TIỂU LUẬN KINH TẾ QUỐC TẾ - Pdf 20

Đề bài
Câu 1: Phân tích lợi thế so sánh trong xuất khẩu của Việt Nam hiện nay?
Câu 2: Trong thập kỷ vừa qua đầu tư FDI của Hoa Kỳ sang Mexico tăng
mạnh. Bạn hãy cho biết điều này sẽ tác động như thế nào đối với di chuyển
lao động từ Mexico sang Hoa Kỳ ? (giả sử những yếu tố khác không đổi).
Bài làm
Câu 1: Năm 1986, Việt Nam bắt đầu thực hiện đường lối Đổi mới với ba trụ
cột, chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang vận hành theo cơ
chế thị trường, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần trong đó khu vực dân
doanh đóng vai trò ngày càng quan trọng, chủ động hội nhập kinh tế khu vực
và thế giới một cách hiệu quả và phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt
Nam.
Sau hơn hai mươi năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành
tựu to lớn, nền kinh tế Việt Nam luôn duy trì được tốc độ tăng trưởng khá
cao liên tục trong nhiều năm. Việc trở thành thành viên của Tổ chức Thương
mại Thế giới (WTO) thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam hội nhập sâu, rộng hơn
vào kinh tế thế giới, cơ hội tranh thủ các nguồn lực bên ngoài để đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Việt Nam đặt mục tiêu phấn đấu đến năm
2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Luật đầu tư nước ngoài năm 1987 là văn bản luật đầu tiên góp phần tạo ra
khung pháp lý cho việc hình thành nền kinh tế thị trường tại Việt Nam.
Cùng với việc xây dựng luật, các thể chế thị trường ở Việt Nam cũng từng
bước được hình thành. Chiến lược cải cách hành chính giai đoạn 2001-2010
là một quyết tâm của Chính phủ Việt Nam, trong đó nhấn mạnh việc sửa đổi
các thủ tục hành chính, luật pháp, cơ chế quản lý kinh tế… để tạo ra một thể
chế năng động, đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới.
Các quan hệ kinh tế đối ngoại đã trở nên thông thoáng hơn, thu hút
được ngày càng nhiều các nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, mở rộng
thị trường cho hàng hóa xuất khẩu và phát triển thêm một số lĩnh vực hoạt
động tạo ra nguồn thu ngoại tệ ngày càng lớn như du lịch, xuất khẩu lao
động, kiều hối

đang đàm phán hiệp định đầu tư với Mỹ, Hiệp định khung Đối tác và Hợp
tác toàn diện (PCA) với EU, hiệp định đối tác kinh tế toàn diện với Nhật
Bản. Tháng 01 năm 2007, Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương
mại Thế giới (WTO), có quan hệ với trên 220 quốc gia và vùng lãnh thổ,
đánh dấu sự hội nhập toàn diện và đầy đủ của Việt Nam vào nền kinh tế toàn
cầu.
Từ sau đổi mới, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam mỗi năm tăng
khoảng 20%, nhờ đó đã đưa tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam từ mức
khoảng nửa tỷ USD/năm trong những năm trước đổi mới lên 48,4 tỷ USD
năm 2007 và 62,7 tỷ USD năm 2008. Kim ngạch nhập khẩu năm 2008 của
Việt Nam là 80,4 tỉ USD. Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu có sự chuyển dịch tiến
bộ. Trong giai đoạn 1991-1995, hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam gồm
dầu thô, thủy sản, gạo, dệt may, cà phê, lâm sản, cao su, lạc, hạt điều. Đến
năm 2008, các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là dầu thô, dệt may, giày dép,
thủy sản, sản phẩm gỗ, điện tử, máy tính và gạo. Cơ cấu này phản ánh xu
hướng gia tăng các chủng loại mặt hàng chế biến, chế tạo, và sự giảm đi về
tỷ trọng của các mặt hàng xuất khẩu thô, chủ yếu là các mặt hàng nông, lâm,
hải sản và khoáng sản. Dù vậy, các mặt hàng xuất khẩu thô của Việt Nam
đến nay vẫn còn chiếm tỷ trọng cao, đòi hỏi sự nỗ lực hơn nữa để tăng
nhanh các mặt hàng công nghiệp xuất khẩu.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài: Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban
hành tháng 12/1987 đã tạo khuôn khổ pháp lý cơ bản cho các hoạt động đầu
tư nước ngoài trực tiếp tại Việt Nam. Luật đã có một số lần được sửa đổi, bổ
sung, nổi bật là các lần sửa đổi vào những năm 1996 và năm 2002 nhằm tạo
môi trường đầu tư thông thoáng, hấp dẫn hơn để khuyến khích các nhà đầu
tư nuớc ngoài đầu tư vào những mục tiêu trọng điểm và những lĩnh vực ưu
tiên, nhất là trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo hướng vào xuất khẩu
và các vùng kinh tế trọng điểm của đất nước.
Việc ban hành Luật Đầu tư 2005 đã tạo bước tiến dài trong việc điều
chỉnh, cải tiến môi trường đầu tư của Việt Nam để tạo thêm hấp dẫn đối với

hàng có lợi thế truyền thống của VN như nông sản, thực phẩm, cà phê, hàng
may mặc
Để đối phó với thách thức từ AFTA và Trung Quốc, Việt Nam cần
nhanh chóng tăng sức cạnh tranh của một loạt các ngành công nghiệp xét ra
có lợi thế so sánh để chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu sang Trung Quốc và các
nước ASEAN. Như vậy có hai câu hỏi cần trả lời: Một là, Việt Nam có lợi
thế so sánh trong những ngành nào? Hai là, làm sao để nhanh chóng tăng sức
cạnh tranh của những ngành đó?
1. Lợi thế so sánh tĩnh và động của Việt Nam
Lợi thế so sánh tĩnh là lợi thế hiện tại, có ngành đã phát huy được, cạnh
tranh mạnh mẽ trên thị trường quốc tế, nhưng cũng có ngành chưa phát huy
được do môi trường hoạt động của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế. Lợi thế
so sánh động là lợi thế tiềm năng sẽ xuất hiện trong tương lai gần hay xa khi
các điều kiện về công nghệ, về nguồn nhân lực và khả năng tích luỹ tư bản
cho phép. Nếu có chính sách tích cực theo hướng tạo ra nhanh các điều kiện
đó sẽ làm cho lợi thế so sánh động sớm chuyển thành sức cạnh tranh hiện
thực.
Để dễ phân tích, ta có thể chia các ngành công nghiệp thành năm nhóm:
Nhóm A: Những ngành có hàm lượng lao động cao, chủ yếu là lao động
giản đơn, như vải vóc, quần áo, giày dép, dụng cụ lữ hành, dụng cụ du lịch,
v.v
Nhóm B: Những ngành vừa có hàm lượng lao động cao vừa sử dụng nhiều
nguyên liệu nông lâm thuỷ sản như thực phẩm gia công các loại, đồ uống,
v.v
Nhóm C: Những ngành có hàm lượng tư bản cao và dựa vào nguồn tài
nguyên khoáng sản như thép, hoá dầu.
Nhóm D: Những ngành có hàm lượng lao động cao, chủ yếu là lao động
lành nghề, lao động có kỹ năng cao với nhiều trình độ khác nhau, như đồ
điện gia dụng, xe máy, máy bơm nước và các loại máy móc khác, bộ phận
điện tử, linh kiện điện tử, v.v

điểm liên quan đến chiến lược, biện pháp như sau:
Thứ nhất, cần chuyển từ chiến lược, chính sách thay thế nhập khẩu
sang chiến lược xúc tiến xuất khẩu. Hầu hết các ngành thuộc hai nhóm D và
E đều đang sản xuất tại Việt Nam nhưng có một đặc tính chung là sản xuất
chủ yếu cho thị trường nội địa, được bảo hộ bằng thuế quan ở cả sản phẩm
cuối cùng và sản phẩm trung gian. Chính sách đánh thuế cao trên linh kiện,
bộ phận để tăng tỷ lệ nội địa hoá đã làm tăng giá thành sản phẩm lắp ráp, sản
phẩm này do đó phải được bảo hộ trong thị trường nội địa. Hơn nữa, chỉ sản
xuất cho thị trường nội địa nên quy mô sản xuất quá nhỏ không phát huy
tính quy mô kinh tế. Tính quy mô kinh tế là hiệu quả trong đó phí tổn sản
xuất của một đơn vị sản phẩm giảm theo lượng tăng của quy mô sản xuất.,
càng làm cho giá thành tăng. Đó là cái vòng luẩn quẩn cản trở sức cạnh
tranh. Trong quá khứ, nhiều nước châu Á cũng theo chính sách này nhưng
phải tốn nhiều năm mới có sức cạnh tranh và chuyển sang xuất khẩu. Tuy
nhiên, Việt Nam bây giờ không thể theo chiến lược này vì phải giảm thuế
trong các chương trình tự do hoá thương mại, trước mắt là với ASEAN và
sau này với Trung Quốc.
Như vậy, chính sách vừa giữ mức thuế quan cao đối với linh kiện, bộ phận
nhưng vừa cho tự do nhập khẩu sản phẩm nguyên chiếc trong khuôn khổ
AFTA đang đặt các ngành điện, điện tử gia dụng và các ngành máy móc
khác của Việt Nam trước một thách thức rất lớn là không thể cạnh tranh
được với hàng nhập từ ASEAN và Trung Quốc, và do đó nhiều công ty đa
quốc gia có thể sẽ phải đóng cửa nhà máy tại Việt Nam, chuyển sang sản
xuất tại Thái Lan và các nước có quy mô sản xuất lớn với các ngành công
nghiệp phụ trợ đã phát triển. Như đã đề cập ở trên, các công ty của Nhật
đánh giá cao tiềm năng của Việt Nam, và theo tính toán của những công ty
đã đầu tư tại nước ta trong ngành điện điện tử gia dụng, nếu vấn đề linh kiện,
bộ phận được giải quyết, các sản phẩm nguyên chiếc của Việt Nam có khả
năng xuất khẩu sang Nhật và các thị trường lớn khác, và dưới thể chế AFTA
có thể xuất khẩu sang nhiều nước ASEAN. Trong trường hợp đó, quy mô

nhưng yếu tố quy định phân phối là môi trường đầu tư trong đó hạ tầng phần
cứng (hệ thống giao thông, thông tin, v.v.) và phần mềm (thủ tục hành chính,
thuế quan, luật lệ, quy định, v.v.) có vai trò quyết định. Phí tổn liên quan đến
việc này còn được gọi là phí tổn nối kết dịch vụ, đang ngày càng trở thành
yếu tố quan trọng cho việc đánh giá môi trường đầu tư. Về ý nghĩa và liên
quan giữa phí tổn nối kết dịch vụ với FDI.
Thứ ba, cần đẩy mạnh sự liên kết giữa các công ty FDI với các loại
doanh nghiệp trong nước như doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư
nhân. Các công ty trong nước (nhà nước và tư nhân) có thể đẩy mạnh liên
kết với các công ty đa quốc gia ở hai mặt: liên kết hàng dọc và liên kết hàng
ngang.
Liên kết hàng dọc là nỗ lực cung cấp bộ phận, linh kiện cho các công
ty FDI, góp phần đưa nền công nghiệp cả nước tiến về thượng nguồn trong
chuỗi giá trị.
Liên kết hàng ngang là tiến hành hợp tác với các công ty đa quốc gia về
nhiều mặt để sản xuất và xuất khẩu ra thị trường thế giới.
Câu 2: Xét về mặt lý thuyết, khi đầu tư trực tiếp nước ngoài, nước đầu tư sẽ
tăng được GNP; tăng hiệu quả sử dụng vốn, mở rộng chiếm lĩnh thị trường
tiêu thụ và cung cấp nguyên liệu, giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm; tránh
được hàng rào bảo hộ mậu dịch của nước sở tại; Tuy nhiên nguy cơ rủi ro sẽ
cao hơn trong nước và có thể làm suy thoái nước chủ nhà.
Đối với đơn vị tiếp nhận đầu tư sẽ có rất nhiều thuận lợi như tăng quy
mô GDP, khai thác được nhiều nguồn vốn bên ngoài, tiếp thu công nghệ và
bí quyết quản lý, khai thác có hiệu quả lợi thế của đất nước, tăng số lượng
việc làm, đào tạo được lực lượng nhân công, có nguồn thu ngân sách lớn.
Tuy nhiên nước nhận đầu tư sẽ có thể tiếp cận với công nghệ lạc hậu, nguồn
tài nguyên có thể bị khai thác quá mức.
Giả sử, trong thập kỷ vừa qua đầu tư FDI của Hoa Kỳ sang Mexico tăng
mạnh, điều này sẽ tác động đối với di chuyển lao động từ Mexico sang Hoa
Kỳ (giả sử những yếu tố khác không đổi).

phát triển giàu có sẽ giúp cho nước bị chảy máu chất xám giải quyết được
tình trạng dư thừa lao động, đem về một lượng ngoại tệ rất lớn. Do vậy, các
nhà phân tích khuyến cáo cần phải có cái nhìn tỉnh táo hơn về hiện tượng
vẫn quen gọi là chảy máu chất xám. Trong những tình huống mà phải dùng
biện pháp hành chính để kìm hãm nó là thất sách, cần phải có biện pháp
đồng bộ để chất xám được sử dụng đúng cách sao cho có lợi nhất cho cả xã
hội và bản thân người lao động./.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status