Thuốc cầm máu trong điều trị xuất huyết tiêu hóa - Pdf 20

Thuốc cầm máu trong điều trị
xuất huyết tiêu hóa Xuất huyết tiêu hóa là hiện tượng máu chảy ra khỏi mạch máu, mà
mạch máu ấy lại nằm trong ống tiêu hóa. Biểu hiện lâm sàng chủ yếu là
nôn ra máu, đi ngoài phân đen. Đây là một cấp cứu nội khoa và ngoại
khoa. Xuất huyết tiêu hóa gặp cả nam và nữ, gặp ở mọi lứa tuổi nhưng
nam giới gặp nhiều hơn nữ giới; tuổi hay gặp từ 20-50. Các yếu tố thuận
lợi là lúc thời tiết chuyển mùa từ xuân sang hè, từ thu sang đông, sau cảm
cúm, hoặc dùng một số thuốc như aspirin, corticoid , sau các sang chấn
tâm lý mạnh Có rất nhiều nguyên nhân gây ra xuất huyết tiêu hóa như loét
dạ dày tá tràng, xơ gan mất bù, do dùng thuốc, do ung thư dạ dày và vì thế
ít nhiều chiến thuật điều trị sẽ khác nhau tùy theo nguyên nhân. Tuy nhiên
trong phạm vi bài viết này chỉ đề cập đến vấn đề cầm máu trong điều trị xuất
huyết tiêu hóa.
Xuất huyết tiêu hóa biểu hiện như thế nào?
Tùy theo nguyên nhân mà có các biểu hiện khác nhau, tuy nhiên các
biểu hiện thường gặp:
Nôn ra máu: Số lượng từ 100ml - 1.000ml hoặc nhiều hơn nữa tùy
theo mức độ, máu thành cục (hạt ngô, hạt đỗ), màu nâu xẫm, nhờ nhờ đỏ, lẫn
với thức ăn, dịch nhày loãng.
Trong trường hợp bệnh nhân nôn ra máu cần loại trừ các trường hợp:
Ho ra máu (máu ra ngay sau khi ho, máu đỏ tươi lẫn bọt, máu ra nhiều lần
rải rác trong nhiều ngày có phản ứng kiềm); Chảy máu cam (máu chảy theo
đường mũi, đỏ tươi và khạc ra đường mồm) có khi bệnh nhân nuốt vào nên
nôn ra máu cục. Hoặc uống những thuốc có màu đen (than), ăn tiết canh rồi
nôn ra. Muốn phân biệt cần xem kỹ chất nôn và hỏi kỹ bệnh nhân.
Đi ngoài phân đen: Sột sệt, nát lỏng như bã cà phê, mùi thối khắm
(như cóc chết), 2-3 lần trong vòng 24 giờ.
Gặp bệnh nhân đi ngoài phân đen cần loại trừ các trường hợp sau:

Vitamin K ống 5mg: Vitamin K giúp tăng tạo prothrombin góp phần
cầm máu. Chỉ định tốt trong chảy máu đường mật, nhưng chức năng gan còn
tốt.
Hemocaprol: Ống 10ml (tương đương với 2g axit
epsilonaminocaproic) tác dụng ức chế plasminogen ngăn không cho
plasminogen chuyển thành plasmin (plasmin có tác dụng làm tan cục máu
đông). Vì không có plasmin nên cục máu đông chậm tan, kéo dài thời gian
cầm máu. Chỉ dùng 3-4 ngày tiêm bắp, tĩnh mạch hoặc uống (liều uống phải
tăng gấp đôi liều tiêm). Dùng trong xuất huyết tiêu hóa ở bệnh nhân có rối
loạn đông máu.
Truyền máu tươi cùng nhóm. Liều truyền đầu tiên ít nhất 300ml mới
có hiệu lực cầm máu. Có thể truyền máu dự trữ hoặc truyền trực tiếp (người
cho - người nhận) qua máy. Nếu không có máu thì dùng dung dịch thay thế:
Huyết tương khô (Dried Human Plasma Humain sec); Dextran (Dextran 70);
huyết thanh ngọt, huyết thanh mặn.
Chú ý: không dùng long não (vì làm giãn mao mạch); cafein (vì tăng
tiết toan dạ dày), noradrenalin (vì cung lượng tim trong xuất huyết tiêu hóa
giảm, sẽ làm giảm mạch trung ương (mạch vành ) thuốc làm co mạch ngoại
vi máu không về trung ương sẽ gây nguy hiểm.
Ngoài các biện pháp chung như trên, tùy theo nguyên nhân, điều kiện
trang bị và trình độ nhân viên y tế mà có thể sử dụng các biện pháp cầm máu
khác để điều trị như đặt sonde Blakemore (trong chảy máu do giãn vỡ tĩnh
mạch thực quản), các can thiệp cầm máu qua nội soi Chỉ xem xét điều trị
ngoại khoa khi nội soi thấy máu chảy thành tia, hoặc khi điều trị cơ bản
trong vòng 72 giờ không cầm được máu, hoặc khi chảy máu nặng tái diễn
nhiều lần.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status