Quá trình hình thành asean - Pdf 20

Tiểu luận
Quá trình hình thành
asean 1
LỜI MỞ ĐẦU

Trong xu hướng quỗc tế hoá đời sống kinh tế thế giới, với những cấp
độ toàn cầu hoávà khu vực hoá, lực lượng sản xuất phát triển vượt ra ngoài
phạm vi biên giới của mỗi quốc gia, sự phân công lao động , quốc tế phát triển
cả về bề rộng lẫn bề sâu; vai trò của các công ty đa quốc gia được tăng cường,
việc hình thành các liên kết khu vực ngày một phát triển, hầu hết các quốc gia
đang chuyển sang mô hình kinh tế với việc khai thác ngày càng triệt để lợi thế
so sánh của mỗi nước.Để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng của thương mại quốc
tế trên thị trường thế giới ngày nay,các quốc gia trên hành tinh chúng ta trong
quá trình phát triển đã từng bước tạo lập nên các mối quan hệ song phươngvà
đa phương, từng bước tham gia vào các liên kết kinh tế quốc tế với nhiều mức
độ khác nhau nhằm đưa lại lợi ích thiết thực cho mỗi bên.Chính các liên kết
kinh tế quốc tế là sự biểu hiện rõ nét của hai xu hướng: Khu vực hoá và toàn
cầu hoá đang diễn ra hết sức sống động và đặc biệt quan trọng trong những
năm gần đây.

Quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới đang diễn ra ở những cấp
độ khác nhau với xu hướng toàn cầu hoá đi đôi với xu hướng khu vực hoá.
Toàn cầu hoá kinh tế là hình thành một thị trườngthế giới thống nhất,
một hệ thống tài chính, tín dụng toàn cầu , là việc phát triển và mở rộng phân
công lao động quốc tế theo chiều sâu, là sự mở rộng giao lưu kinh tế và khoa
học công nghệ giữa các nước trên quy mô toàn cầu;là việc giải quyết các vấn
đề kinh tế –xã hội có tính chất toàn cầu như vấn đề dân số,tài nguyên thiên
nhiên, bảo vệ mội trường sinh thái…Trong khi đó , khuvực hoá kinh tế chỉ
diễn ra trong một không gian địa lý nhất định dưới nhiều hình thức như: khu
vực mậu dịch tự do, đồng minh (Liên minh) thuế quan, đồng minh tiền tệ,thị
trường chung, đồng minh kinh tế…Nhằm mục đích hợp tác,hỗ trợ lẫn nhau
cùng phát triển, từng bước xoá bỏ những cản trở trong việc di chuyển tư
bản,lực lượng lao động, hàng hoá dịch vụ …Tiến tới tự do hoá hoàn toàn
những di chuyển nói trên giữa các nước thành viên trong khu vực.
Ở các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển (hay còn gọi là các
quốcgia công nghiệp phát triển), thì xu hướng tham gia hội nhập vào nềnkinh
tế các nước trong khu vực và bảo hộ mậu dịch ngày càng gia tăng. Việc tham
gia mạnh mẽ và rộng rãi vào các khối liên kết kinh tế khu vực, từng bước tiến
tới sự nhất thể hoá cao thông qua các văn bản,hiệp định kí kết đã đưa lại cho
các quốc gia trong liên minh sự ổn định, hợp tác cùng phát triển. Trong điều
kiện đó, các doanh nghiệp của các quốc gia thành viên được hưởng những ưu
đãi về thương mại cũng như phải gánh vác các nghĩa vụ về tài chính, giảm

4
thuế cũng như các miễn giảm khácv.v (các quốc gia trong hiệp hội mậu dịch
tự do Bắc Mỹ NAFTA ), các quốc gia trong liên minh châu âu(EU) là những
liên kết phản ánh rõ nét các xu hướng trên). Kinh tế giữa các nước thành
viên.Theo thoả thuận hợp tác này, các quốc gia trong liên minh bên cạnh việc
xoá bỏ thuế quan và những hạn chế về mậu dịch khác giữa các quốc gia thành
viên, còn cần phải thiết lập một biểu thuế quan chung của khối đối với các

tới 14522 tỷ USD trong đó trao đổi giữa các quốc gia chiếm tỷ trọng ngày
càng tăng từ 15,3% năm 1973 lên 22,8% năm 1988 và dự kiến đến năm 2000
sẽ là 28,5% .
Điều gì đã làm cho thương mại thế giới phát triển như ngày nay ? Đó là sự
bùng nổ của tự do hoá trương mại khu vực và toàn cầu thể hiện qua việc xuất
hiện ngày càng nhiều các tổ chức kinh tế mang tính khu vực. Tự do hoá
thương mại được khởi xướng ở Bắc Mỹ và Châu Âu. Ở Châu Á, tiếp sau Nhật
Bản là Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kong, Singapo đã theo đuổi chính sách
hướng ngoại, mở cửa và tích cực hội nhập vào thị trường quốc tế ; thực hiện tự
do hoá từng bước . Kết quả bốn nước này đã tăng thu nhập đầu người từ mức
20% so với các nước công nghiệp vào năm 1965 lên 70% vào năm 1995. Con
đường hướng ngoại,thực hiện tự do hoá thương mại được thực hiện tiếp nối ở
Chi Lê, Malayxia và Thái Lan vào đầu thập niên 70 và sau đó là Trung Quốc
vào đầu thập niên 80. Nhiều người cho rằng khi hội nhập vào kinh tế khu vực
sẽ giảm bảo hộ sản xuất trong nước, do đó sẽ tăng thất nghiệp và giảm tăng

6
trưởng. Lịch sử đã chứng minh không một nước nào có thể đạt tốc độ phát
triển nhanh mà không mở cửa kinh tế, không tích cực hội nhập . Theo WB số
người sống ở mức nghèo khổ ở Châu á (dưới 1USD/ ngày) đã giảm từ 700tr
người xuống còn 300tr người năm 1995. Trung quốc nhờ thoả thuận với Mỹ
mở cửa thị trường hơn nữa và chuẩn bị ra nhập WTO sẽ làm cho thu nhập
quốc dân tăng thêm 30% năm nhờ vậy tăng thêm 12 triệu việc làm.
Rõ ràng xu hướng khu vực hoá Kinh tế là tất yếu. Nó mang lại những lợi
ích kinh tế to lớn cho cả người sản xuất và người tiêu dùng trong các nước
thành viên . Một quốc gia nào đó gia nhập các nước thực hiện ưu đãi mậu
dịch thường đưa lại những lợi ích chủ yếu sau đây:
Một là, tạo lập quan hệ mậu dịch giữa các nước thành viên, mở rộng hơn
nữa khả năng xuất nhập khẩu hàng hoá của các nước trongliên minh với các
nước, các khu vực khác trên thế giới. Cũng trong điều kiện này mà tiềm năng

Braxin (1800USD/ tấn) vì có thuế nhập khẩu là 20%. Chính vì vậy, việc nhập
khẩu cà phê của Singapore sẽ chuyển hướng từ thị trường Braxin sang thị
trường Việt Nam.
Cần phải nhận thấy rằng việc chuyển hướng mậu dịch chỉ đưa lại lợi ích
cục cho các quốc gia trong nội bộ liên minh. Còn xét một cách tổng thể trên
phạm vi thế giới thì liên minh thuế quan cục bộ đã làm giảm phúc lợi chung
của thế giới nếu như liên minh đó đưa tới xu hướng khuyến khích các ngành
sản xuất kém hiệu quả.
Như vậy, những tác động tích cực và tiêu cực do thương mại đưa lại là
sự kết hợp chặt chẽ của sự thay đổi cả trong lĩnh vực sản xuất và trong lĩnh
vực tiêu dùng. Đó là sự thay thế của các ngành sản xuất trong nước bằng

8
ngành hàng của các nước đối tác trong liên minh (tác động về sản xuất) và sự
thay thế tiêu dùng hàng nội địa bằng hàng của các nước đối tác (tác dụng với
tiêu dùng).
Tác động tổng thể đối với các nước thành viên phụ thuộc chủ yếu vào
mức độ tác động tích cực và tiêu cực mà thương mại tạo ra. Nếu những tác
động tích cực đưa lại những lợi ích lớn hơn những lợi ích tổn hại do tác động
tiêu cực gây ra đối với một nước thành viên nào đó, thì khi đó hiệp định mậu
dịch tự do xét một cách tổng thể là có lợi đối với quốc gia thành viên đó. Tổng
quát lại có thể khẳng định rằng hội nhập vào khu vực, tham gia tích cực vào
khu vực mậu dịch tự do chỉ mang lại hiệu quả cao nếu những người sản xuất
có hiệu quả nhất (chi phí thấp nhất) là các nước thành viên hoặc khi hiệp định
về mậu dịch không làm giảm đi những hoạt động buôn bán giữa các nước
thành viên với các khu vực và các quốc gia còn lại trên thế giới.
Ba là, hội nhập vào khu vực, thực hiện tự do hoá thương mại tạo điều
kiện cho mỗi quốc gia thành viên có điều kiện thuận lợi trong việc tiếp thu
vốn, công nghệ, trình độ quản lý,… từ quốc gia khác trong liên minh. Về lâu
dài tự do trương mại góp phần tăng năng xuất lao động , tăng trưởng kinh tế.

- Các nước thành viên phải nhanh chóng điều chỉnh lại các cân đối trong
nền kinh tế trên cơ sở xoá bỏ những hạn chế về thương mại như thuế quan,
hàng rào phi thuế quan, trong đó phải kể đến sự điều chỉnh cơ cấu ngành, cơ
cấu vùng,cơ cấu giá và tỷ giá hối đoái.
- Vấn đề việc làm và giải quyết thất nghiệp .

10
- Cải cách hệ thống tài khoá, đặc biệt là những trường hợp thuế quan
mậu dịch có tỷ trọng đáng kể trong nguồn thu ngân sách và do đó làm nảy sinh
những khó khăn cho việc cân đối ngân sách của chính phủ.
- Cần phải thiết lập khuôn khổ pháp lý chung (luật chơi chung) đối với
các nước thành viên trước hết cần giải quyết một số vấn đề có liên quan tới các
quy định thuế quan, hải quan, chuẩn mực lao động, môi trường sinh thái, chất
lượng sản phẩm.
- Vấn đề giải quyết công bằng, bình đẳng trong xã hội và giữa các nước
trong nội bộ khu vực. Khả năng thu được lợi ích tối đa của mỗi quốc gia khi
hội nhập vào nền kinh tế các nước trong khu vực. Do diều kiện cụ thể của mỗi
nước, do trình độ phát triển kinh tế còn khác nhau, các doanh nghiệp tham gia
hoạt động trong điều kiện hội nhập cũng không giống nhau nên mức độ thu lợi
cũng có thể khác nhau. Chính vì vậy việc điều hoà các lợi ích giữa các quốc
gia và trong nội bộ quốc gia xét cả ở trên tầm vĩ mô và vi mô trở nên cực kỳ
quan trọng.
2. Sự ra đời của AFTA .
Xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá nền kinh tế thế giới đã đặt ra
những thử thách to lớn không thể vượt qua với hiệp hôị các quốc gia Đông
Nam á. Nếu không có sự cố gắng chung của toàn hiệp hội , đó là sự xuất hiện
của những tổ chức hợp tác khu vực như EU,NAFTA mà ASEAN e ngại sẽ trở
thành các khối thương mại khép kín. Do đó sẽ làm cho hàng hoá của ASEAN
vấp phải những trở ngại khi thâm nhập các thị trường này. Mặt khác AEAN
đang mất dần lợi thế so ánh về tài nguyên thiên nhiên và nguồn lực để thu hút

12
3. Danh mục sản phẩm nông sản chưa chế biến nhạy cảm, các mặt
hàng trong doanh mục này có thời hạn cắt giảm thuế quan muộn hơn, cụ thể là
năm 2010 hoăc muộn hơn nữa đối với mặt hàng nhạy cảm cao.
4. Danh mục loại trừ hoàn toàn gồm những sản phẩm không tham
gia Hiệp định CEPT. Đây là có ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, đạo đức…
Bên cạnh việc cắt giảm thuế quan ,CEPT còn quy định việc xoá bỏ hạn
chế về số lượng nhập khẩu , các rào cản phi thuế quan khác và lĩnh vực hợp
tác trong lĩnh vực hải quan.
Hiệp định CEPT áp dụng mọi sản phẩm chế tạo kể cả sản phẩm nông sản.
Muốn được hưởng ưu đãi giảm thuế trong khuôn khổ CEPT cần thoả mãn hai
điều kiện sau.
1. Phải là sản phẩm nằm trong doanh mục sản phẩm giảm thuế và
được hội đồng AFTA xác nhận.
2. Các sản phẩmphải có tối thiểu 40%giá trị được chế tạo từ các
nước thành viên Asean.
3. Sản phẩm đó phải nằm trong danh mục cắt giảm thuế của cả
nước nhập và nước xuất khẩu, và phải có mức thuế quan(nhập khẩu)bằng
hoặc thấp hơn 20%.

III. Sự cần thiết gia nhập AFTA của Việt Nam.
Chuyển sang nền kinh tế mở, Việt nam đanh từng bước hội nhập vào xu
thế tự do hoá thương mại toàn cầu, trong đó việc tham gia AFTA của VN
được coi là bước khởi đầu quan trọng nhất, có thể ví như cuộc diễn tập toàn
diện đầy đủ để chuẩn bị gia nhập diễn đàn hợp tác Châu Á - TBD cũng như tổ
chức thương mại thế giới WTO.

13
Ngày 28.7.1995, VN trở thành thành viên chính thức, với tư cách là
thành viên của hiệp hội, tháng 12 năm 1995 tại hội nghị thượng đỉnh các nước

trong khu vực, đội ngũ cán bộ còn yếu kém.
Trong hoàn cảnh như vậy ,Việt Nam tham gia vào AFTA là một tất yếu
không những vì Việt Nam đã là thành viên của ASEAN mà còn do những tác
động tích cực của nó đối với sự phát triển kinh tế của đất nước ta. Chính
những thực trạng khó khăn trên của Việt Nam lại là cơ hội để Việt Nam tham
gia AFTA
Hội nhập AFTA là điều kiện để Việt Nam đẩy mạnh quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HDH, phấn đấu đưa Việt Nam trở thành
một nước công nghiệp vào năm 2002.
Do Việt Nam phải cắt giảm thuế theo hiệp định CEPT nên giá cả hàng
hoá Asean nhập vào Việt Nam sẽ trở nên rẻ làm tăng số dư của người tiêu
dùng.
Hội nhập AFTA sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu hàng hoá sang
các nước Asean vì hàng rào của họ cũng được cắt giảm thuế bảo hộ như của
mình.
Một thị trường rộng lớn với đòi hỏi không quá cao về chất lượng sẽ được
mở ra cho các DNVN, thị trường tiêu dùng được mở rộng ra là một yếu tố
giúp VN huy động tiềm năng lao động và tài nguyên dồi dào của mình và tăng
xuất khẩu kể cả đối với các hàng hoá xuất khẩu sang thị trường ngoài Asean
thì lợi ích mà AFTA mang lại cho Việt Nam là giảm giá thành sản xuất nhờ

15
mua được vật tư đầu vào với gía hạ hơn từ các nước Asean. Chính điều đó làm
cho Việt Nam hấp dẫn hơn trong việc thu hút đầu tư nước ngoài.
Trước sự cạnh tranh khốc liệt khi nhà nước giảm thuế theo CEPT sẽ
buộc cả phiá nhà nước và phía các doanh nghiệp công nghiệp cố gắng hội
nhập, có những thay đổi trong tư duy, trong chính sách , chiến lược để tạo ra
môi trường pháp lý, kinh doanh, đầu tư hiệu quả hơn, học hỏi, tiếp thu nâng
cao trình độ để có thể tham gia vaò cuộc cạnh tranh đầy khốc liệt.
Hội nhập AFTA sẽ tạo điều kiện cho Việt Nam hình thành mở rộng hơn

Vốn cũng được củng cố tăng cường, nguồn vốn tăng 113% từ 59798 tỷ năm
1995 lên 127594 tỷ năm 2000.
Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã được tăng lên về số
lượng , giai đoạn 1996-2000 tăng thêm hơn 500 doanh nghiệp .Vốn đầu tư
tăng 28,5%/ năm.

17
Khu vực tư nhân cũng ngày càng phát triển cả về số lượng và phạm vi
hoạt động.
Thị trường trong nước thì các doanh nghiệp của ta ngày càng củng cố
được vai trò và chỗ đứng của mình, dần dần khôi phục lòng tin đối với khách
hàng thông qua chỉ tiêu chất lượng ngày càng được nâng cao, giá thành giảm
xuống, mẫu mã phong phú phù hợp với thị hiếu, nhu cầu khách hàng trong
nước và quốc tế.
b/ Hạn chế:
Tuy nhiên, đó chỉ là những thành tựu bước đầu nhỏ bé so với các nước
trong khu vực, chúng ta vẫn còn một khoảng cách khá xa cần vượt qua. Các
DNCNVN còn yếu thế và lực. Cơ sở hạ tầng , máy móc thiết bị của các doanh
nghiệp còn thiếu đồng bộ và lạc hậu. Ngoài các xí nghiệp do nước ngoài đầu
tư, các xí nghiệp công nghiệp trong nước chỉ có khoảng được coi là trang thiết
bị vào loại tương đối tiên tiến, tốc độ đổi mới thiết bị công nghệ còn khiêm
tốn, khoảng 10 –11%. Điều này đã hạn chế rất nhiều đối với nâng cao chất
lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất. Nhiều sản phẩm sản xuất trong nước
có giá cao hơn sản phẩm cùng loại nhập khẩu từ 20 –40%.
Các DNCNVN hiện nay vẫn chưa coi trọng vấn đề nâng cao chất lượng
sản phẩm để tăng klhả năng cạnh tranh. Đến giữa năm 1999, cả nước mới có
trên 100 doanh nghiệp được cấp chứng nhận tiêu chuẩn chất lượng ISO 9000,
trong đó DNNN chiếm 70%, riêng vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ mới có 16
xí nghiệp. Phần nhiều các DNCNVN phải dựa vào đối tác nước ngoài biểu
trưng, thiết kế sản phẩm, quy trình công nghệ tiếp thị và phân phối sản phẩm.

chính bao cấp mang tính xin cho với thủ tục phiền hà thiếu tính công khai.

19
Các DNQD chưa thực sự muốn bỏ lớp bảo vệ bên ngoài, chưa thực sự tiếp
nhận cơ chế thị trường một cách tích cực, thiếu năng động sáng tạo ở mọi lĩnh
vực, sự trì trệ trong cơ chế thị trường sẽ không có sự tồn tại. Các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh thì vốn và qui mô nhỏ, sợ thất bại chưa dám đầu tư sản xuất
kinh doanh với những cơ hội đem lại lợi nhuận lớn và độ rủi ro cao, thực sự
chưa đáng coi là nhà kinh doanh của thời kỳ hiện đại.
2/Vị thế hiện nay của các doanh nghiệp CNVN trong khu vực,
2.1/ Về mậu dịch:
Trong thời gian trước đây, Việt Nam chủ yếu buôn bán với các nước
thuộc Liên Xô cũ và Đông Âu. Hàng hoá nhập khẩu thường là nông sản thô
thông qua các nghị định thư kí kết giữa các chính phủ. Toàn bộ kim ngạch
xuất nhập khẩu nằm trong tay các DNNN.
Từ khi thực hiện chính sách đổi mới vào nằm 1996, số lượng các bạn
hàng buôn bán của Việt Nam được tăng lên đáng kể. Quan hệ thương mại Việt
Nam Asean tăng mạnh với tốc độ khoảng 27%/năm và ngày càng chiếm tỷ
trọng lớn trong cán cân thương mại. Thương mại Việt Nam – Asean chiếm tới
1/3 kim ngạch ngoại thương của Việt Nam trong đó xuất khẩu chiếm và
nhập khẩu chiếm 1/3. Quan hệ Thương mại khu vực vẫn nằm trong tay các
DNNN là chủ yếu.
Các mặt hàng xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu là chủ
yếu là nông sản thô, thực phẩm chiếm 48% , nhiên liệu chiếm 34% và các mặt
hàng chế tạo chiếm 18% (số liệu năm 1994) nghĩa là khi tham gia vào CEPT,
các doanh nghiệp Việt Nam được hưởng ưu đãi về thuế quan ít hơn so với các
doanh nghiệp các nước trong khu vực.
Các mặt hàng xuất khẩu Việt Nam sang ASEAN bao gồm : dầu thô,
đậu,cao su,chè, ngô, hạt điều, tiêu, rau quả tươi,thuỷ sản, thép, gỗ ,than, thiếc,



2.2/ Về sản xuất.
Như đã đề cập ở trên, hàng công nghiệp chế tạo xuất khẩu của Việt Nam
chỉ chiếm 18% tổng kim ngạch xuất khẩu, một con số rất khiêm tốn nếu đem
so sánh với con số tương ứngcủa các nước ASEAN khác. Các mặt hàng công
nghiệp chế tạo của Việt Nam hầu như chưa có mặt trên thị trường ASEAN,
ngược lại hàng hoá công nghiệp chế tạo của ASEAN đã thâm nhập khá sâu
vào Việt Nam. Trong số 15 nhóm hàng giảm thuế nhanh, các doanh nghiệp
sản xuất hàng xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian tới khó có thể có sản
phẩm để xuất khẩu. Hàng hoá do các doanh nghiệp Việt Nam sản xuất vừa
chưa có chất lượng được tin cậy lại chưa gây được ấn tượng về hình thức, kiểu
dáng. Ngành công nghiệp điện tử non trẻ của Việt Nam phải đương đầu với cú
sốc mạnh khi có sự nhập khẩu ồ ạt các sản phẩm điện tử ASEAN-một trong
những sản phẩm mà các nước ASEAN mạnh hơn chúng ta rất nhiều và rất chú
trọng khai thác thị trường hơn 80 triệu dân của Việt Nam.
Các Doanh Nghiệp Việt Nam có thế mạnh ở những ngành sử dụng nhiều
lao động do tiền lương ỏ Vệt Nam tươngđối thấp so với các nước ASEAN
khác. Tuy nhiên sản phẩm của các ngành này lại không được tiêu thụ chủ yếu
ở ASEAN mà xuất sang các khu vực khác. Do vậy, việc tham gia AFTA chưa
có tác động quan trọng đến các doanh nghiệp sản xuất những mặt hàng sử
dụng nhiều lao động
II> Cơ hội và thách thức đối với các DNCNVN khi hội nhập AFTA
1/ Cơ hội.

22
Quan điểm của DNVN hiện nay cho rằng tham gia vào AFTA, DNVN sẽ
gặp nhiều khó khăn, thách thức hơn là cơ hội . Lý giải điều này bắt nguồn từ
thực trạng yếu kém của DNCNVN cũng như năng lực cạnh tranh của
DNCNVN trước các đối tác ASEAN, đặc biệt là ASEAN 5. Tuy nhiên nếu
xem xét nội dung AFTA đối chiếu vào hoạt động của DNCNVN có thể thấy

1999
1,112
1,364
1,911
2,372
2,463
2,378
2,788
3,166
3,749
3,288
3,490(23,9%)
4,152(33,4%)
5,077(25,5%)
6,122(29,1%)
5,751(28,4%)

Nguồn (Vụ hợp tác đa biên, Bộ thương mại, tháng 5-2000 )
Thứ hai, thông qua AFTA, các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam có
cơ thuận lợi mở rộng hợp tác đầu tư, chuyển giao công nghệ, mua được nguồn
nguyên liệu đầu vào rẻ hơn từ các nước ASEAN, tận dụng lợi thế sẵn có về
nhân công, tài nguyên thiên nhiên trong nước nhằm nâng cao năng lực cạnh
tranh với các đối thủ cạnh tranh.
Khi môi trường thương mại nội bộ khu vực ngày càng tự do, cũng có
nghĩa là mức độ hội nhập giữa các thành viên ngày càng tăng lên: Các hình
thức liên kết khác như đầu tư nội bộ ASEAN (AIA), hợp tác công nghiệp
ASEAN (AICO), tài chính , năng lượng, GWT… đang tạo điều kiện cho các
DNCNVN một ’’sân chơi” rộng để có khả năng nâng cao hiệu quả và chất
lượng sản phẩm. Mặt khác, do có đảm bảo bằng cam kết đa phương nên các
nhà đầu tư ASEAN và nước ngoài yên tâm đầu tư và chuyển giao công nghệ

mới và nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh,tích cực áp dụng các
thành tựu khoa học công nghệ và cung cách làm ăn mới. Hơn nữa khi gia nhập
AFTA sẽ buộc và khuyến khích các DNCNVN tập trung vào những ngành
được hưởng ưu đãi và ngừng sản xuất những mặt hàng không đủ sức cạnh
tranh. Sức ép to lớn từ phía AFTA đòi hỏi các DNCNVN phải cố gắng nỗ lực


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status