khu hệ Bò sát, Ếch nhái vườn
quốc gia Pù Mát". Luận văn được thực hiện từ ngày 18/02/2008 đến ngày
25/04/2008.
Nhân dịp này, cho tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo ThS.
Đỗ Quang Huy, chủ nhiệm bộ môn Động vật rừng, đã trực tiếp hướng dẫn tôi
cùng các thầy cô giáo trong khoa Quản lý tài nguyên rừng và môi trường. Cảm
ơn các cán bộ, công nhân viên chức VQG Pù Mát đã giúp đỡ và tạo mọi điều
kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài này tại địa phương.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song do năng lực và kinh nghiệm bản thân
còn nhiều hạn chế nên bài luận văn tốt nghiệp này chắc chắn sẽ không tránh khỏi
những thiếu sót, tôi rất mong được sự chỉ bảo từ phía thầy cô giáo và sự đóng
góp ý kiến của các bạn đồng nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà tây, ngày 09 tháng 05 năm 2008
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Văn Vinh
Phần 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tài nguyên động vật rừng Việt Nam không những phong phú và đa dạng
mà còn có tính đặc hữu cao. Đây là tiềm năng thực sự góp phần làm nền tảng
cho chiến lược bảo vệ và phát triển bền vững đa dạng sinh học Việt Nam.
Động vật trong các hệ sinh thái rừng nhiệt đới ở nước ta đã từng là nguồn
cung cấp thực phẩm, nguồn dược liệu độc đáo mà nhân dân sử dụng từ thế hệ
này đến thế hệ khác. Nhiều sản phẩm từ động vật rừng được sử dụng làm nguyên
liệu để chế biến các mặt hàng tiểu thủ công nghiệp và mỹ nghệ được ưa thích
trên thị trường. Một số loài động vật có vai trò quan trọng trong nghiên cứu khoa
học nhằm tìm ra các nguyên lý, các cơ chế sinh học, sinh lý học, phục vụ cho
việc phòng và chữa bệnh, nâng cao sức khoẻ cộng đồng. Đặc biệt đó là ngân

Quản lý tài nguyên rừng và môi trường, đặc biệt thầy giáo ThS. Đỗ Quang Huy
tôi tiến hành làm đề tài: "Nghiên cứu một số đặc điểm khu hệ Bò sát, Ếch nhái
vườn quốc gia Pù mát".
Mục tiêu của đề tài: nhằm đánh giá thành phần loài Bò sát, Ếch nhái của
khu vực, đánh giá tính đa dạng sinh học, xác định mật độ, sự phân bố của các
loài theo sinh cảnh và đai cao, xác định được giá trị tài nguyên, công tác tổ chức
quản lý từ đó làm cơ sở đưa ra các giải pháp quản lý bảo vệ và kinh doanh rừng
một cách hợp lý, đạt hiệu quả kinh tế cao, tạo ra sự phát triển bền vững.
3
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1. Lược sử nghiên cứu Bò sát, Ếch nhái ở Việt Nam
Nghiên cứu về Bò sát, Ếch nhái ở Việt Nam bắt đầu từ khi Morice (1875)
lập nên danh sách các loài Bò sát, Ếch nhái thu được mẫu ở Nam Bộ mở đầu cho
các công trình nghiên cứu khoa học về nhóm động vật này ở nước ta vào thế kỷ
19. Những nghiên cứu về Bò sát, Ếch nhái tiếp theo ở Bắc Bộ có J. Anderson
(1878), ở Nam Bộ có J. Tirant (1885), G. Boulenger (1890), Flower (1896). Tuy
nhiên các nghiên cứu ở thời kỳ này được các tác giả nước ngoài tiến hành chủ
yếu điều tra khu hệ Bò sát, Ếch nhái, xây dựng danh lục Bò sát, Ếch nhái các
vùng: Tirant (1985), Boulenger (1903), Smith (1921, 1923, 1924). Trong đó
đáng chú ý là các công trình của Bourret R. và các cộng sự trong khoảng thời
gian từ 1924 đến 1944 đã thống kê, mô tả được 177 loài và loài phụ Thằn lằn,
245 loài và loài phụ Rắn, 44 loài và loài phụ Rùa trên toàn Đông Dương, trong
đó có nhiều loài của miền Bắc Việt Nam (Bourret R. 1936, 1941, 1942). Đáng
chú ý là những công trình nghiên cứu của Bourret R có nói nhiều đến Bò sát,
Ếch nhái Bắc Trung Bộ. Ông công bố và bổ sung nhiều loài cho danh lục Bò sát,
Ếch nhái (Bourret R. 1934, 1937, 1939, 1940, 1943).
Từ năm 1954, nghiên cứu về khu hệ Bò sát, Ếch nhái Việt Nam mới được
tiến hành ở Miền Bắc. Đào Văn Tiến (1960) nghiên cứu khu hệ động vật có
xương sống ở Vĩnh Linh đã thống kê được nhóm Bò sát, Ếch nhái có 12 loài.

phân bố địa lý và sinh thái học Ếch nhái bò sát ...
2.2. Lược sử nghiên cứu khu hệ Bò sát, Ếch nhái VQG Pù Mát
Nghiên cứu đa dạng sinh học ở khu vực Vườn quốc gia Pù Mát đang còn
ít được khảo sát. Năm 1992, khảo sát về khu hệ động vật đã được tiến hành để
5
làm cơ sở cho việc xây dựng dự án khả thi Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát. Kết
quả đợt điều tra này, bước đầu đã xác định được 64 loài thú, 137 loài chim, 25
loài bò sát, 15 loài Ếch nhái.
Năm 1998-1999, chương trình “Điều tra đa dạng sinh học toàn diện VQG
Pù Mát” do tổ chức Động thực vật thế giới (FFI) tiến hành với sự tham gia của
Bryan Stuart, Hoàng Xuân Quang đã khảo sát khu hệ Bò sát, Ếch nhái, kết qủa
thu được gồm 23 loài Ếch nhái, 48 loài bò sát.
Năm 2000, Lê Nguyên Ngật, Hoàng Xuân Quang và Nguyễn Quảng
Trường. Điều tra nghiên cứu khu hệ Rùa tại khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Mát
gồm 14 loài.
Năm 2003-2004, chương trình "Điều tra và đánh giá nhanh tính đa dạng
sinh học tại Vườn quốc gia Pù Mát" do tổ chức Động thực vật thế giới (FFI) tiến
hành. Đã điều tra đánh giá đa dạng sinh học khu hệ Ếch nhái và thu được kết qủa
khu hệ lương cư VQG Pù Mát gồm 33 loài.
Luận văn tốt nghiệp của Chu Văn Đại (2006) đã thống kê được 50 loài Bò
sát thuộc 15 họ, 2 bộ. Nguyễn Văn Hào (2006) đã thống kê được 29 loài Ếch
nhái thuộc 6 họ, 1 bộ.
Những kết quả điều tra trên cho thấy VQG Pù Mát có một khu hệ Bò sát,
Ếch nhái đa dạng và đặc trưng cho vùng núi phía Bắc dãy Trường Sơn.
Theo thông tin hiện thời về khu hệ Bò sát, Ếch nhái Bắc Trường Sơn công
bố ở trên thì mới chỉ khoảng 70-80% loài Bò sát, 60-70% loài Ếch nhái phân bố
trong VQG Pù Mát. Hy vọng số còn lại sẽ được các nhà khoa học điều tra trong
thời gian tới.
6
Phần 3

Huyện Anh Sơn gồm 5 xã: Phúc Sơn, Hội Sơn, Tường Sơn, Cẩm Sơn,
Đỉnh Sơn.
3.1.3. Địa hình - địa mạo
7
Khu vực có địa hình phức tạp, chia cắt mạnh. Các đỉnh dông phụ có độ
dốc lớn, độ cao trung bình từ 800 ÷ 1000m, địa hình hiểm trở. Phía Tây Nam của
VQG là nơi có địa hình tương đối bằng, thấp và là nơi sinh sống trước đây cũng
như hiện nay của một số cộng đồng người dân tộc. Ở đó nhiều hoạt động sản
xuất nông lâm nghiệp đã và đang diễn ra. Nằm trong khu vực còn có khoảng
7.057ha núi đá sỏi và phần lớn diện tích nằm ở vùng đệm của VQG, chỉ có
khoảng 150ha nằm trong vùng lõi.
3.1.4. Đất đai, thổ nhưỡng
- Đất đai
VQG Pù Mát nằm trên dãy Trường Sơn Bắc, quá trình kiến tạo địa chất
được hình thành qua các kỷ Palezoi, Đề vôn, Các bon, Pecmi, Tri at...đến
Mioxen cho tới ngày nay. Trong suốt quá trình phát triển của dãy Trường Sơn thì
chu kỳ tạo núi Hecxinin, địa hình luôn bị ngoại lực tác động mạnh mẽ tạo nên 4
dạng địa mạo chủ yếu sau:
+ Núi cao trung bình: Nằm ngay biên giới Việt Lào với vài đỉnh cao trên
2000m. (Phulaileng cao 2711m, Rào cỏ cao 2286m), địa hình vùng này rất hiểm
trở, đi lại cực kỳ khó khăn.
+ Kiểu núi thấp và đồi cao: Kiểu này chiếm phần lớn diện tích của miền
và có độ cao từ 1000m trở xuống, cấu trúc tương đối phức tạp, được cấu tạo bởi
các trầm tích, biến chất, địa hình có phần mềm mại và ít dốc hơn.
+ Thung lũng kiến tạo, xâm thực: Kiểu này tuy chiếm một diện tích nhỏ
nhưng lại thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, độ cao thấp hơn gồm thung lũng
các sông suối khe Thời, khe Choang, khe Khặng (sông Giăng) và bờ phải sông
Cả.
+ Các khối đá vôi nhỏ: Kiểu này phân tán dạng khối, uốn nếp có quá trình
karst trẻ và phân bố hữu ngạn sông Cả ở độ cao 200 - 300m. Cấu tạo phân phiến

C (tháng giêng).
+ Ngược lại trong mùa hè, do có sự hoạt động của gió Tây nên thời tiết rất
khô nóng, kéo dài tới 3 tháng (từ tháng 4 đến tháng 7). Nhiệt độ trung bình mùa
hè lên trên 25
0
C, nóng nhất vào tháng 6 và 7, nhiệt độ trung bình là 29
0
C. Nhiệt
độ tối cao lên tới 42
0
C ở Con Cuông và 42.7
0
C ở Tương Dương vào tháng 4 và
5, độ ẩm trong các tháng này có nhiều ngày xuống dưới 30%.
- Chế độ mưa ẩm:
Vùng nghiên cứu có lượng mưa ít đến trung bình, 90% lượng nước tập
trung trong mùa mưa, lượng mưa lớn nhất là tháng 9, tháng 10 và thường kèm
9
theo lũ lụt. Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Các tháng 2, 3, 4 có mưa
phùn do chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc. Tháng 5, 6, 7 là những tháng
nóng nhất và lượng bốc hơi cũng cao nhất.
+ Độ ẩm không khí trong vùng đạt 85 đến 86%, mùa mưa lên tới 90%.
Tuy vậy nhưng giá trị cực thấp về độ ẩm vẫn thường do thời kỳ nóng kéo dài.
- Thuỷ văn:
Trong khu vực có hệ thống sông Cả chạy theo hướng Tây Bắc đến Đông
Nam. Các di lưu phía hữu ngạn như khe Thơi, khe Choang, khe Khặng lại chạy
theo hướng Tây Nam lên Đông Bắc và đổ nước vào sông Cả.
+ Cả 3 con sông trên đều có thể dùng bè mảng đi qua một số đoạn nhất
định. Riêng khe Choang và khe Khặng có thể dùng thuyền máy ngược dòng ở
phía hạ lưu.

loài nguy cấp (Endangered), 12 loài sắp nguy cấp (Vulnerable), 9 loài hiếm
(Rare), 3 loài bị đe doạ (Threatened) và 12 loài biết không chính xác
(Insufficiently known). Có 20 loài được liệt kê trong Danh lục đỏ của IUCN
(2002) và 1 loài cấp E, 3 loài cấp V và 16 loài cấp R.
+ Tài nguyên thực vật:
Bước đầu đã thống kê được 920 loài thực vật thuộc 7 nhóm công dụng:
- Nhóm cây gỗ (W): Có 330 loài cây cho gỗ thuộc ngành Ngọc lan và
ngành Thông, chiếm 24,44% tổng số loài ghi nhận. Đặc biệt ở đây có nhiều loài
gỗ quý như: Pơ mu (Fokinea hodginsii), Sa mộc Quế Phong (Cunninghamia
konishiii), Giáng hương quả to (Pterocarpus macrocarpus), Gụ lau (Sindora
tonkinensis), Lát hoa (Chukrasia tabularis),… Nhóm gỗ tứ thiết như Đinh
(Markhamia stiputala), Sến mật (Madhuca pasquieri) dùng làm ván sàn, bệ máy,
tàu thuyền. Nhiều loài cây cung cấp gỗ xây dựng, làm đồ gia dụng rất tốt như:
11
Các loài trong họ Ngọc lan, họ Xoan, họ Dẻ và đặc biệt là họ Dầu. Các nhóm
công dụng khác như: Cung cấp vật liệu điêu khắc, làm đệm, sản xuất các văn
phòng phẩm cũng có nhiều loài.
- Nhóm cây thuốc (M): Hiện đã thống kê được 197 loài thực vật dùng làm
thuốc (chiếm 15,2% tổng số loài) thuộc 83 họ thực vật nhau. Các họ có nhiều
loài cây thuốc là: Họ Cà phê (Rubiaceae) 17 loài, họ Cúc (Asteraceae) 13 loài, họ
Thầu Dầu (Euphorbiaceae) 10 loài, họ Cam (Rubiaceae) 9 loài, họ Đơn nem
(Myrsinaceae) 7 loài.
Tuy số lượng họ có nhiều loài lớn nhưng trữ lượng của các loài lại không
cao. Một số loài có triển vọng là Chân chim (Scheffera octophylla), Hà thủ ô
trắng (Streptocaulon griffithii), Thường sơn (Dichroa febrifuga), Củ mài
(Dioscorea persimilis), Thổ phục linh (Smilax glabra), Thiên niên kiện
(Homamena occulta),… Một số loài cây thuốc rất qúy nhưng tiếc rằng hiện rất
hiếm như Hoàng nàn (Strychnos wallichii), Hoàng đằng (Fibraurea recisa), Ba
kích (Morinda officinalis), Bình vôi (Stephania rottunda),...
- Nhóm cây cảnh (O): Nhóm này có 74 loài chiếm 5,4 % tổng số loài trong

Khơ Mú và Kinh. Ngoài ra còn có một số dân tộc khác như: Hơ Mông, Đan Lai,
Poọng, Ơ Đu, Tày nhưng số lượng không lớn. Dân tộc Thái có dân số đông nhất
(chiếm 66,89%) và ít nhất là dân tộc Ơ Đu (chiếm 0,6%).
3.2.2. Dân số và lao động
Tổng dân số 16 xã là 16.945 hộ với 93.235 nhân khẩu. Phần lớn dân cư
phân bố trong 7 xã ở huyện Con Cuông (39.419 nhân khẩu, 7.167 hộ) và 5 xã
thuộc huyện Anh Sơn (38.163 nhân khẩu, 6.938 hộ) còn lại thuộc 4 xã của huyện
Tương Dương (15.753 nhân khẩu, 2.849 hộ), trung bình mỗi hộ gia đình có từ 3 -
6 người, tăng dân số là áp lực lớn đối với rừng. Dân số trong khu vực phân bố
13
không đều giữa các xã, một số xã có dân số rất thấp như xã Tam Hợp huyện
Tương Dương (7 người/km
2
), xã Châu Khê huyện Con Cuông (13 người/km
2
) có
xã mật độ dân số cao như xã Đỉnh Sơn (495 người/km
2
), xã Cẩm Sơn (421
người/km
2
) thuộc huyện Anh Sơn.
Do dân số không đều nên lực lượng lao đông phân bố cũng không đều và
tập trung chủ yếu ở các xã vùng thấp của huyện Anh Sơn. Lực lượng lao động ở
địa phương rất lớn, nhưng cơ cấu các ngành nghề trong khu vực lại rất đơn điệu.
Phần lớn là các hoạt động sản xuất Lâm nghiệp, Nông nghiệp, Chăn nuôi gia
súc, gia cầm, một số ít người làm trong các lĩnh vực khác như Y tế, Giáo dục,
Dịch vụ. Việc dư thừa lao động, đời sống khó khăn khiến người dân đã vào VQG
Pù Mát để khai thác lâm sản.
∗ Sản xuất Lâm nghiệp

rẫy không còn. Nhưng khai thác lâm sản, săn bắt thú rừng vẫn còn phổ biến, các
hoạt động của người dân ảnh hưởng tới tài nguyên rừng và cảnh quan gồm:
- Phát rẫy làm nương gây cháy rừng.
- Khai thác gỗ, củi trái phép.
- Săn bắt cá bằng Mìn, Điên, chất độc trên sông suối phá huỷ môi trường,
huỷ diệt hệ thống động vật thuỷ sinh.
- Chăn thả gia súc quá mức dưới tán rừng.
- Các hoạt động khai thác lâm sản khác như: Lấy Trầm hương, Măng, cây
thuốc, Mật ong, lấy Nứa, cây cảnh...
15
Phần 4
MỤC TIÊU - ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
4.1. Mục tiêu
Đưa ra được bảng danh lục các loài Bò sát, Ếch nhái.
Đánh giá được mật độ, giá trị và sinh cảnh sống của các loài bó sát, Ếch
nhái.
Đề xuất được các giải pháp bảo tồn tài nguyên Bò sát, Ếch nhái một cách
bền vững.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Giới hạn khu vực nghiên cứu: xã Yên Khê thuộc huyện Con Cuông.
Các loài bó sát, Ếch nhái và sinh cảnh sống của chúng ở vườn quốc gia Pù
mát.
4.3. Nội dung nghiên cứu
Căn cứ vào mục tiêu, thời gian và khả năng của bản thân đề tài được
nghiên cứu những nội dung sau:
4.3.1. Điều tra thành phần loài
Điều tra thành phần loài nhằm phát hiện một cách tương đối đầy đủ các
loài Bò sát, Ếch nhái có trong vườn quốc gia Pù mát. Kết quả cuối cùng của phần
này là lập được danh lục Bò sát, Ếch nhái vườn quốc gia Pù mát, đánh giá tính

khu vực nghiên cứu như: phân bố tài nguyên, điều kiện địa hình, các dạng sinh
cảnh chính, từ đó xác định được các tuyến điều tra, các dạng sinh cảnh đó sao
cho có tính khả thi cao nhất.
Thông qua việc điều tra sơ thám chúng tôi xác định được các sinh cảnh
chính sau:
17
1. Sinh cảnh rừng thứ sinh sau khai thác.
2. Sinh cảnh trảng cỏ cây bụi có xen cây gỗ rải rác.
3. Sinh cảnh Khe suối, thuỷ vực.
4. Sinh cảnh nương rẫy làng bản.
5. Sinh cảnh rừng giàu ít bị tác động.
Ta lập các tuyến điều tra đi qua các sinh cảnh trên.
Tuyến số 1: Có tổng chiều dài 2.5km, xuất phát từ trạm kiểm lâm Thác
Kèm đi dọc vào Thác Kèm. Đi qua các dạng sinh cảnh: Rừng giàu ít bị tác động,
rừng thứ sinh sau khai thác, khe suối, vực nước.
Tuyến số 2: Có tổng chiều dài 4.5km, xuất phát từ trạm kiểm lâm Thác
Kèm đi dọc theo Khe Mọi. Đi qua các dạng sinh cảnh: Rừng giàu ít bị tác động,
rừng thứ sinh sau khai thác, khe suối, vực nước.
Tuyến số 3: Có chiều dài 6km, xuất phát từ trạm kiểm Thác Kèm đi ngược
ra Bản Thìn. Tuyến này đi qua các dạng sinh cảnh: Nương rẫy làng bản, trảng cỏ
cây bụi có xen cây gỗ.
Trên các tuyến chính lập thêm một số tuyến phụ đi theo các khe suối nhỏ
đỗ vào khe chính.
4.4.2.2. Điều tra qua người dân và thợ săn
Phỏng vấn nhân dân địa phương, thợ săn kết hợp với việc quan sát thu
thập các mẫu vật còn lưu giữ trong các gia đình và nhà văn hóa...
Kết quả phỏng vấn nhân dân và thợ săn ghi vào biểu 01.
Mẫu biểu 01: Biểu điều tra Bò sát, Ếch nhái qua nhân dân và thợ săn
Ngày phỏng vấn:......................................................................................................
Người phỏng vấn:.....................................................................................................

Tên loài
Sinh cảnh gặp
Sc1 Sc2 Sc3 Sc4 Sc5

%
+ Phân bố theo đai cao
19
Cũng từ kết quả điều tra theo tuyến xác định độ cao ghi kết quả vào biểu
03b.
Người điều tra:....................... Ngày điều tra:..........................................................
Tuyến điều tra:........................ Lần điều tra:............................................................
Sinh cảnh:............................... Điểm điều tra:.........................................................
Mẫu biểu 03b : Biểu điều tra Bò sát, Ếch nhái theo đai cao
STT Tên loài Đai cao(m)
<200 200
÷
40
0
400
÷
60
0
600
÷
80
0
>800

%
c. Điều tra giá trị tài nguyên và mức độ đe doạ

sau đó tiến hành phân tích và sắp xếp danh lục các loài theo các lớp, bộ, họ, loài.
Sử dụng khóa định loại Bò sát, Ếch nhái. Kết quả ghi vào biểu 05.
Mẫu biểu 05: Danh lục Bò sát, Ếch nhái VQG Pù Mát
STT
(1)
Lớp - Bộ - Họ - Loài Nguồn thông tin
Tên Việt Nam (2) Tên khoa học (3) QS
(4)
MV
(5)
ND
(6)
TL
(7)
Ghi chú: QS – quan sát; MV- mẫu vật; ND- nhân dân; TL- tài liệu
4.4.3.2. Đánh giá tính đa dạng phân loại học
Từ bảng danh lục, tổng hợp tài liệu... tiến hành đánh giá theo các nội dung
sau:
- Số bộ, họ, loài phân bố trong các bộ, họ.
- So sánh số bộ, họ, loài Bò sát, Ếch nhái trong VQG với tài nguyên Bò
sát, Ếch nhái ở Việt Nam.
4.4.3.3. Đánh giá mật độ

Đánh giá mật độ thông qua chỉ số phong phú
Căn cứ vào số liệu ngoại nghiệp, chúng ta tiến hành tính toán theo công
thức sau:
A%=
100x
N
n

Phần 5
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
5.1. Thành phần loài
5.1.1 Bảng danh lục Bò sát, Ếch nhái
Căn cứ vào kết quả điều tra, phân tích mẫu vật thu được, phỏng vấn người
dân, dựa vào danh lục Bò sát, Ếch nhái của Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc,
khoá định loại Bò sát, Ếch nhái Việt Nam của Đào Văn Tiến và một số tài liệu
có liên quan cùng với sự giúp đỡ của các thầy, cô giáo trong bộ môn Động vật
rừng. Tôi đã lập được danh lục Bò sát, Ếch nhái VQG Pù Mát.
Biểu 05: Danh lục Bò sát, Ếch nhái VQG Pù Mát
ST
T
Lớp-Bộ-Họ-Loài Nguồn thông tin
Tên Việt Nam
(2)
Tên khoa học
(3)
Q
S
(4)
M
V
(5
)
P
V
(6)
TL
(7)
A. LỚP ẾCH NHÁI AMPHIBIA

13 Chàng sa pa Rana chapaensis
+
14 Ếch xanh Rana livida
+ + + +
15 Chàng Mẫu đơn R. maosonensisn
+
16 Ếch blythi Limnonectes blythii
+
17 Ếch suối Rana nigrovittata
+ + +
18 Cóc nước sần Ooeidozyga lima
+ +
19 Ếch vạch Chaparana delacouri
+
5. Họ ếch cây Rhacophoridae
20 Ếch cây phê Polypedates feae
+
21 Ếch cây mép trắng Polypedates leucomystax
+ + +
22 Ếch cây đốm Rhacophorus notater
+
23 Ếch cây sp Sp
+ +
24 Ếch cây bay Polypedates
+
25 Ếch cây cựa Rhacophorus calcaneus
+
26 Ếch cây orlov Rhacophorus orlovi
+
6. Họ nhái bầu Microhylidae

39 Rùa đất spengle Geoemyda spengleri
+
40 Rùa bốn mắt Sacalia quadriocellata
+
41 Rùa cổ sọc Ocadia sinensis
+ + +
42 Rùa sa nhân Pyxidea mouhotii
+ +
43 Rùa Đất Lớn Heosemys grandis
+
4. Họ rùa núi Testudinidae
44 Rùa núi viền Manouria impressa
+
45 Rùa núi vàng Indotestudo elongata
+ +
II. Bộ có vảy Squamata
1. Họ tắc kè Gekkonidae
46 Tắc kè Gekko gecko
+ + +
47
Thạch sùng đuôi
sần Hemidactylus frenatus
+ + + +
2. Họ thằn lằn
bóng Scincidae
48 Thằn lằn eme chỉ Eumeces quadrilineatus
+
49 Thằn lằn bóng hoa Mabuya multifasciata
+ + +
50

Trích đoạn KẾT LUẬN TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 6.1 Kết luận
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status