PHẪU THUẬT CẮT GIAN CƠ THẮT ĐIỀU TRỊ UNG THƯ TRỰC TRÀNG THẤP - Pdf 20

PHẪU THUẬT CẮT GIAN CƠ THẮT ĐIỀU TRỊ UNG
THƯ TRỰC TRÀNG THẤP

TÓM TẮT
Tổng quan: Trước đây, ung thư trực tràng thấp là chỉ định của phẫu thuật Miles. Gần
đây, một số trường hợp ung thư trực tràng thấp có thể bảo tồn được cơ thắt với kỹ
thuật cắt gian cơ thắt, nối đại tràng ống hậu môn.
Phương pháp: Nghiên cứu tiền cứu 8 bệnh nhân ung thư trực tràng thấp được thực
hiện nối đại tràng hậu môn tại Bệnh viện ĐHYD TPHCM.
Kết quả: Tất cả các trường hợp có bờ cắt an toàn. Sau 1 năm theo dõi chưa có trường
hợp nào tái phát. Chức năng hậu môn trực tràng suy giảm nhiều sau mổ và hồi phục
dần theo thời gian.
Kết luận: Phẫu thuật cắt gian cơ thắt, nối đại tràng ống hậu môn có kết quả tốt về ung
thư học và chức năng hậu môn nếu được chỉ định thích hợp. Đây là một lựa chọn cho
những trường hợp ung thư trực tràng thấp.
ABSTRACT
THE PRIMARY RESULTS OF INTERSPHINCTERIC RESECTION
IN PATIENTS WITH ULTRALOW RECTAL CANCER
Nguyen Hoang Bac, Nguyen Huu Thinh
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 13 – Supplement of No 1 - 2009: 29 – 31
Objectives: Low rectal cancer was a indication of Miles’s procedure. In recent years,
intersphincteric resection with coloanal anastomosis has been proposed to avoid
permanent colostomy for low rectal cancer.
Methods: This is cross-study on 8 low rectal cancer patients at UMC.
Results: All of patients had safe margin. After 1 year follow-up, there was no
recurrence case. The anorectal functions were impaired and recovered gradually.
Conclusion: The intersphincteric resection with coloanal anastomosis had showed
the good results of oncology and anorectal function. This is a option for very low
rectal cancer.
TỔNG QUAN
Từ khi được Miles giới thiệu năm 1908, phẫu thuật cắt toàn bộ trực tràng qua ngã

khoảng cách từ bờ dưới của khối u đến bờ hậu môn, được xác định qua thăm khám
hậu môn bằng tay hay qua nội soi đại tràng.
Kỹ thuật mổ
Qua ngã bụng và hậu môn. Ngã bụng được thực hiện qua phẫu thuật nội soi gồm các
bước: 1 - thắt bó mạch mạc treo tràng dưới tận gốc. 2 – cắt toàn bộ mạc treo trực
tràng bảo tồn thần kinh hạ vị, trực tràng được di động đến sàng chậu. Ngã hậu môn:
đi vào mặt phẳng gian cơ thắt vị trí 1cm trên đường lược, sau đó theo mặt phẳng này
đi lên cho đến khi gặp mặt phẳng phẫu tích ngã bụng. Kéo đại trực tràng mang u qua
ngã hậu môn hoặc qua đường mở nhỏ ở bụng, cắt đoạn ruột mang u; nối đại tràng ống
hậu môn tận-tận 2 lớp. Mở thông hỗng tràng, đóng lại sau 3 tuần.
KẾT QUẢ
Trong thời gian nghiên cứu có 8 bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn chọn bệnh, 5 bệnh nhân
nữ
Tuổi trung bình 59.
Giải phẫu bệnh: 100% là carcinôm tuyến trực tràng. Tất cả các trường hợp đều có bờ
cắt không có tế bào ung thư.
Bảng 1. Giai đoạn khối u theo T
pT1 pT2 pT3
Số BN 1 5 2
Thời gian theo dõi trung bình 11 tháng. Trong thời gian theo dõi, không có trường
hợp nào tái phát, không có trường hợp tử vong.
Chức năng hậu môn trực tràng được đánh giá tại các thời điểm 1, 3, 6, và 12 tháng
như bảng 2.
Bảng 2. Số lần đi cầu mỗi ngày sau mổ
Đi cầu/

ngày
1 tháng

(%)


6 (86) 5 (83)
Bình
thường
0 (5) 0 (5) 1 (14) 1 (17)
Đánh giá về khả năng tự chủ khi đi cầu sau mổ theo thang điểm Wexner: 10,2 ở thời
điểm 6 tháng, 6,3 lúc sau mổ 12 tháng
Đánh giá chung của bệnh nhân về thói quen đi cầu sau phẫu thuật: 3 bệnh nhân
(37,5%) hài lòng.
BÀN LUẬN
Phẫu thuật điều trị ung thư trực tràng nhằm 2 mục tiêu quan trọng: khỏi bệnh và cải
thiện chất lượng sống sau mổ, mà chủ yếu là duy trì chức năng hậu môn trực tràng.
Trước đây, điều trị ung thư trực tràng phần ba dưới thường đồng nghĩa với phẫu thuật
Miles. Những tiến bộ về ung thư học, sàng chậu học
(Error! Reference source not found.)
cho
phép thực hiện phẫu thuật cắt đoạn đại trực tràng, bảo tồn cơ thắt mà vẫn đảm bảo an
toàn về mặt ung thư học ở những bệnh nhân này. Nối đại tràng ống hậu môn thường
đi kèm tình trạng suy giảm chức năng hậu môn trực tràng, tuy nhiên bệnh nhân vẫn
dễ dàng chấp nhận hơn là hậu môn nhân tạo vĩnh viễn.
Điều quan trọng trong phẫu thuật này không phải là kỹ thuật mà là chỉ định. Cần phải
đánh giá chính xác giai đoạn bệnh trước mổ bao gồm khảo xác mức độ xâm lấn
xuyên thành, xâm lấn vào mạc treo trực tràng, xâm lấn vào mạc riêng trực tràng, xâm
lấn vào cơ thắt. Ngoài ra những trường hợp ung thư biệt hóa kém cũng là chống chỉ
định vì nguy cơ tái phát tại chỗ rất cao.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đánh giá giai đoạn trước mổ bằng cộng hưởng từ.
Cộng hưởng từ không những cung cấp hình ảnh chi tiết về mức độ xâm lấn của khối
u, tình trạng di căn hạch mà còn tiên lượng khá tốt nguy cơ xâm lấn mạc riêng trực
tràng (CRM). Ngày nay, đây là phương tiện tiêu chuẩn trong đánh giá giai đoạn ung
thư trực tràng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status