226 Hoàn thiện Kế toán nghiệp vụ bán hàng tại Công ty Thương mại Dịch vụ Thời trang Hà Nội - Pdf 20

Lời nói đầu
Trong những năm qua, thực hiện đờng lối phát triển kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trờng, theo định hớng xã hội chủ
nghĩa, nền kinh tế nớc ta đã có sự biến đổi sâu sắc và phát triển mạnh mẽ, trong
đó, các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau cùng tồn tại, cạnh
tranh với nhau và bình đẳng trớc pháp luật.
Trớc đây, trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, Nhà nớc can thiệp rất
sâu vào hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Nhà nớc quyết định tất cả
các vấn đề kinh doanh nh mặt hàng kinh doanh, đối tợng phân phối, giá cả, số l-
ợng và doanh nghiệp sẽ đ ợc bù đắp nếu làm ăn thua lỗ. Vì vậy, vấn đề tiêu thụ
hàng hoá chỉ mang tính pháp lệnh và hình thức, không đợc quan tâm và thúc đẩy.
Hiện nay, môi trờng kinh tế mới buộc các doanh nghiệp phải tổ chức tốt
công tác hoạt động kinh doanh của mình, nắm bắt đợc các quy luật của cơ chế
thị trờng để từ đó đa ra các quyết định đúng đắn, đảm bảo thu đợc lợi nhuận để
có thể tồn tại và đứng vững. Thị trờng là thách thức lớn lao đối với mỗi doanh
nghiệp trong việc tiêu thụ hàng hoá. Doanh thu bán hàng có ý nghĩa rất lớn đối
với toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp, nó là nguồn quan trọng để đảm bảo
trang trải các khoản chi phí hoạt động kinh doanh, đảm bảo cho các doanh
nghiệp có thể tái sản xuất giản đơn cũng nh có thể tái sản xuất mở rộng, là nguồn
để các doanh nghiệp có thể thực hiện nghĩa vụ với Nhà nớc, ổn định tình hình tài
chính doanh nghiệp . Vì vậy, để có thể đứng vững trên th ơng trờng thì các
doanh nghiệp phải tổ chức tốt công tác bán hàng, có chiến lợc tiêu thụ thích hợp
cho phép doanh nghiệp chủ động thích ứng với môi trờng, quyết định kịp thời
khi có cơ hội, huy động tất cả các nguồn lực hiện có và lâu dài để có thể đạt hiệu
quả cao trong kinh doanh.
Xuất phát từ quan điểm trên, trong thời gian thực tập tại Công ty Thơng
mại Dịch vụ Thời trang Hà nội em đã nghiên cứu, tìm hiểu về công tác bán hàng
của Công ty. Công ty đã sử dụng kế toán nh một công cụ đắc lực phục vụ cho
việc điều hành quản lý kinh doanh trong Công ty. Với sự giúp đỡ nhiệt tình của
các cán bộ, nhân viên trong Công ty nói chung và các nhân viên phòng kế toán
1

- Các doanh nghiệp thơng mại phải tuân theo giá cả thị trờng. Giá cả thị tr-
ờng chịu sự tác động của các quy luật kinh tế của thị trờng: quy luật cung cầu,
quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh. Trong thị trờng ngời mua và ngời bán có
quan hệ lợi ích đối lập nhau, nếu giá cả điều hoà đợc lợi ích này thì đợc gọi là
giá cả thị trờng.
- Thơng mại nhiều thành phần và do hoạt động trong nền kinh tế thị trờng
nên tất yếu có sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp.
- Các doanh nghiệp thơng mại có quyền tự do kinh doanh, liên doanh, liên
kết (trong khuôn khổ quy định của Nhà nớc và pháp luật) theo sự điều tiết của
Nhà nớc.
3
- Khách hàng và phục vụ khách hàng giữu vai trò trung tâm trong hoạt
động của doanh nghiệp thơng mại, do đó doanh nghiệp thơng mại luôn luôn có
sự nghiên cứu các chính sách phù hợp phục vụ đáp ứng nhu cầu khách hàng một
cách tốt nhất.
Do chức năng chủ yếu của doanh nghiệp thơng mại là lu thông hàng hoá
cho nên việc bán hàng trong cơ chế thị trờng hiện nay là một khâu quan trọng
của quá trình này. Để hoạt động lu thông hàng hoá diễn ra nhanh chóng và thuận
tiện đòi hỏi khâu tiêu thụ phải phù hợp với nhu cầu xã hội, với nhu cầu thị trờng
và ngời tiêu dùng. Trong cơ chế thị trờng mới, mỗi doanh nghiệp phải tự bản
thân mình vận động tìm ra đợc thị trờng, tìm ra đợc phơng pháp, chiến thuật kinh
doanh riêng nhằm thúc đẩy hoạt động kinh doanh của mình. Muốn vậy doanh
nghiệp phải nắm bắt rõ thị truờng, nhu cầu thi hiếu của ngời tiêu dùng từ đó kích
thích nhu cầu theo hớng có lợi nhất cho doanh nghiệp và chủ động đối phó với
các biến động của thị trờng. Để làm đợc nh vậy doanh nghiệp phải có kế hoạch
hoá khối lợng tiêu thụ, chọn kênh tiêu thụ, phân phối, phân loại khách hàng, trên
cơ sở đó tổ chức kinh doanh phù hợp nhằm đem lại kết quả cao nhất, giúp doanh
nghiệp ngày càng phát triển. Có thể nói rằng với doanh nghiệp thơng mại bán
hàng là tổng thể các phơng pháp về mặt tổ chức, kế hoạch và kinh tế nhằm hợp
lý hoá quá trình tiêu thụ với chi phí thấp nhất và lợi nhuận tối u nhất.

. Đối với thị trờng hàng hoá
Bán hàng thực hiện quá trình trao đổi giá trị. Ngời có giá trị sử dụng (ngời
sản xuất) thực hiện đợc giá trị sử dụng hàng hoá và ngời có giá trị (ngời tiêu
dùng) lấy đợc giá trị sử dụng của hàng hoá và phải trả bằng giá trị.
. Đối với doanh nghiệp thơng mại
Với chức năng là trung gian nối liền giữa sản xuất và tiêu dùng nên có
nhiệm vụ phân phối và cung cấp dịch vụ hàng hoá cho ngời tiêu dùng. Trong
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thơng mại quá trình lu chuyển hàng hoá
đợc diễn ra nh sau: Mua vào - Dự trữ - Bán ra, trong đó bán hàng hoá là khâu
cuối cùng nhng lại có tính chất quyết định đến khâu trớc đó. Bán hàng quyết
định xem doanh nghiệp có nên tiếp tục mua vào hay dự trữ nữa hay không, số l-
ợng là bao nhiêu vì mua vào và dự trữ với mục đích cuối cùng là phục vụ bán
5
ra để thu đợc lợi nhuận cho nên đầu ra có tiêu thụ tốt, trôi chảy thì mới có thể
tiếp tục mua vào hay dự trữ. Vậy bán hàng là mục đích cuối cùng doanh nghiệp
thơng mại cần hớng tới và rất quan trọng, nó quyết định đến việc thành công hay
thất bại của doanh nghiệp. Do đó thực hiện tốt khâu bán hàng sẽ giúp doanh
nghiệp thơng mại:
+ Thu hồi vốn nhanh, quay vòng vốn tốt để tiếp tục hoạt động kinh doanh
+ Đẩy nhanh tốc độ chu chuyển vốn lu động, tạo điều kiện cho việc quản
lý vốn nhằm giảm huy động vốn từ bên ngoài.
+ Thực hiện tốt quá trình chu chuyển hàng hoá trong doanh nghiệp thơng
mại, điều hoà lợng hàng hoá mua vào, dự trữ, bán ra hợp lý.
+ Xác định đợc kết quả kinh doanh để hoạch định kế hoạch kinh doanh
cho năm tiếp theo đợc tốt hơn.
+ Hoàn thành việc thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nớc cũng nh thực
hiện nghĩa vụ thanh toán với các chủ thể liên quan nh ngân hàng, chủ nợ.
+ Có đợc sự mở rộng phạm vi, quy mô kinh doanh, tăng uy tín trên thơng
trờng.
Có thể thấy rằng nghiệp vụ bán hàng đóng vai trò quan trọng trong doanh

sinh. Hàng liên quan đến quá trình bán ra, dự trữ hàng hoá, các khoản giảm trừ,
chiết khấu thơng mại, giảm giá hàng bán để đảm bảo tính liên tục trong kinh
doanh phải có thông tin về tình hình hàng hoá bán ra, trả lại để có kế hoạch kinh
doanh ở kỳ tiếp theo một cách kịp thời. Thêm vào đó, kế toán phải thờng xuyên
kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch bán hàng và thực hiện các chính sách có
liên quan đến hoạt động đó: giá cả, chi phí bán hàng, quảng cáo, tiếp thị đồng
thời phải tính toán và đa ra kế hoạch hoạt động đó một cách hợp lý.
2. Nhiệm vụ của kế toán bán hàng
Các nhà quản trị doanh nghiệp luôn luôn cần các thông tin, số liệu chi tiết,
cụ thể về hoạt động của doanh nghiệp, nhất là đối với doanh nghiệp thơng mại
thì cần phải có số liệu thống kê về hoạt động bán hàng là đầu ra của mình. Từ
những thông tin này có thể biết đợc mức độ tiêu thụ, phát hiện kịp thời những sai
sót trong quá trình quản lý, luân chuyển hàng hoá để từ đó có những biện pháp
7
cụ thể thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngày càng phát triển. Do đó kế toán
nghiệp vụ bán hàng cung cấp các số liệu liên quan đến tình hình tiêu thụ hàng
hoá có những đặc điểm cơ bản sau:
- Ghi chép, phản ánh kịp thời, đầy đủ, chính xác tình hình bán hàng của
doanh nghiệp trong kỳ. Ngoài kế toán tổng hợp trên các tài khoản kế toán, kế
toán bán hàng cần theo dõi, ghi chép về số lợng, kết cấu chủng loại hàng hoá
bán; ghi chép doanh thu bán hàng, thuế GTGT đầu ra của từng nhóm, mặt hàng
theo từng đơn vị trực thuộc.
- Tính toán giá mua thực tế của hàng đã tiêu thụ, nhằm xác định kết quả
bán hàng.
- Kiểm tra tình hình thu tiền bán hàng và quản lý tiền bán hàng. Đối với
hàng hoá bán chịu cần phải mở sổ sách ghi chép theo từng khách hàng, lô hàng,
số tiền khách nợ, thời hạn và tình hình trả nợ
- Cung cấp đầy đủ, kịp thời, chính xác các thông tin cần thiết về tình hình
bán hàng, phục vụ cho việc chỉ đạo, điều hành hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp

Mỗi nhà sản xuất khi chế tạo sản phẩm đều mong muốn bán trực tiếp tới
ngời tiêu thụ để đạt lợi nhuận cao nhất. Nhng thực tế đã chứng minh rằng bán
hàng cho ngời tiêu thụ thông qua nhà thơng mại sẽ mang lại hiệu quả lớn hơn
mặc dù phải chia sẻ một phần lợi nhuận với họ. Nh vậy nguồn gốc lợi nhuận của
doanh nghiệp thơng mại là từ nhà sản xuất nhng chính ngời tiêu thụ với t cách là
ngời trả tiền mới thực sự quyết định sự thành công hay thất bại, có hay không có
lợi nhuận trong kinh doanh của doanh nghiệp thơng mại bởi vì họ chỉ trả tiền cho
những hàng hoá thoả mãn đợc tối đa nhu cầu của mình. Do vậy để thành công
trong kinh doanh, doanh nghiệp thơng mại luôn phải tìm hiểu thị hiếu của ngời
tiêu dùng và nghiên cứu thị trờng, trên cơ sở đó cố gắng tìm ra nguồn hàng,
nghành hàng thích hợp để thực hiện chức năng là khâu trung gian, nối liền sản
xuất và tiêu dùng. Chính nó quyết định đặc điểm của doanh nghiệp kinh doanh
thơng mại là luôn phải tìm kiếm, nghiên cứu các sản phẩm đã đợc chế tạo bởi
các nhà sản xuất khác nhau để đánh giá lựa chọn những hàng hoá có khả năng
đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng tiềm năng mà doanh nghiệp muốn phục
9
vụ. Đây có thể coi là khâu giúp ngời tiêu dùng lựa chọn sản phẩm. Sau đó nhà
thơng mại thay mặt khách hàng tiềm năng của mình tiến hành đặt hàng hoặc
mua hàng chuẩn bị trớc cho sự thoả mãn nhu cầu của họ và vận chuyển hàng hoá
từ cơ sở của nhà sản xuất về kho, dự trữ, bảo quản, đóng gói,... để thoả mãn tối
đa mong muốn của từng cá nhân hoặc tổ chức tiêu thụ.
Tuy nhiên điều đó cũng có nghĩa là DNTM tự chấp nhận gánh chịu rủi ro
sẽ xảy ra vì họ chỉ có khả năng dự đoán những hàng hoá mà khách hàng sẽ mua
nhng đó là điều không chắc chắn . Khách hàng có quyền tuyệt đối khi không
chấp nhận hàng hoá, dịch vụ mà nhà thơng mại cung cấp cho họ . Sự không đồng
nhất giữa hàng hoá mà nhà thơng mại cung cấp và quyết định cuối cùng của ngời
tiêu dùng sẽ dẫn đến rủi ro hay may mắn mà nhà thơng mại theo xu hớng vận
động của cơ chế thị trờng. Bởi vậy để thu hút, hấp dẫn ngời tiêu dùng mua hàng
hoá của mình, DNTM luôn tổ chức kinh doanh với nhiều quy mô khác nhau nh
bán buôn, bán lẻ, công ty kinh doanh tổng hợp, công ty môi giới...

doanh, nó là công cụ quan trọng phục vụ công tác điều hành và quản lý các hoạt
động sản xuất kinh doanh, quản lý vốn trong các doanh nghiệp, đồng thời nó là
nguồn thông tin số liệu tin cậy để Nhà nớc điều hành vĩ mô nền kinh tế quốc
dân, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động của các ngành, các lĩnh vực.
Với t cách là một bộ phận quan trọng trong công tác kế toán, kế toán
nghiệp vụ bán hàng làm chức năng phản ánh và giám đốc tình hình lu chuyển
hàng hoá, do đó kế toán nghiệp vụ bán hàng phải thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Phản ánh kiểm tra giám sát tình hình thực hiện kế hoạch tiêu thụ hàng
hoá, kế toán bán hàng về số lợng và chất lợng, chủng loại, giá cả, thời hạn, giám
đốc sự an toàn của hàng hoá gửi bán cho đen khi ngời mua nhận đợc hàng.
- Kiểm ta chặt chẽ các chứng từ bán hàng nhằm xác định đúng đắn và kịp
thời doanh thu bán hàng, kiểm ta giám sát quá trình thanh toán tiền hàng của
khách hàng và tình hình nộp tiền hàng của nhân viên bán hàng.
- Tổng hợp, tính toán và phân bổ chính xác chi phí lu thông cho hàng hoá
đã tiêu thụ, tính toán chính xác giá vốn, các khoản thuế phải nộp của hàng bán
ra. Xác định đúng đắn kết quả tiêu thụ hàng hoá, trên cơ sở đó có những biện
11
pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động sản xuất kinh doanh, giúp cho lãnh
đạo doanh nghiệp nắm đợc quá trình tiêu thụ hàng hoá của doanh nghiệp và kịp
thời có những biện pháp điều chỉnh thích hợp với thị trờng.
- Thống nhất cách tính giá hàng hoá xuất kho để phản ánh giá trị của hàng
hoá trong sổ kế toán tổng hợp, sổ kế toán chi tiết và sổ hạch toán nghiệp vụ ở
kho, quầy hàng nhằm quản lý chặt chẽ hàng hoá và giảm nhẹ khối lợng công
việc hạch toán . Đồng thời vẫn đảm bảo phản ánh đúng giá trị thực tế của hàng
hoá.
III. ý nghĩa và sự cần thiết của việc tổ chức hợp lý quá trình kế toán
nghiệp vụ bán hàng trong các doanh nghiệp thơng mại .
1. ý nghĩa của việc tổ chức hợp lý quá trình kế toán nghiệp vụ bán
hàng .
Tổ chức hợp lý quá trình kế toán nghiệp vụ bán hàng có ý nghĩa vô cùng

Hạch toán kế toán có vai trò quan trọng trong hệ thống quản lý kinh
doanh, vai trò đó đợc xuất phát từ thực tế khách quan hoạt động quản lý kinh
doanh và bản chất của hạch toán kế toán. Các nhà quản lý căn cứ vào số liệu kế
toán để lập kế hoạch sản xuất kinh doanh. Qua nghiên cứu phân tích số liệu kế
toán giúp doanh nghiệp sẽ quyết định nên kinh doanh sản xuất mặt hàng nào,
nên tiếp tục hoạt động sản xuất kinh doanh thờng xuyên hay phải chuyển hớng
hoạt động vào lĩnh vực mới.
Nhiệm vụ hàng đầu của kế toán hiện nay là xác định hiệu quả của một chu
kỳ sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp. Kế toán phát sinh
phát triển cùng với sự phát triển của sản xuất kinh doanh và nó có tác dụng thúc
đẩy sản xuất kinh doanh ngày càng mở rộng. Chính vì điều đó khi nền kinh tế n-
ớc ta chuyển đổi sang nền kinh tế thị trờng, Nhà nớc ta bắt đầu đổi mới một số
chính sách trong cơ chế quản lý kinh tế. Do đó công cụ quản lý kinh tế nói
chung và kế toán nói riêng cũng cần phải đợc đổi mới và hoàn thiện.
Là một bộ phận quan trọng trong công tác kế toán, kế toán nghiệp vụ bán
hàng cũng đòi hỏi phải đợc đổi mới và tổ chức hợp lý để phù hợp với cơ chế tổ
chức quản lý kinh doanh hiện nay. Việc đổi mới và tổ chức hợp lý quá trình kế
13
toán nghiệp vụ bán hàng còn xuất phát từ tính đa dạng của hoạt động tiêu thụ
hàng hoá, từ yêu cầu quản lý nghiệp vụ bán hàng và từ nhiệm vụ của công tác kế
toán, nhằm mục đích là ngày càng thực hiện tốt chức năng phản ánh và giám đốc
các hoạt động kinh tế, cung cấp thông tin cho lãnh đạo để quản lý hoạt động
kinh doanh ngày càng có hiệu quả.
IV. Công tác kế toán nghiệp vụ bán hàng trong các doanh nghiệp th-
ơng mại
A. Đặc điểm kế toán nghiệp vụ bán hàng trong doanh nghiệp thơng
mại
1. Hàng bán trong doanh nghiệp thơng mại
Hàng bán trong doanh nghiệp thơng mại là những hàng hoá kinh doanh
của doanh nghiệp, tức là những hàng hoá mà doanh nghiệp mua vào với mục

thoả thuận trong hợp đồng.
Đặc điểm:
- Khi hàng hoá xuất ra khỏi kho chuyển ra phơng tiện vận tải, quyền sở
hữu, trách nhiệm rủi ro và chi phí về hàng hoá vẫn thuộc ngời bán, do đó ngời
bán phải mở ra một tài khoản để theo dõi quá trình gửi hàng đi bán.
- Tại địa điểm giao hàng, khi ngời mua nhận đợc hàng hoá ký nhận vào
chứng từ thì quyền sở hữu về hàng hoá, trách nhiệm rủi ro và chi phí về hàng hoá
sẽ đợc di chuyển từ ngời bán sang ngời mua, hoạt động bán hàng đã đợc thực
hiện.
2.1.2. Bán buôn chuyển thẳng
Bán buôn chuyển thẳng là một phơng thức bán hàng mà hàng hoá không
đợc tập trung vào kho của ngời bán buôn, hàng hoá đợc chuyển bán thẳng cho
bên mua. Bán buôn chuyển thảng là phơng thức bán hàng tiết kiệm nhất vì nó
giảm đợc chi phí lu thông và tăng nhanh sự vận động của hàng hoá. Bán buôn
chuyển thẳng đợc thực hiện dới hai hình thức:
* Bán buôn chuyển thẳng theo hình thức giao trực tiếp (hình thức giao tay
ba)
Theo hình thức này khách hàng sẽ đến lấy hàng trực tiếp tại kho của ngời
cung cấp, ngời bán buôn.
15
Đặc điểm: Tại cửa kho của ngời cung cấp, ngời ta sẽ thực hiện quá trình
chuyển giao hàng hoá từ ngời cung cấp sang ngời bán buôn (quan hệ quyết toán
tiền hàng trong khâu mua) đồng thời sẽ thực hiện quyền sở hữu hoá từ ngời bán
buôn sang khách hàng (khâu bán)
* Bán buôn chuyển thẳng theo hình thức chuyển hàng
Theo hình thức này căn cứ vào các hợp đồng kinh tế dã ký kết, ngời bán
buôn sẽ chuyển hàng thẳng từ kho của ngời cung cấp đến cho khách hàng theo
một địa điẻem đợc quy định trớc trong hợp đồng.
Đặc điểm:
- Khi hàng hoá đợc xuất ra khỏi kho của ngời cung cấp, chuyển lên phơng

Bán lẻ là phơng thức bán hàng mà hàng hoá đợc bán trực tiếp cho ngòi
tiêu dùng, cho cơ quan xí nghiệp phục vụ nhu cầu sinh hoạt không mang tính
chất sản xuất kinh doanh. Phơng thức bán hàng này có đặc trng hàng hoá đã ra
khỏi lĩnh vực lu thông và bắt đàu đi vào tiêu dùng, hàng hoá bán ra với số lợng ít,
thanh toán ngay và thờng bằng tiền mặt nên thờng lập ít chứng từ cho từng lần
bán. Trong phơng thức này có các hình thức sau:
* Hình thức bán hàng thu tiền tập trung:
Theo hình thức này việc thu tiền của ngời mua và giao hàng cho ngời mua
tách rời nhau. Mỗi quầy hàng có một nhân viên thu tiền làm nhiệm vụ thu tiền
của khách, viết hoá đơn hoặc tích kê cho khách hàng để họ đến nhận hàng ở
quầy hàng do nhân viên bán hàng giao. Hết ca, hết ngày bán hàng, nhân viên bán
hàng căn cứ vào hoá đơn và tích kê giao hàng cho khách hàng hoặc kiểm kê hàng
hoá tồn quầy để xác định số lợng hàng đã bán trong ngày, trong ca và lập báo
cáo bán hàng. Nhân viên thu tiền nộp tiền bán hàng cho thủ quỹ và làm giấy nộp
tiền.
* Hình thức bán hàng thu tiền trực tiếp:
Theo hình thức này, nhân viên bán hàng trực tiếp thu tiền của khách hàng
và giao hàng cho khách. Hết ca, hết ngày bán hàng, nhân viên bán hàng nộp tiền
cho thủ quỹ và làm giấy nộp tiền bán hàng. Sau đó, kiểm kê hàng hoá tồn quầy
để xác định số lợng hàng đã bán trong ca, trong ngày và lập báo cáo bán hàng.
* Hình thức bán hàng tự phục vụ:
17
Theo hình thức này, khách hàng tự chọn lấy hàng hoá, trớc khi ra khỏi cửa
mang đến bộ phận thu tiền để thanh toán tiền hàng. Nhân viên thu tiền lập hoá
đơn bán hàng và thu tiền của khách hàng. Hình thức này đợc áp dụng phổ biến ở
các siêu thị.
* Hình thức bán hàng trả góp:
Theo hình thức này ngời mua đợc trả tiền mua hàng thành nhiều lần.
Doanh nghiệp thơng mại, ngoài số tiền thu theo giá mua thông thờng còn thu
thêm ngời mua một khoản lãi do trả chậm.

ngân phiếu trực tiếp để giao dịch, mua bán. ở phơng thức này, sự vận động của
hàng hoá gắn liền với sự vận động của tiền tệ, khi bên bán chuyển giao hàng hoá,
dịch vụ thì bên mua xuất tiền mặt để trả trực tiếp tơng ứng với giá cả mà cả hai
bên đã thoả thuận. Thanh toán theo phơng thức này đảm bảo khả năng thu tiền
nhanh, tránh đợc rủi ro trong thanh toán.
4.2. Phơng thức thanh toán không trực tiếp
Phơng thức thanh toán không trực tiếp là phơng thức thanh toán đợc thực
hiện bằng cách trích chuyển tiền ở tài khoản của doanh nghiệp hoặc bù trừ giữa
các đơn vị thông qua trung gian là ngân hàng. Thanh toán không dùng tiền mặt
có u điểm: giảm đợc lợng tiền mặt trong lu thông, giảm chi phí liên quan đến
việc in và phát hành tiền mặt cũng nh bảo quản và vận chuyển tiền, quá trình
thanh toán đơn giản và thuận tiện hơn. Tuy vậy phơng thức này cũng có hạn chế
là thủ tục thanh toán phức tạp dễ xảy ra tình trạng chiếm dụng vốn. Do vậy, tuỳ
từng hợp đồng kinh tế, từng loại khách hàng mà việc thanh toán không trực tiếp
đợc thể hiện theo một số hình thức sau:
4.2.1. Thanh toán bằng séc
Việc thanh toán bằng séc đợc áp dụng nhiều nơi trên thế giới. Séc là một
tờ lệnh trả tiền của chủ tài khoản, đợc lập trên mẫu biểu do ngân hàng Nhà nớc
quy định, yêu cầu đơn vị thanh toán trích một số tiền nhất định từ tài khoản tiền
gửi thanh toán của mình để trả cho ngời thụ hởng có tên trên tờ lệnh đó. Khi
nhận đợc séc nhân viên kiểm tra tính hợp lệ của séc và nộp séc vào ngân hàng
theo đúng thời hạn và hiệu lực của tờ séc. Séc thanh toán gồm có: séc chuyển
khoản, séc bảo chi, séc chuyển tiền.
19
4.2.2. Thanh toán bằng uỷ nhiệm chi
Uỷ nhiệm chi là một tờ lệnh trả tiền do các đơn vị hoặc cá nhân có tài
khoản mở tại ngân hàng phát hành, yêu cầu ngân hàng trích một số tiền nhất
định từ tài khoản của mình để trả cho ngời thụ hởng. Đây là hình thức thanh toán
nhanh, đơn giản nhng chỉ áp dụng khi có sự tín nhiệm với khách hàng và đòi hỏi
doanh nghiệp phải có taì khoản ở ngân hàng.

bảo an toàn về vốn cho doanh nghiệp, hạn chế rủi ro, chống tham nhũng, lạm
phát... Mỗi doanh nghiệp áp dụng từng phơng thức thanh toán riêng biệt hoặc
dùng nhiều phơng thức thanh toán nhng nói chung đều đảm bảo nguyên tắc
thanh toán: nhanh chóng, chính xác, đầy đủ.
5. Giá cả trong khâu bán
Hàng bán sẽ đợc xác định theo nguyên tắc giá thị truờng, là giá thoả thuận
giữa ngời mua và ngời bán trên thị trờng cho từng lần mua bán.
Đối với cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phơng pháp khấu trừ, giá
bán thực tế để ghi nhận doanh thu là giá cha có thuế GTGT.
Đối với cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phơng pháp trực tiếp thì giá
bán thực tế để ghi nhận doanh thu là giá đã có thuế GTGT.
Dựa trên cơ sở phơng pháp thống kê kinh nghiệm, giá bán thực tế của
hàng hoá đợc xác định theo công thức sau:
Giá bán = Giá mua thực tế của hàng hoá + thặng số thơng mại
- Giá bán: là giá thực tế ghi trên hoá đơn, chứng từ thu ở ngời mua về lợng
hàng xuất bán. Giá bán phải là giá thoả thuận, đảm bảo bù đắp chi phí và tạo ra
lợi nhuận cho doanh nghiệp.
- Giá mua thực tế của hàng hoá: là giá mua ghi trên hoá đơn cộng các
khoản chi phí mua, thuế khâu mua (nếu có).
- Thặng số thơng mại: là phần chênh lệch giữa giá bán và giá mua của
hàng hoá để doanh nghiệp có thể bù đắp đợc các chi phí kinh doanh bỏ ra và
hình thành nên lợi nhuận.
Thặng số thơng mại = Giá mua thực tế ì % tỷ lệ thặng số
Ngoài việc tính đúng giá bán của hàng hoá, doanh nghiệp cần phải tính
chính xác giá vốn hàng hoá tiêu thụ vì mỗi lần hàng hoá đợc nhập với số lợng và
21
đơn giá khác nhau. Khi xuất hàng hoá đi tiêu thụ doanh nghiệp phải hạch toán
giá trị hàng xuất theo một phơng pháp nhất định để hạch toán đợc chính xác và
tiết kiệm đợc thời gian. Xác định chính xác giá vốn sẽ giúp doanh nghiệp tính
đúng thu nhập và lãi thuần. Các doanh nghiệp có thể áp dụng một số phơng pháp

cùng. Việc tính giá mua của hàng xuất kho theo phơng pháp này có u điểm là giá
mua của hàng tồn kho trên báo cáo kế toán sát với giá thị trờng tại thời điểm lập
báo cáo.
* Phơng pháp nhập sau - xuất trớc (LIFO)
Phơng pháp này dựa trên giả thiết hàng nhập kho sau thì xuất kho trớc.
Khi tính giá mua của hàng xuất kho sẽ căn cứ vào đơn mua của hàng nhập kho
gần lần xuất nhất. Nh vậy giá mua của hàng xuất kho là giá mua của hàng hoá
mua vào nhập kho sau, giá mua của hàng tồn kho là giá mua của hàng hoá mua
vào nhập kho trớc. Việc tính giá mua của hàng xuất kho theo phơng pháp này có
u điểm là chi phí giá mua của hàng xuất khỏi kho phù hợp với chi phí mua hàng
hoá hiện hành.
B. Ph ơng pháp kế toán nghiệp vụ bán hàng trong các doanh nghiệp th -
ơng mại
1. Hạch toán ban đầu
Hạch toán ban đầu là công việc đầu tiên cần thiết và quan trọng của kế
toán. Khi nghiệp vụ kinh tế phát sinh, để phản ánh đồng thời chính xác cả về
chất lợng và số lợng, giá cả, thời gian, địa điểm của nghiệp vụ kinh tế phát sinh,
thông qua đó là việc sử dụng các loại chứng từ, luân chuyển chứng từ. Từ đó làm
cơ sở cho việc hạch toán tổng hợp và hạch toán chi tiết. Quá trình luân chuyển
chứng từ gồm các khâu sau:
- Lập chứng từ (tiếp nhận chứng từ) là nội dung các yếu tố đã quy địnhnh
giao hàng cho bên mua phải có chứng từ bán hàng và làm thủ tục thanh toán.
- Kiểm tra chứng từ về nội dung và hình thức.
- Sử dụng chứng từ cho việc ghi sổ kế toán
23
- Bảo quản và sử dụng chứng từ trong quá trình hạch toán vì chứng từ có
tầm quan trọng đối với công tác kế toán. Vì vậy phải bảo quản giữ gìn và sử
dụng tốt bản chứng từ, nếu mất chứng từ thì không còn cơ sở pháp lý cho nghiệp
vụ kinh tế đã phát sinh.
- Luân chuyển chứng từ vào dự trữ. Sau khi vào nhật ký chứng từ, kế toán

- Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ (Mẫu 03/VT - 3LL)
- Các chứng từ gốc phản ánh thu hồi tiền hay công nợ:
+ Phiếu thu (Mẫu 01 - TT): khi thu bằng tiền mặt, ngân phiếu nhập
quỹ của khách hàng.
+Giấy báo có: khi thu tiền qua ngân hàng.
* Đối với phơng thức bán hàng qua đại lý, bán trả góp, kế toán sử dụng
các chứng từ:
- Phiếu xuất kho hàng gửi bán đại lý (Mẫu 04/XKĐL - 3LL)
- Bảng thanh toán hàng đại lý, ký gửi (Mẫu 14 - BH)
2. Vận dụng hệ thống tài khoản kế toán vào kế toán nghiệp vụ bán
hàng.
Hệ thống tài khoản là danh mục các tài khoản đợc hệ thống hoá và đợc kế
toán sử dụng trong các nghiệp vụ tiêu thụ hàng hoá. Hệ thống tài khoản này bao
gồm các quy định thống nhất về: số lợng tài khoản, điều khoản sử dụng, ký hiệu
tài khoản, tên tài khoản, nội dung, kết cấu tài khoản...
Kế toán bán hàng sử dụng các tài khoản chủ yếu sau:
2.1. Tài khoản 511 - Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
Tài khoản này dùng để phản ánh doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
của doanh nghiệp trong một kỳ kế toán của hoạt động sản xuất kinh doanh từ các
giao dịch và các nghiệp vụ sau:
- Bán hàng: Bán sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra và bán sản phẩm
mua vào.
- Cung cấp dịch vụ: Thực hiện công việc đã thoả thuận trong hợp đồng
trong một kỳ hoặc nhiều kỳ kế toán, nh cung cấp dịch vụ vận tải, du lịch, cho
thuê TSCĐ theo phơng thức cho thuê hoạt động...
25

Trích đoạn Phơng pháp kế toán nghiệp vụ bán hàng ở doanh nghiệp quản lý tồn kho theo kiểm kê thờng xuyên Kế toán nghiệp vụ bán hàng đại lý. Kế toán nghiệp vụ bán lẻ Các hình thức sổ kế toán áp dụng trong kế toán nghiệp vụ bán hàng Giống nh hình thức Chứng từ ghi sổ(Đặc biệt trong điều kiện thục hiện công tác kế toán trên máy thì hình thức này còn thích hợp với cả
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status