VUA TRẦN NHÂN TÔNG VỚI THIỀN PHÁI TRÚC LÂM 2 - Pdf 20

VUA TRẦN NHÂN TÔNG VỚI THIỀN PHÁI TRÚC LÂM
2
Khi vua Trần Thái Tông viết “giáo lý của đức Phật ta phải nhờ tiên thánh mà
truyền lại cho đời”, thì đấy không phải là một lời nói suông buông ra từ cửa miệng
một vị sư hay một người trí thức nào đó. Ngược lại, nó xuất phát từ một vị vua,
một lãnh tụ quốc gia, tất nhiên nó sẽ được phản ảnh trong chính sách văn hóa giáo
dục của chính quyền do vị lãnh tụ ấy đề xuất. Chính sách nhà nước của triều Trần
đối với Nho giáo như thế là một chính sách dùng Nho giáo như một công cụ phục
vụ cho lợi ích của Phật giáo. Phải nhận rõ điều này ta mới thấy trong thời đại Lê
sơ, đặc biệt là thời vua Lê Thánh Tông và trở về sau, thường được cho một cách
sai lầm là thời kỳ “Nho giáo độc tôn”, tại sao đã có những đề thi đình trong đó có
nhiều câu hỏi liên quan đến Phật giáo, nhất là Phật giáo Trúc Lâm. Cụ thể là đề thi
năm 1502, mà người đỗ đầu là trạng nguyên Lê Ích Mộc (1459 -?). Cũng may nhờ
sự bảo lưu được những đề thi này, ta mới biết chút ít về nội dung học và thi của
nền giáo dục Lê sơ, và từ đó đánh bạt được những ngoa truyền về “Nho giáo độc
tôn”.

Truyền thống giáo dục của Việt Nam từ đó là một nền giáo dục tổng hợp. Học
Nho giáo là để phục vụ cho những lợi ích bên ngoài Nho giáo, tức lợi ích Phật
giáo và dân tộc. Đây là một điểm, mà người ta thường không chú ý tới, khi viết về
lịch sử giáo dục và khoa cử Việt Nam. Người ta quên rằng việc dựng nên Văn
miếu vào năm 1069-1070 đã do một người Phật tử thực hiện. Và người Phật tử
này đồng thời cũng là người thành lập dòng thiền Thảo Đường. Chỉ một việc này
thôi cũng cho thấy vua Lý Thánh Tông đã có thái độ như thế nào đối với Nho
giáo. Cho nên, ngày nay tuy không có một văn bản nào ghi lại quan điểm của vua
Lý Thánh Tông, ta vẫn có thể chắc chắn chủ trương của vị vua này chính là chủ
trương “giáo lý của đức Phật ta phải nhờ tiên thánh mà truyền lại cho đời”, như
vua Trần Thái Tông đã phát biểu.

Vì thế, ta hoàn toàn không có gì ngạc nhiên trước việc vua Trần Nhân Tông đã
trao cho Pháp Loa một trăm hộp “kinh sử ngoại thư” cùng với hai mươi hộp “Đại

giảng kinh cùng một số công việc tu trì khác.

Nói khác đi, vua Trần Nhân Tông mong có một người kế thừa gần giống mình. Ta
đã thấy những năm tháng xuất gia của vua là những năm tháng đầy công việc đời
cũng như đạo. Vua hy vọng Pháp Loa cũng có một cuộc sống ít nhiều sôi động
kiểu ấy. Thế nhưng, trong 22 năm còn lại của cuộc đời mình, Pháp Loa chỉ giới
hạn vào công việc Phật giáo là chính. Ngoài ra, ta không thấy có bất cứ dấu hiệu
nào chứng tỏ có tham gia vào các hoạt động thế sự.

Phải chăng vì những hoạt động thuần túy này, mà văn bia Pháp Loa phải hơn 30
năm sau khi mất mới được khắc lên đá, tức vào năm Nhâm Dần Đại Trị thứ 5
(1362)?

Vấn đề quan hệ giữa Pháp Loa và vua Anh Tông theo Thánh đăng ngữ lục và Tam
tổ thực lục là một quan hệ khắng khít tốt đẹp. Tuy nhiên, căn cứ ĐVSKTT 6 tờ
39b4-7, trong những giây phút cuối cùng của cuộc đời mình, vua Anh Tông đã từ
chối gặp Pháp Loa. Rồi nhân việc Pháp Loa mất vào năm 1330, Thánh đăng ngữ
lục tờ 35a2 -8 chép lúc Pháp Loa đau, vua Minh Tông đã tới thăm và khi mất, vua
ban pháp hiệu cũng như làm thơ điếu và sai người đến gặp Huyền Quang nhờ viết
lại ngữ lục và hành trạng của Pháp Loa để cho in. Trong lần in này, vua Minh
Tông đã đề tựa. Tất cả điều này chứng tỏ Pháp Loa có một ảnh hưởng rất lớn đối
với vua Minh Tông. Ta không biết tại sao sau khi vua Minh Tông mất, bản Niên
phổ của Pháp Loa mới được khắc lên bia?

Dẫu sao, thiền phái Trúc Lâm do vua Trần Nhân Tông thành lập đã có người kế
thừa. Trong thời gian từ khi được truyền y bát cho đến lúc mất vào năm 1330, tất
cả nỗ lực của Pháp Loa tập trung chủ yếu vào việc quy y và trao giới cho những
người tại gia cũng như xuất gia, khai sơn chùa Quỳnh Lâm và chùa Tư Phúc cùng
hơn 20 am chùa khác và đặc biệt cho tiến hành chép cũng như in Đại Tạng kinh.
Bản thân Pháp Loa là tác giả của tối thiểu 9 tác phẩm, đó là Tham thiền kỷ yếu,

con người, mà điển hình là đồng tử Thiện Tài với 53 cuộc tham vấn của mình. 53
cuộc tham vấn này được mô tả dưới nhiều dạng khác nhau, từ dạng thế tục nhất
với những chi tiết nam nữ ân ái cho đến dạng siêu thoát nhất qua những tư tưởng
chân xác về quan hệ giữa các sự vật với nhau, mà ngày nay mỗi khi đọc tới ta cảm
thấy hết sức gần gũi. Tính phổ biến của kinh Hoa Nghiêm vào lúc ra đời của thiền
phái Trúc Lâm này không phải là tình cờ ngẫu nhiên. Nó xuất hiện càng làm rõ
thêm tư tưởng Cư trần lạc đạo và phù hợp với tư trào phát triển tư tưởng Cư trần
lạc đạo thành một lối sống mới trong sinh hoạt Phật giáo Việt Nam.

Phải nói rằng sự xuất hiện hệ tư tưởng Hoa Nghiêm đã manh nha từ thời thiền sư
Thường Chiếu (? -1203) với chủtrương tùy tục của vị thiền sư này. Căn cứ vào
Thiền uyển tập anh, để trả lời câu hỏi “pháp thân hiện khắp mọi nơi là thế nào”
của một thiền sinh, Thường Chiếu đã lấy hai đoạn văn từ phẩm Như Lai xuất hiện
trong bản kinh Hoa Nghiêm 80 cuốn do Thật Xoa Nan Đà dịch.1 Ta cũng cần nhớ
rằng Thường Chiếu là thầy của Thông Thiền (?-1228). Và Thông Thiền theo Lược
dẫn thiền phái đồ trong Thượng sĩ ngữ lục tờ 5b6 -7b1 là người đã thành lập nên
“tông môn” Trúc Lâm, mà ta có thể trình bày qua đồ hình sau:

Thông Thiền
Tức Lự
Ứng Thuận
Tiêu Dao
Tuệ Trung
Vua Trần Nhân Tông
Pháp Loa
Huyền Quang

Tư tưởng kinh Hoa Nghiêm có thể nói là một loại lý thuyết hệ thống, trong đó mọi
tồn tại chỉ tồn tại trong tương quan nào đó với các tồn tại khác. Không bao giờ có
một sự tồn tại tự thân, độc lập bên ngoài các tồn tại khác. Dưới ảnh hưởng của một


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status