vấn đề phát triển con người toàn diện ở việt nam hiện nay - Pdf 20

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong mọi thời đại lịch sử, vấn đề con người luôn là vấn đề trung tâm của
triết học. Học thuyết Mác là sự tiếp nối và là bước ngoặt trong nhận thức về phát
triển con người, nó tạo ra tiền đề lý luận để nhân loại bước sang một kỷ nguyên
mới, “con người từ vương quốc của tất yếu chuyển sang vương quốc của tự do”
và ngược lại “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự
do của tất cả mọi người”. Đây là bản chất nhân văn sâu xa của học thuyết Mác
và qua đó, nó định hướng cho sự phát triển tiến bộ tiếp theo của loài người.
Là người Việt Nam đầu tiên đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ
Chí Minh, hơn ai hết là người ý thức rõ, nhận thức sâu sắc học thuyết Mác về
con người và phát triển con người toàn diện. Tiếp thu và vận dụng sáng tạo học
thuyết đó của chủ nghĩa Mác vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng định: “con người là vốn quý nhất, chăm lo
cho hạnh phúc của con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta”, rằng
“muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết cần có những con người xã hội chủ
nghĩa”. Từ lập trường tư tưởng đó, mọi hoạt động của Hồ Chí Minh luôn luôn
“vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”. Và việc xây
dựng con người Việt Nam mới – con người phát triển toàn diện đã trở thành tư
tưởng quán xuyến, nhất quán trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của
Người. Và với Người, “bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau”, đào tạo
“những người thừa kế xây dựng xã hội chủ nghĩa”, có sự phát triển toàn diện,
“vừa hồng, vừa chuyên”, vừa có đức, vừa có tài, bao giờ cũng là “một việc rất
quan trọng và rất cần thiết”, là mối quan tâm hàng đầu.
Lấy chủ nghĩa Mác, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề con người và phát
triển con người toàn diện làm nền tảng tư tưởng, làm kim chỉ nam cho đường lối
và chiến lược phát triển con người toàn diện ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt
1
Nam đã ban hành và thực hiện trên thực tế đường lối và nhiều chủ trương, chính
sách, giải pháp phát triển con người Việt Nam mới - con người Việt Nam phát
triển toàn diện cả về trí lực lẫn thể lực, cả về khả năng lao động lẫn tính tích cực

ứng với những biến đổi mới trong lao động và cuộc sống còn chưa tốt, sự tự mãn
dẫn đến tinh thần học hỏi và trí tiến thủ còn yếu…. Nhiều vấn đề khác, như: sự
chênh lệch về mức sống và điều kiện sống của người dân giữa các vùng, miền,
các dân tộc, các bộ phận dân cư; tình trạng thất nghiệp còn nhiều; tình trạng mất
dân chủ trong xã hội làm cho quyền của một bộ phận không nhỏ nhân dân bị vi
phạm; sự yếu kém về y tế và trong công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng; sự
yếu kém, bất cập trong giáo dục - đào tạo; nạn ô nhiễm môi trường, bệnh dịch;
sự xuống cấp về văn hóa cũng như sự suy thoái về đạo đức, lối sống và thẩm
mỹ, v.v và v.v cũng đã và đang trở thành lực cản và là thách thức rất lớn cho
sự phát triển con người Việt Nam. Tất cả những vấn đề đó đặt ra: phải có một
công trình có khả năng cung cấp cơ sở lý luận, phương pháp luận và cơ sở thực
chứng khoa học, sát thực, khả thi nhằm đẩy mạng sự nghiệp xây dựng con người
Việt Nam mới – con người phát triển toàn diện, đáp ứng sự đòi hỏi của thực tiễn.
Với những lý do trên đây, chúng tôi chọn Vấn đề phát triển con người toàn
diện ở Việt Nam hiện nay làm đề tài nghiến cứu cho luận án tiến sĩ của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ quan niệm về phát triển con người toàn diện trong học
thuyết Mác, trong tư tưởng Hồ Chí Minh và trong quan điểm của Đảng Cộng sản
Việt Nam, luận án phân tích thực trạng, những vấn đề đặt ra trong phát triển con
người toàn diện ở Việt Nam hiện nay; từ đó, xác định định hướng, đề xuất một
số giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển con người toàn diện ở Việt Nam.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận án tập trung giải quyết các nhiệm vụ cụ
thể sau đây:
3
Thứ nhất, luận giải quan niệm của C.Mác, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan
điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển con người toàn diện.
Thứ hai, phân tích thực trạng và luận giải những vấn đề đặt ra trong phát
triển con người toàn diện ở Việt Nam trong những năm đổi mới vừa qua.

Để nghiên cứu và trình bày kết quả nghiên cứu, trong luận án này, chúng
tôi sử dụng các phương pháp như: phân tích và tổng hợp, lôgíc và lịch sử, tổng
hợp và khái quát hoá, đối chiếu và so sánh, thống kê
5. Những đóng góp mới về khoa học của luận án
- Luận án đã đưa ra và khẳng định: Phát triển con người toàn diện ở Việt
Nam hiện nay là sự phát triển toàn diện, hài hòa giữa con người cá nhân và con
người xã hội; giữa thể lực, trí lực và tâm lực; giữa đức và tài; giữa “hồng” và
“chuyên” trong mỗi con người; phát triển cá tính và sự phong phú của bản chất
con người, làm cho con người trở thành một nguồn lực chủ yếu, một chủ thể vẹn
toàn cả về năng lực lẫn phẩm chất, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay.
- Từ thực trạng phát triển con người toàn diện ở Việt Nam, luận án đã
đưa ra và luận giải một số vấn đề đặt ra: 1) Mâu thuẫn giữa yêu cầu khách
quan của sự phát triển nhanh về con người toàn diện với thực tế phát triển con
người toàn diện ở nước ta còn chậm; 2) Mâu thuẫn giữa yêu cầu cần phải tạo
ra những điều kiện kinh tế - xã hội thuận lợi cho phát triển con người toàn
diện với thực tế yếu kém, bất cập của những điều kiện này là trở lực đối với
phát triển con người toàn diện ở Việt Nam.
- Luận án xác định định hướng cơ bản và đề xuất, luận giải tính khả thi
của một số giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển con người toàn diện, đáp ứng
những đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển
kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay.
5
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Ở một mức độ nhất định, luận án góp phần làm sáng tỏ lý luận chung về
phát triển con người toàn diện.
- Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc xây dựng,
hoạch định chiến lược phát triển con người Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo.
- Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu,

hạn chế mà các đề tài đó mắc phải. Hơn nữa, cho phép chúng tôi tập trung vào
những điểm mới cần được nghiên cứu trong đề tài.
7
1.1. NHỮNG NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LÝ LUẬN CHUNG VỀ
PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TOÀN DIỆN
Cuốn sách Về vấn đề xây dựng con người mới [16], là công trình tập hợp
nhiều bài viết của một tập thể tác giả, ngoài phần mở đầu và kết luận, công trình
được chia làm hai phần. Phần thứ nhất, bao gồm các bài viết về những tư tưởng
về con người trong lịch sử triết học phương Đông, phương Tây. Phần thứ hai,
chia làm hai mục I và II, tập hợp bảy bài viết của các nhà khoa học. Các bài viết
trong cuốn sách đã khẳng định vấn đề con người là vấn đề trọng tâm được
nghiên cứu trong suốt quá trình lịch sử phát triển của tư tưởng của nhân loại. Xã
hội càng phát triển, sự nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò và cuộc sống của chính
bản thân con người càng được quan tâm hàng đầu. Chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời
là bước ngoặt cách mạng trong nghiên cứu con người và sự phát triển con người.
Dưới ánh sáng của Đại hội Đảng IV về nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới
và xây dựng con người Việt Nam mới, các tác giả đã luận giải một cách sâu sắc
các nội dung, tiêu chuẩn, phương thức và biện pháp để xây dựng con người Việt
Nam mới, trong bài: “Triết học và nhiệm vụ nghiên cứu vấn đề xây dựng con
người mới dưới ánh sáng của Đại hội Đảng lần thứ IV”, tác giả Phạm Như
Cương đã cho rằng: “Phương hướng chung của việc xây dựng con người mới xã
hội chủ nghĩa là con người phát triển toàn diện, cân đối, là chăm lo đến mọi mặt
của đời sống con người. Nhưng vấn đề cấp bách nhất hiện nay là xây dựng một
phong cách lao động mới: Lao động vì tập thể, lao động có kỷ luật, có kỹ thuật,
có năng xuất lao động cao, có hiệu quả lao động thiết thực. Biết lao động vì tập
thể thành nghĩa vụ của mỗi người, thành niềm vinh dự và tự hào cao nhất của
mỗi người, là cả một cuộc cách mạng sâu sắc về thái độ và kỷ luật lao động.
Một cuộc cách mạng như vậy trong ý thức, tâm lý của mỗi cá nhân và của cả xã
hội chỉ có thể là kết quả của sự kết hợp các biện pháp giáo dục, kinh tế, hành
chính, pháp luật” [16, tr.55-56].

9
tha hóa con người, giải phóng và phát triển con người. Lý luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin về con người thể hiện tính nhân văn, nhân đạo, khoa học và cách
mạng triệt để.
Cuốn sách: Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và chính sách xã hội [135]
được kết cấu theo hai chương: Chương 1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người;
Chương 2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách xã hội. Các tác giả của công
trình này đã trình bày tư tưởng của Hồ Chí Minh về con người và về chính sách
xã hội trong mối quan hệ biện chứng tạo thành một chỉnh thể. Các tác giả đã luận
giải những tác phẩm và những luận điểm của Hồ Chí Minh về con người; về sự
yêu thương, kính trọng con người; về vai trò và vị trí của các bộ phận quần
chúng nhân dân trong đấu tranh cách mạng. Trên cơ sở đó, các tác giả đã luận
giải nội dung của tư tưởng Hồ Chí Minh về các chính sách xã hội nhằm đảm bảo
công bằng và tiến bộ xã hội với mục tiêu cao quý là làm cho mọi người dân Việt
Nam có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện - cả
đức và tài, có lý tưởng cách mạng.
Đặng Hữu Toàn - một trong những nhà khoa học có nhiều tâm huyết trong
nghiên cứu về con người và phát triển con người Việt Nam. Trong bài “Phát
triển vì con người trong quan niệm của Mác và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nhằm mục tiêu phát triển con người ở nước ta hiện nay” [141], trên cơ sở
luận giải mục tiêu tối hậu trong quan điểm của C.Mác là vì sự nghiệp giải phóng
con người, tác giả đã luận giải một cách sâu sắc những quan điểm của Đảng
Cộng sản Việt Nam trong chỉ đạo sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì
mục tiêu phát triển con người Việt Nam. Cũng trong năm đó, trên Tạp chí Khoa
học xã hội, với tiêu đề "Phát triển con người Việt Nam toàn diện với tư cách là
mục tiêu, động lực của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [142],
tác giả tiếp tục khẳng định sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhằm mục
tiêu phát triển con người Việt Nam toàn diện, có đủ đức và tài, có chuyên môn
giỏi, có trình độ khoa, học kỹ thuật, có đạo đức và bản lĩnh chính trị Và chính
10

loại trong kỷ nguyên mới. Công trình cũng là cơ sở tham chiếu quan trọng cho vấn
đề phát triển con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá [48],
Cuốn sách do GS,VS Phạm Minh Hạc chủ biên, đây là một công trình khoa học
thể hiện sự nghiên cứu công phu của các tác giả về vấn đề phát triển con người
Việt Nam theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Cuốn sách được chia làm hai phần với
mười hai chương nội dung. Ở phần thứ nhất của cuốn sách, các tác giả đã trình
bày những cơ sở khoa học của chiến lược phát triển toàn diện con người Việt Nam
thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cơ sở lý luận cho chiến lược phát triển con
người toàn diện ở Việt Nam chính là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh. Bên cạnh đó, kinh nghiệm của nước ngoài về phát triển con người cũng là
cơ sở quan trọng trong việc phát triển con người Việt Nam. Đông thời, sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện hóa đất nước đã trở thành cơ sở thực tiễn của chiến lược
phát triển con người toàn diện ở Việt Nam. Các tác giả cũng đã đưa ra mô hình
nhân cách con người Việt Nam, con người Việt Nam là “Con người có lý tưởng
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, giữ gìn và phát huy
các giá trị văn hóa của dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại;
có ý chí kiên cường, có hoài bão lớn lao phát huy tiềm năng của dân tộc và con
người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, có tư
duy sáng tạo và có óc thực nghiệm, có kỹ năng thực hành giỏi, tay nghề cao, có
tác phong công nghiệp, có tính tổ chức và kỷ luật, tinh thần trách nhiệm cao, có
lòng nhân ái, tôn trọng và hợp tác được với người khác, có sức khỏe, có khả năng
tự hoàn thiện không ngừng, năng động và thích ứng, có tinh thần pháp luật và có
ý thức công dân, ý thức bảo vệ môi sinh, biết yêu cái đẹp” [48, tr.106-107]. Đó là
mô hình gắn bó chặt chẽ giữa đức và tài trong con người. Trong phần thứ hai, các
tác giả đã đưa ra định hướng chiến lược và luận giải những giải pháp cụ thể cho
việc phát triển con người Việt Nam trên bốn phương diện cơ bản là đạo đức, trí
tuệ, thẩm mỹ và thể chất.
12
Nguyễn Hữu Công trong Luận án tiến sỹ triết học, với đề tài: Tư tưởng Hồ

phóng ấy là tiến hành cuộc cách mạng vô sản, xây dựng thành công chủ nghĩa
xã hội và chủ nghĩa cộng sản” [170, tr.98].
Mấy vấn đề triết học về xã hội và phát triển con người [62], Cuốn sách
được kết cấu thành hai phần chính. Phần thứ nhất với nhan đề chủ nghĩa xã hội
và sự phát triển xã hội Việt Nam, được tác giả Nguyễn Văn Huyên trình bày
trong mười một chương nội dung. Trong phần này, trên cơ sở cho rằng chủ
nghĩa xã hội là xu hướng phát triển tất yếu của xã hội loài người, tác giả đã
khẳng định chỉ có chủ nghĩa xã hội mới là môi trường, điều kiện để tiến tới
phát triển con người Việt Nam. Phần thứ hai của cuốn sách với nhan đề lý
tưởng xã hội chủ nghĩa và vấn đề phát triển con người ở Việt Nam và được
trình bày trong mười chương nội dung. Tác giả cho rằng chủ nghĩa Mác - Lênin
là cơ sở lý luận quan trọng cho sự nghiệp phát triển con người Việt Nam
(chương 2), đồng thời tác giả đã đưa ra hướng tiếp cận mới về con người và
phát triển con người, theo tác giả “quá trình tiến bộ của lịch sử vươn tới tự do
- hạnh phúc, chính là quá trình giảm dần mẫu số hy sinh, chịu đựng, tăng dần
tử số thưởng ngoạn, hưởng thụ cho con người. Sáng tạo, cống hiến - tạo ra văn
hóa, làm phong phú thế giới xã hội bên ngoài và thưởng ngoạn, hưởng thụ - sự
văn hóa bản thân, làm giàu thế giới tinh thần bên trong - đó là một trong
những nội dung quan trọng nhất, cao cả nhất, tập trung nhất của đời sống con
người; đó cũng chính là nội dung quan trọng nhất của mục tiêu và chiến lược
phát triển con người hiện đại” [62, tr.153-154]. Từ đó tác giả cho rằng, con
người hiện đại là con người phải có trí tuệ, có kỹ năng nghề nghiệp, có trình độ
khoa học, kỹ thuật. Đặc biệt là phải biết sáng tạo, biết thưởng ngoạn - hưởng
thụ văn hóa. Rằng văn hóa, các giá trị nhân văn và kinh tế thị trường, môi
trường đô thi, văn hóa thẩm mỹ, nghệ thuật và giáo dục là những nhân tố cho
sự hình thành và phát triển các phẩm chất đó của con người hiện đại.
14
Cuốn sách Con người và phát triển con người: trong quan niệm của
C.Mác và Ph.Ăngghen [117], do Hồ Sĩ Quý chủ biên. Cuốn sách gồm 2
phần. Phần thứ nhất: Di sản kinh điển - những tư tưởng cơ bản về con người

cáo của một số chuyên gia đã có nhiều năm nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí
Minh như GS,VS,TSKH Nguyễn Duy Quý; GS Đặng Xuân Kỳ, đồng chí Việt
Phương, GS Hồ Tôn Trinh, ; nhiều nhà nghiên cứu tâm huyết với sự nghiệp giáo
dục và phát triển con người, như GS,VS Phạm Minh Hạc; GS,TS Phan Ngọc
Liên, Chính vì vậy, cuốn sách cung cấp cho những người nghiên cứu về Hồ
Chí Minh, nhất là nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và con người
Việt Nam phát triển toàn diện những cơ sở lý luận, phương pháp luận và luận cứ
hết sức quan trọng.
Giáo trình Con người và phát triển con người [119]. Cuốn giáo trình này
được chia làm 3 phần, Phần 1. Một số vấn đề lý luận về con người và phát triển
con người, luận giải quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về việc nghiên cứu
con người là một khoa học. Tiếp đến làm rõ vấn đề khái niệm con người, bản
chất con người, con người trong quan hệ với giới tự nhiên và vấn đề phát triển
con người. Đồng thời khẳng định: “Nghiên cứu con người nói chung và con
người Việt Nam nói riêng, hiện đang đứng trước những nhu cầu đặc biệt cấp
thiết đặt ra từ sự phát triển của bản thân khoa học và từ sự phát triển của đất
nước trong tương quan chung với sự phát triển của khu vực, của thế giới và của
nhân loại” [119, tr.127]. Phần 2. Trình bày một số vấn đề phương pháp luận và
phương pháp nghiên cứu con người. Trong phần này, nhiều hướng nghiên cứu
con người đã được tác giả đưa ra, như: nghiên cứu phát triển con người, nguồn
lực con người, con người trong quan hệ với văn hóa, với môi sinh, nhân cách con
người, tiềm năng con người, tài năng, danh nhân…, nghiên cứu phức hợp về con
người, nghiên cứu định lượng về con người…tác giả khẳng định việc nghiên cứu
con người cần phải có sự kết hợp chặt chẽ của nhiều ngành khoa học, cả khoa
học lý luận chung (triết học) và các khoa học chuyên biệt, mới có thể xem xét
con người một cách đúng đắn, toàn diện.
16
Vấn đề xây dựng con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, được trình bày trong phần thứ 3 của cuốn giáo trình. Trong đó,
những vấn đề đổi mới nhận thức lý luận về con người, con người Việt Nam

Nam. Cuốn sách là tài liệu tham khảo bổ ích cho việc nghiên cứu quan hệ biện
chứng giữa văn hóa và con người trong sự phát triển.
Nguyễn Thị Nga với bài: “Phát triển con người toàn diện ở Việt Nam những thập
niên đầu thế kỷ XXI” [105]. Tác giả bài viết khẳng định: “Con người là nhân tố
quan trọng nhất bảo đảm cho sự phát triển bền vững. Việc đầu tư cho sự phát
triển của con người không chỉ vì mục tiêu nhân văn mà còn là sự đầu tư có lợi
nhất cho sự phát triển bền vững”. Trên cơ sở luận giải một số vấn đề lý luận và
thực trạng về con người, phát triển con người toàn diện ở Việt Nam, tác giả đề
xuất một số giải pháp cơ bản có tính định hướng như những nguyên tắc cần được
quán triệt để có thể phát triển con người toàn diện.
Từ khi thành lập Đảng, nhất là trong những năm đổi mới vừa qua, Đảng ta
luôn coi phát triển con người là mục tiêu cao cả nhất và cũng là động lực lớn
nhất của cách mạng Việt Nam. Đặc biệt đại hội Đảng lần thứ XI, Đảng ta đã coi
phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong ba khâu đột phá trong
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020. Để nghị quyết của Đảng đi
vào cuộc sống, đã có nhiều công trình trình bày, phân tích và luận giải về những
chủ trương, đường lối và chiến lược phát triển con người Việt Nam theo các văn
kiện của Đảng, trong số đó, gần đây có các công trình như của PGS,TS Nguyễn
Thế Kiệt: “Xây dựng và phát triển con người, nâng cao chất lượng nguồn lực con
người trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay” [72]; Hoàng Đình Cúc:
“Vấn đề con người trong học thuyết Mác và phương hướng, giải pháp phát triển
con người cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay”
[15]; Trong cuốn Một số vấn đề triết học trong các văn kiện Đại hội XI của
Đảng [115], do PGS,TS Trần Văn Phòng và GS,TS Nguyễn Hùng Hậu đồng chủ
18
biên, có các bài: “Vấn đề phát huy nguồn lực con người ở Việt Nam hiện nay”
của PGS,TS Nguyễn Thế Kiệt; “Chiến lược phát triển con người trong Văn kiện
Đại hội XI của Đảng” của Bùi Thị Phương Thùy và bài “Phát huy nhân tố con
người theo tinh thần Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI” của PGS,TS Nguyễn
Thị Nga. Những chủ trương, phương hướng và chiến lược về phát triển nguồn

Lênin về con người) của cuốn sách, tác giả đã nhấn mạnh yêu cầu khách quan
của việc xây dựng con người Việt Nam trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Thực trạng xây dựng con
người Việt Nam được tác giả phân tích qua ba giai đoạn cơ bản: Con người Việt
Nam truyền thống (giai đoạn trước khi Đảng ra đời), con người Việt Nam trước
đổi mới và sau đổi mới. Nhìn chung, tác giả đã phân tích thực trạng xây dựng
con người gắn với bối cảnh lịch sử của cách mạng Việt Nam, bên cạnh việc nêu
lên những bản chất tốt đẹp của người Việt Nam, những thành quả đạt được, tác
giả cũng đã trình bày những hạn chế của việc xây dựng con người Việt Nam. Từ
thực trạng đó, tác giả đã thẳng thắn đặt ra bốn vấn đề cần giải quyết để xây dựng
con người Việt Nam đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa: Thứ nhất,
vấn đề cơ cấu lao động còn bất hợp lý và lạc hậu; thứ hai, trình độ học vấn và
trình độ chuyên môn còn thấp; thứ ba, chính sách xã hội ở nước ta còn bộc lộ
nhiều bất cập; thứ tư, quyền dân chủ của nhân dân còn nhiều vấn đề tiếp tục
phải giải quyết.
Trong phần hai của cuốn sách Về phát triển toàn diện con người thời kỳ
công nghiệp hoá, hiện đại hoá [48], để luận giải cho những định hướng lớn cũng
như các giải pháp cụ thể về chiến lược phát triển con người Việt Nam trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, các tác giả đã đưa ra những luận cứ, luận
chứng dựa trên những khảo sát thực trạng về phát triển con người Việt Nam trên
cả bốn phương diện là đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và thể chất. Những kết quả khảo
sát thực tiễn về phát triển con người Việt Nam giai đoạn trước năm 2001, đồng
thời những mục tiêu phát triển con người Việt Nam đến năm 2005, 2010, và
những giai đoạn tiếp theo mà Đảng và Nhà nước ta đưa ra đòi hỏi chúng ta phải có
những giải pháp thiết thực, hiệu quả, đồng bộ và có sự tham gia của nhiều cấp,
20
nhiều ngành, mọi tầng lớp nhân dân mới có thể xây dựng con người Việt Nam
phát triển toàn diện đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Trong cuốn sách Tư tưởng Hồ Chí Minh - phương pháp luận nghiên cứu
con người: Niên giám nghiên cứu [49], vấn đề thực trạng phát triển con người

thuộc phần thứ 3 của cuốn sách. Tác giả đã luận giải về chỉ số phát triển con người
HDI và HPI. Tác giả đã phân tích những thành tựu và hạn chế trong việc phát triển
con người Việt Nam những năm gần đây. Cách luận giải của tác giả về các chỉ số
này là cơ sở lý luận quan trong trong việc nghiên cứu thực trạng phát triển con
người ở Việt Nam. Theo tác giả,“Chỉ số phát triển con người HDI với tính hợp lý
đáng kể của nó là bộ công cụ nghiên cứu khá hữu hiệu về phát triển con người
được đông đảo cộng đồng thế giới chấp nhận…Tuy nhiên, đối với nhà nghiên cứu
và hoạch định chính sách xã hội, sự tỉnh táo nhất định là điều cần phải có, vì bộ
công cụ HDI có thể che giấu những khiếm khuyết của sự phát triển con người
trong thực tế” [119, tr.274-275].
Nguyễn Hữu Châu (chủ biên), Giáo dục Việt Nam những năm đầu thế kỷ
XXI [12]. Cuốn sách chia làm 6 chương, đề cập một cách toàn diện về mạng
lưới, quy mô, chất lượng, đội ngũ giáo viên, chương trình, quản lý giáo dục, mức
đầu tư cho giáo dục, phương pháp giảng dạy và chiến lược phát triển, các cấp
bậc học từ giáo dục đại học trở xuống của cả hệ thống giáo dục, đào tạo công lập
và ngoài công lập. Nội dung cuốn sách là tư liệu quan trọng cho việc nghiên cứu
thực trạng phát triển con người Việt Nam ở phương diện trí lực.
Phùng Danh Cường, “Phát triển con người ở Việt Nam hiện nay: Thực trạng
và giải pháp” [19]. Tác giả đã đi luận giải thực trạng phát triển con người Việt
Nam trong những năm gần đây. Bên cạnh những thành tựu đạt được, còn một số
hạn chế nhất định trên các bình diện: chỉ số HDI, giáo dục và đào tạo, công tác
phát triển y tế - chăm sóc sức khỏe nhân dân và thành tích trong xóa đói giảm
nghèo. Bằng cách tiếp cận của Chương trình phát triển liên hợp quốc (UNDP),
trong bài “Thực trạng về sự phát triển con người Việt Nam qua chỉ số HDI” [21],
22
tác giả tiếp tục luận giải, phân tích những thành tựu và hạn chế phát triển con
người Việt Nam qua chỉ số HDI và vạch ra một số điểm mới trong nghiên cứu
con người qua chỉ số này. Các công trình này là tư liệu quan trọng cho việc
nghiên cứu thực trạng phát triển con người Việt Nam.
Nguyễn Đình Tuân, “Báo cáo phát triển con người 2010: Xu hướng phát

Quốc gia về phát triển con người năm 2011: “Dịch vụ xã hội vì sự phát triển
con người”. Báo cáo gồm 2 phần chính: phần 1 (3 chương), trình bày khung
phân tích, quan điểm phát triển, con người và xu hướng phát triển con người ở
Việt Nam. Phần 2 (3 chương), phân tích những thách thức mà người dân gặp
phải trong tiếp cận các dịch vụ y tế và giáo dục. Các công trình này đã đề cập
một cách chi tiết đến mức cụ thể về các mặt của sự phát triển con người Việt
Nam. Vì vậy, các công trình đó là tài liệu quan trọng trong nghiên cứu thực
trạng phát triển con người Việt Nam.
1.3. NHỮNG NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỊNH HƯỚNG VÀ
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TOÀN DIỆN Ở VIỆT NAM
Bài viết của Đặng Xuân Kỳ: “Những phương thức và biện pháp xây dựng
con người mới”, trong Vấn đề xây dựng con người mới [16]. Tác giả bài viết cho
rằng, quá trình xây dựng con người mới không phải là quá trình đơn giản, riêng
rẽ và khép kín, mà là một quá trình mở và “để xây dựng con người mới, chúng
ta phải tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng - cách mạng về quan hệ sản
xuất, cách mạng khoa học kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hóa Trong ba
cuộc cách mạng, cách mạng tư tưởng và văn hóa có nhiệm vụ trọng tâm là xây
dựng con người mới; bởi vì nó là động lực trực tiếp đến các mặt của con người
như nhận thức, tư tưởng, tình cảm, tác phong, lối sống” [16, tr.466].
Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá do
Phạm Minh Hạc (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001. Trong phần
hai (Định hướng chiến lược phát triển toàn diện con người Việt Nam thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước) của cuốn sách, các tác giả đã nêu lên
những tư tưởng và mục tiêu chung về chiến lược phát triển toàn diện con người
24
Việt Nam (chương 6); định hướng chiến lược xây dựng con người Việt Nam về
đạo đức (chương 7), về trí tuệ (chương 8), về thẩm mỹ (chương 9), về thể chất
(chương 10) và định hướng phát triển năng lực nghề nghiệp (chương 11). Trong
mỗi định hướng lớn đó, các tác giả đã đưa ra những mục tiêu, yêu cầu, nguyên
tắc cụ thể về việc phát triển con người Việt Nam. Đồng thời luận giải những giải


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status