Khóa luận tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu.
Trong nền kinh tế thị trường thời kỳ mở cửa và hội nhập, kế toán với chức
năng của mình có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phản ánh và cung cấp
thông tin kinh tế tài chính phục vụ trực tiếp cho công tác quản lý kinh tế tài chính
của nhà nước. Đồng thời, nó là công cụ quan trọng để các doanh nghiệp tổ chức
và quản lý sản xuất kinh doanh.
Để tồn tại và phát triển tuân theo các quy luật khắt khe của nền kinh tế, các
doanh nghiệp phải năng động về mọi mặt, phải biết tận dụng các biện pháp kinh
tế một cách linh hoạt khéo léo và hiệu quả. Trong đó không thể thiếu quan tâm
đến công tác tổ chức kế toán nói chung cũng như công tác kế toán nguyên, vật
liệu nói riêng. Bởi lẽ nguyên, vật liệu là yếu tố cơ bản cấu thành nên giá thành
sản phẩm, tổ chức kế toán nguyên, vật liệu tốt sẽ đảm bảo cho việc cung cấp đầy
đủ kịp thời các nguyên, vật liệu cần thiết cho quá trình sản xuất, kiểm tra giám
sát việc chấp hành các định mức dự trữ, tiêu hao nguyên vật liệu trong quá trình
sản xuất góp phần giảm bớt chi phí nâng cao doanh lợi cho công ty. Với công ty
chuyên về sản xuất các thiết bị nhựa y tế, thì yêu cầu của việc quản lý nguyên,
vật liệu cũng mang một ý nghĩa hết sức quan trọng.
Xuất phát từ những lý do trên và qua thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần
Nhựa Y tế MEDIPLAST, em đã đi sâu tìm hiểu thực tế và nhận thấy được tầm
quan trọng của nguyên, vật liệu đối với quá trình sản xuất, sự cần thiết phải tổ
chức quản lý nguyên vật liệu và công tác kế toán nguyên, vật liệu của công ty.
Với những kiến thức thu nhận được trong quá trình học tập, sự giúp đỡ nhiệt tình
của các cô, chú, anh, chị trong phòng tài chính kế toán cũng như trong toàn công
ty, đặc biệt là sự hướng dẫn nhiệt tình của PGS.TS Nguyễn Văn Công, em đã đi
sâu nghiên cứu đề tài: “Kế toán nguyên, vật liệu tại Công ty Cổ phần Nhựa
Y tế MEDIPLAST”.
Nguyễn Thị Quỳnh Dương Lớp: Kế toán 47C
Khóa luận tốt nghiệp
2. Mục đích và phạm vi nghiên cứu của đề tài.
nghiệp.
Trong doanh nghiệp sản xuất nguyên, vật liệu là đối tượng lao động, là cơ
sở để hình thành nên sản phẩm mới. Nguyên, vật liệu chiếm tỷ trọng lớn trong
tổng chi phí sản xuất, khi tham gia vào quá trình sản xuất thường cấu thành nên
thực thể của sản phẩm. Trong doanh nghiệp nguyên, vật liệu được thể hiện dưới
dạng vật hóa như: sắt, thép trong doanh nghiệp cơ khí chế tạo, da trong doanh
nghiệp đóng giày, sợi trong doanh nghiệp dệt, nhựa trong doanh nghiệp sản xuất
dụng cụ nhựa y tế…
Đặc điểm chính của nguyên, vật liệu là nguyên, vật liệu chỉ tham gia vào
một chu kỳ sản xuất kinh doanh, và hình thái vật chất ban đầu sẽ được thay đổi
để tạo nên thực thể của sản phẩm. Giá trị của nguyên, vật liệu sẽ được chuyển
dịch toàn bộ vào giá trị sản phẩm, do đó giá trị nguyên, vật liệu dùng để sản xuất
sản phẩm được tính toàn bộ vào giá thành sản phẩm. Đặc điểm này xếp nguyên,
vật liệu vào nhóm tài sản lưu động của đơn vị. Việc tăng tốc độ lưu chuyển vốn
kinh doanh không thể tách rời việc dự trữ và sử dụng nguyên, vật liệu.
Nguyên, vật liệu là yếu tố đầu vào không thể thiếu trong quá trình sản xuất,
kinh doanh của các doanh nghiệp sản xuất. Mỗi doanh nghiệp sử dụng rất nhiều
loại nguyên, vật liệu khác nhau về chủng loại và công dụng tuy nhiên chi phí về
nguyên, vật liệu thường chiếm tỉ trọng lớn trong toàn bộ chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm. Bên cạnh đó nguyên, vật liệu còn là nguồn dự trữ quan trọng để
đảm bảo quá trình sản xuất được diễn ra liên tục. Do đó nguyên, vật liệu có đảm
bảo quy cách, chủng loại và đa dạng thì sản phẩm sản xuất mới đạt yêu cầu và
phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của xã hội.
Xuất phát từ những đặc điểm đó thì doanh nghiệp phải tiến hành quản lý
chặt chẽ nguyên, vật liệu ở tất cả các khâu cả về số lượng, chất lượng, chủng loại
Nguyễn Thị Quỳnh Dương Lớp: Kế toán 47C
Khóa luận tốt nghiệp
và giá cả. Việc cung cấp nguyên, vật liệu không kịp thời sẽ làm ảnh hưởng đến
cả quá trình sản xuất, việc quản lý nguyên, vật liệu không tốt sẽ làm ảnh hưởng
đến chất lượng sản phẩm, ảnh hưởng năng lực sản xuất và làm cho vốn khó luân
- Vật liệu khác: là các loại vật liệu không được xếp vào các loại trên. Các
loại vật liệu này do quá trình sản xuất loại ra như phế liệu các loại, vật liệu thu
hồi do thanh lý TSCĐ…
Ngoài ra trên thực tế, tùy theo yêu cầu quản lý mà từng loại nguyên, vật
liệu lại được chia thành từng thứ, từng nhóm cụ thể.
Căn cứ vào nguồn gốc hình thành, nguyên vật liệu được chia thành:
- Nguyên liệu, vật liệu mua ngoài: do mua ngoài, nhận vốn góp liên doanh,
được biếu tặng…
- Nguyên liệu, vật liệu tự chế biến, gia công: do doanh nghiệp tự sản xuất.
- Vật liệu khác: là các loại vật liệu hình thành do được cấp phát, biếu tặng,
góp vốn liên doanh
Cách phân loại này làm căn cứ cho việc lập kế hoạch thu mua và kế hoạch
sản xuất nguyên, vật liệu, là cơ sở để trị giá vốn thực tế nguyên, vật liệu nhập
kho.
Căn cứ vào mục đích và nơi sử dụng, nguyên, vật liệu được chia thành:
- Nguyên, vật liệu trực tiếp dùng cho sản xuất kinh doanh.
- Nguyên, vật liệu dùng cho công tác quản lý: bao gồm: nguyên vật liệu
dùng cho quản lý ở các phân xưởng, bộ phận bán hàng, bộ phận quản lý doanh
nghiệp.
- Nguyên, vật liệu dùng cho các mục đích khác: gốp vốn liên doanh, biếu
tặng…
Bên cạnh đó, tùy theo yêu cầu của kế toán quản trị, nguyên, vật liệu có thể
được phân loại chi tiết theo nhiều tiêu thức khác. Trong điều kiện hiện nay, việc
ứng dụng tin học vào công tác kế toán yêu cầu nguyên, vật liệu được quản lý
theo danh mục, căn cứ vào đặc thù từng doanh nghiệp, danh mục nguyên, vật
liệu được xây dựng khác nhau.
1.1.3 Tính giá nguyên, vật liệu.
Nguyễn Thị Quỳnh Dương Lớp: Kế toán 47C
Khóa luận tốt nghiệp
Tính giá nguyên, vật liệu (NVL) là việc xác định giá trị nguyên, vật liệu ở
biên bản giao nhận cộng các chi phí phát sinh khi nhận.
- Nhập nguyên vật liệu do được biếu tặng, được tài trợ: trị giá vốn thực tế
nhập kho là giá trị hợp lý công các chi phí khác phát sinh.
- Nhập nguyên vật liệu do thu hồi phế liệu từ sản xuất, thanh lý TSCĐ,
công cụ dụng cụ: được đánh giá theo giá ước tính (giá thực tế có thể sử dụng
được hoặc bán được).
* Xác định trị giá vốn thực tế của NVL xuất kho.
NVL được nhập kho từ nhiều nguồn khác nhau, ở nhiều thời điểm khác
nhau nên có nhiều giá khác nhau. Do đó, khi xuất kho NVL tuỳ thuộc vào đặc
điểm hoạt động, yêu cầu, trình độ quản lý và điều kiện trang bị phương tiện kĩ
thuật tính toán ở từng doanh nghiệp có thể xác định trị giá vốn thực tế của NVL
xuất kho theo một trong bốn phương pháp được quy định trong chuẩn mực hàng
tồn kho (chuẩn mực số 02).
- Phương pháp tính theo giá đích danh
Theo phương pháp này giá trị NVL được xác định theo đơn chiếc hay từng
lô và giữ nguyên từ lúc nhập kho cho đến lúc xuất dùng. Khi xuất NVL nào sẽ
tính theo giá thực tế nhập kho đích danh của NVL đó. Phương pháp này thường
sử dụng cho những NVL có giá trị cao và có tính tách biệt.
Phương pháp này tuân thủ nguyên tắc phù hợp của kế toán, hơn nữa giá trị
hàng tồn kho được phản ánh theo đúng giá trị thực tế của nó cho nên kế toán có
thể theo dõi kịp thời được thời hạn bảo quản của từng lô NVL. Tuy nhiên
phương pháp này đòi hỏi những điều kiện khắt khe, chỉ những doanh nghiệp
kinh doanh có ít mặt hàng, hàng tồn kho có giá trị lớn, mặt hàng ổn định và loại
hàng tồn kho có thể nhận diện được thì mới có thể áp dụng được.
- Phương pháp giá bình quân gia quyền.
Theo phương pháp này trị giá vốn thực tế của NVL xuất kho được tính căn
cứ vào số lượng NVL xuất kho và đơn giá bình quân gia quyền, theo công thức:
Nguyễn Thị Quỳnh Dương Lớp: Kế toán 47C
Khóa luận tốt nghiệp
Trị giá vốn thực tế
những lần nhập sau cùng.
Phương pháp FIFO thích hợp với những doanh nghiệp có ít danh điểm
NVL và số lần nhập kho của mỗi danh điểm không nhiều. Áp dụng phương pháp
này có thể tính ngay được giá vốn xuất kho cho từng lần xuất hàng, đảm bảo
cung cấp số liệu kịp thời cho kế toán ghi chép và quản lý. Vì vậy chỉ tiêu hàng
tồn kho trên báo cáo tài chính có nghĩa thực tế hơn.
Tuy nhiên do tính giá theo từng danh điểm NVL và phải thực hiện kế toán
chi tiết NVL tồ kho theo từng loại giá nên kế toán mất nhiều công sức. Hơn nữa
Nguyễn Thị Quỳnh Dương Lớp: Kế toán 47C
Khóa luận tốt nghiệp
theo phương pháp thì doanh thu hiện tại không phù hợp với chi phí hiện tại,
doanh thu hiện tại được tạo thành từ những vật tư, hàng hóa từ rất lâu nên không
phản ánh kịp thời giá cả thị trường NVL.
- Phương pháp nhập sau xuất trước. (LIFO).
Theo phương pháp này giả định hàng nào nhập sau sẽ được xuất trước, lấy
đơn giá xuất bằng đơn giá nhập của những lần nhập sau cùng. Do vậy, trị giá vốn
thực tế của hàng tồn cuối kỳ được tính theo đơn giá của những lần nhập đầu tiên.
Theo phương pháp này chi phí của lần mua gần nhất sẽ tương đối sát với
giá vốn của hàng thay thế, tuân thủ nguyên tắc phù hợp trong kế toán đồng thời
giúp cho chi phí kinh doanh của doanh nghiệp phản ứng kịp thời với giá cả thị
trường của NVL.
Tuy nhiên phương pháp này cũng khiến cho kế toán tốn nhiều công sức
trong công tác tính toán.Và nếu giá cả có xu hướng tăng dần thì NVL xuất kho sẽ
có giá trị cao do giá trị NVL tính theo lần giá mới nhập lần cuối. Khi đó trị giá
vốn tồn kho cuối kỳ sẽ có giá thấp và mức lãi cuối kỳ giảm xuống.
- Phương pháp trị giá hàng tồn cuối kỳ.
Với các phương pháp trên để tính giá NVL xuất kho thì kế toán phải dựa
vào các chứng từ xuất NVL để xác định được số lượng NVL thực tế xuất kho.
Tuy nhiên với những doanh nghiệp sử dụng nhiều chủng loại NVL với quy cách
khác nhau, giá trị thấp, xuất dùng thường xuyên thì việc theo dõi từng nghiệp vụ
đã sử dụng giá hạch toán. Giá hạch toán doanh nghiệp sử dụng có thể là giá kế
hoạch, giá mua vật liệu tại một thời điểm nào đó. Khi áp dụng phương pháp này
toàn bộ NVL xuất trong kỳ sẽ được phản ánh theo giá hạch toán. Cuối kỳ kế toán
phải tính hệ số giữa giá hạch toán và giá thực tế để tiến hành điều chỉnh giá NVL
xuất kho từ giá hạch toán sang giá thực tế.
Mỗi phương pháp có những ưu điểm, nhược điểm riêng. Mức độ chính xác
và độ tin cậy của mỗi phương pháp tùy thuộc vào yêu cầu quản lý, trình độ, năng
lực nghiệp vụ và trình độ trang bị công cụ tính toán,phương tiện xử lý thông tin
của doanh nghiệp, tùy vào yêu cầu bảo quản, tính phức tạp về chủng loại, quy
cách và sự biến động của vật tư ở doanh nghiệp.
Hệ số giá
NVL
=
Trị giá thực tế NVL
tồn kho đầu kỳ
+
Trị giá thực tế NVL nhập
kho trong kỳ
Trị giá hạch toán NVL
tồn kho đầu kỳ
+
Trị giá hạch toán NVL
nhập kho trong kỳ
Trị giá thực tế NVL
xuất kho
= Hệ số giá x
Trị giá hạch toán NVL xuất
kho
Phương pháp này cho phép kết hợp chặt chẽ kế toán chi tiết và kế toán
tổng hợp về NVL trong tính giá. Công việc tính giá tiến hành nhanh chóng,
tự và thời gian do kế toán trưởng quy định, phục vụ cho việc phản ánh, ghi chép,
tổng hợp kịp thời của các bộ phận, cá nhân có liên quan.
Sổ kế toán chi tiết phục vụ cho việc phản ánh, ghi chép các nghiệp vụ kinh
tế liên quan đến đối tượng kế toán cần tiến hành kế toán chi tiết. Tuỳ thuộc vào
phương pháp kế toán chi tiết NVL áp dụng trong doanh nghiệp mà sử dụng các
sổ (thẻ) kế toán chi tiết như sau:
Nguyễn Thị Quỳnh Dương Lớp: Kế toán 47C
Khóa luận tốt nghiệp
- Thẻ kho.
- Sổ (thẻ) kế toán chi tiết NVL.
- Sổ đối chiếu luân chuyển.
- Sổ số dư.
Ngoài các sổ kế toán chi tiết nêu trên, còn có thể sử dụng các bảng kê nhập,
xuất; các bảng luỹ kế tổng hợp nhập-xuất-tồn NVL phục vụ cho việc ghi sổ kế
toán chi tiết được đơn giản, nhanh chóng, kịp thời.
Đồng thời để thực hiện kế toán chi tiết NVL các doanh nghiệp có thể lựa
chọn một trong ba phương pháp sau : Phương pháp sổ số dư, phương pháp thẻ
song song, phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển. Mỗi phương pháp đều có
những ưu, nhược điểm khác nhau phù hợp với từng loại hình doanh nghiệp.
1.2.2 Các phương pháp kế toán chi tiết nguyên, vật liệu.
Tuỳ thuộc vào điều kiện thực tế của doanh nghiệp mình mà có thể áp dụng
các phương pháp kế toán chi tiết khác nhau.
Ba phương pháp có điểm giống nhau là ở kho: thủ kho dùng thẻ kho để ghi
chép hàng ngày tình hình nhập, xuất, tồn kho của từng thứ vật tư theo chỉ tiêu số
lượng. Tuy nhiên điểm khác nhau giữa các phương pháp này là quá trình ghi
chép ở phòng kế toán. Cụ thể:
1.2.2.1 Phương pháp thẻ song song.
Phương pháp này thích hợp với những doanh nghiệp có ít chủng loại vật
tư, hàng hoá; việc nhập – xuất diễn ra không thường xuyên. Đặc biệt, trong điều
kiện doanh nghiệp đã làm kế toán máy thì phương pháp này vẫn áp dụng cho
Sổ kế toán chi tiết
Thẻ kho
Bảng kê nhập-xuất-tồn
Sổ kế toán tổng hợp
Khóa luận tốt nghiệp
Ghi chú: Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Đối chiếu hàng tháng
Phương pháp này rất đơn giản trong khâu ghi chép, đối chiếu số liệu và
phát hiện sai sót đồng thời cung cấp thông tin nhập, xuất, tồn NVL kịp thời,
chính xác. Tuy nhiên theo phương pháp này thì việc ghi chép giữa kho và phòng
kế toán còn trùng lặp về chỉ tiêu số lượng, ngoài ra khối lượng ghi chép còn
nhiều.
1.2.2.2 Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển.
Phương pháp này áp dụng cho những doanh nghiệp có nhiều danh điểm
NVL và số lượng chứng từ nhập, xuất không nhiều, hệ thống kho tàng ít, không
bố trí riêng nhân viên kế toán chi tiết NVL và không có điều kiện theo dõi tình
hình nhập, xuất hàng ngày.
• Tại kho: Thủ kho mở thẻ kho cho từng danh diểm NVL về mặt số lượng
như phương pháp thẻ song song.
• Tại phòng kế toán: Kế toán mở Sổ đối chiếu luân chuyển để theo dõi về
tình hình nhập, xuất của từng danh điểm vật liệu về cả số lượng và giá trị, mỗi
loại vật tư chỉ ghi một dòng của sổ và chỉ ghi một lần vào cuối tháng. Khi nhận
được các chứng từ nhập, xuất vật liệu do thủ kho chuyển tới thì kế toán NVL tiến
hành lập Bảng kê nhập, Bảng kê xuất NVL để có số liệu ghi vào Sổ đối chiếu
luân chuyển.Cuối tháng tiến hành cộng sổ cột số lượng và đối chiếu với thẻ kho
còn cột giá trị được đối chiếu với sổ kế toán tổng hợp.
Trình tự kế toán chi tiết NVL theo phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển
được khái quát bằng sơ đồ sau:
Sơ đồ 2:
• Tại phòng kế toán: Kế toán lập Bảng kê lũy kế nhập, xuất, tồn theo thước
đo giá trị dựa trên cơ sở các phiếu giao nộp chứng từ định kỳ để theo dõi tình
hình nhập, xuất NVL. Từ Bảng lũy kế nhập, xuất, tồn kế toán sẽ tiến hành lập
Bảng tổng hợp nhập – xuất – tồn NVL.
Cuối tháng kế toán tiến hành đối chiếu số liệu trên Sổ số dư với thẻ kho
về mặt số lượng đồng thời đối chiếu với kế toán tổng hợp theo thước đo giá trị.
Nguyễn Thị Quỳnh Dương Lớp: Kế toán 47C
Khóa luận tốt nghiệp
Trình tự kế toán chi tiết NVL theo phương pháp này được khái quát bằng
sơ đồ sau:
Sơ đồ 3:
Ghi chú: Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Đối chiếu hàng ngày
Phương pháp này khắc phục được sự trùng lắp về chỉ tiêu số lượng do đó
mà tăng được hiệu quả công tác kế toán. Tuy nhiên vì thủ kho chỉ theo dõi số
lượng, kế toán theo dõi giá trị nên việc kiểm tra giữa kho và phòng kế toán
thường khó khăn hơn, kế toán muốn biết số lượng nhập, xuất, tồn của một loại
vật tư nào đó thì phải xuống tận kho kiểm tra thẻ kho.
1.3KẾ TOÁN TỔNG HỢP NGUYÊN, VẬT LIỆU THEO PHƯƠNG PHÁP KÊ
KHAI THƯỜNG XUYÊN.
1.3.1 Khái niệm và tài khoản sử dụng nguyên, vật liệu.
Phương pháp kê khai thường xuyên (KKTX) là phương pháp theo dõi,
phản ánh thường xuyên, liên tục, có hệ thống tình hình nhập, xuất, tồn kho vật
tư, hàng hóa trên sổ kế toán. Khi áp dụng phương pháp này thì các tài khoản
hàng tồn kho nói chung và tài khoản NVL nói riêng được dùng để phản ánh số
hienj có, tình hình biến động tăng, giảm của vật tư, hàng hóa. Vì vậy, giá trị vật
Nguyễn Thị Quỳnh Dương Lớp: Kế toán 47C
Thẻ kho
gia công, nhận vốn góp liên doanh, được cấp hoặc nhập từ các nguồn khác.
+ Trị giá NVL thừa phát hiện khi kiểm kê.
Bên Có:
+ Giá thực tế NVL xuất kho để sản xuất, để bán, thuê ngoài gia công chế
biến, hoặc góp vốn đầu tư.
+ Trị giá NVL được giảm giá hoặc trả lại người bán.
+ Trị giá NVL thiếu hụt phát hiện khi kiểm kê.
Dư Nợ: Giá thực tế NVL tồn kho.
Tài khoản này có thể mở thêm các tài khoản cấp 2, cấp 3... theo từng loại,
nhóm, thứ NVL tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý của doanh nghiệp, thông thường
doanh nghiệp chi tiết TK này theo vai trò và công dụng của NVL như:
-TK 152.1 : Nguyên vật liệu chính.
Nguyễn Thị Quỳnh Dương Lớp: Kế toán 47C
Khóa luận tốt nghiệp
-TK 152.2 : Nguyên vật liệu phụ .
-TK 152.3 : Nhiên liệu .
-TK 152.4 : Phụ tùng thay thế .
-TK 152.5 : Thiết bị xây dựng cơ bản .
-TK 152.8 : Vật liệu khác.
Ngoài ra trong quá trình thực hiện công tác kế toán còn sử dụng các tài
khoản khác có liên quan như: TK151, TK111, TK112, TK331, TK133, TK131,
TK141, TK411, TK621, TK627, TK641, TK642…
1.3.2 Kế toán tổng hợp tình hình biến động tăng nguyên, vật liệu.
NVL trong các doanh nghiệp sản xuất chiếm tỷ trọng lớn, ảnh hưởng trực
tiếp đến chất lượng của sản phẩm và hầu hết được nhập kho do thu mua. Ngoài
ra NVL còn được nhập kho bởi nhiều nguồn khác như: nhập kho NVL tự chế,
gia công xong, do nhận vốn kinh doanh bằng giá trị NVL…Việc ghi chép nghiệp
vụ thu mua và nhập kho NVL của kế toán được tiến hành cụ thể theo các trường
hợp sau:
- Trường hợp hàng và hóa đơn cùng về:
- Nếu khi nhập kho phát hiện thấy NVL thiếu so với hóa đơn, thì tùy
theo nguyên nhân, kế toán ghi:
Nợ TK 138 (1381): Chờ xử lý
Nợ TK 138 (1388): Yêu cầu bồi thường
…
Có TK 111, 112, 331…: Giá thanh toán của số NVL thiếu
- Nếu khi nhập kho phát hiện NVL thừa so với hóa đơn thì kế toán thì
kế toán có thể ghi số thừa vào TK 002 “Vật tư, hàng hóa giữ hộ” hoặc căn cứ
vào giá hóa đơn của số vật liệu thừa, kế toán ghi:
Nợ TK 152
Có TK 338 (3388)
- Nhập kho NVL từ các nguồn khác:
Nợ TK 152: Giá thực tế NVL nhập kho.
Có TK 154: Nhập kho do tự chế hoặc gia công.
Có TK 411: Nhận vốn kinh doanh bằng NVL.
Có TK 128, 222: Nhận lại vốn góp bằng NVL.
Có TK 338: NVL vay mượn tạm thời của đơn vị khác.
Có TK 711: Phế liệu thu hồi từ hoạt động thanh lý TSCĐ.
1.3.3 Kế toán tổng hợp tình hình biến động giảm nguyên, vật liệu.
Nguyễn Thị Quỳnh Dương Lớp: Kế toán 47C
Khóa luận tốt nghiệp
Với những doanh nghiệp sử dụng phương pháp KKTX thì khi xuất kho
NVL phải lập “Phiếu xuất kho”, thủ kho và người nhận NVL phải làm thủ tục
kiểm nhận lượng NVL xuất kho theo phiếu xuất. Tình hình biến động giảm NVL
được xác định theo các trường hợp sau:
- Xuất kho NVL phục vụ cho sản xuất kinh doanh:
Nợ TK 621: Giá thực tế NVL xuất dùng chế tạo sản phẩm.
Nợ TK 627: Giá thực tế NVL xuất phục vụ chung cho bộ phận
sản xuất.
Nợ TK 641: Giá thực tế NVL phục vụ bán hàng.
Có TK 133
Kế toán tổng hợp theo phương pháp KKTX được khái quát bằng sơ đồ
sau:
Sơ đồ 4: Sơ đồ hạch toán tổng quát NVL theo phương pháp kê khai
thường xuyên (tính VAT theo phương pháp khấu trừ)
Nguyễn Thị Quỳnh Dương Lớp: Kế toán 47C
TK 111,112,141,331
TK 333
TK 151
TK 411
TK 154
TK 128,222
TK 133
TK 152
TK 621
TK 627, 641,642
TK 157,632
TK 154
TK 128, 222
TK 136, 138
Nhập kho do mua ngoài
Thuế nhập khẩu
Nhập kho hàng đang đi
đường kỳ trước
Nhận vốn góp liên doanh
Nhập do thuê gia công chế
biến
Nhập do nhận lại vốn góp
liên doanh
Xuất cho vay tạm thời
Giá thực tế
VL nhập kho
trong kỳ
-
Giá thực tế
VL tồn kho
cuối kỳ
Để xác định được giá trị thực tế của số vật liệu xuất dùng cho từng nhu cầu,
đối tượng, kế toán phải kết hợp với số liệu hạch toán chi tiết mới có thể xác định
được, do kế toán tổng hợp không theo dõi ghi chép tình hình xuất liên tục trên
cơ sở các chứng từ xuất.
Phương pháp này giúp kế toán tiết kiệm được công sức ghi chép và chỉ phù
hợp với những đơn vị đa dạng về hàng tồn kho, tần suất nhập, xuất nhiều. Tuy
nhiên phương pháp này có độ chính xác không cao và đòi hỏi công tác quản lý
kho tàng bến bãi tốt.
Các doanh nghiệp áp dụng phương pháp kiểm kê định kỳ trong kế toán
tổng hợp vật liệu sử dụng các tài khoản sau:
Tài khoản 152: TK này không được dùng để theo dõi tình hình nhập, xuất
vật liệu trong kỳ mà chỉ dùng để kết chuyển giá trị thực tế vật liệu đầu kỳ, cuối
kỳ vào tài khoản 611 - "Mua hàng".
TK 611 không có số dư và được mở thành 2 TK cấp 2 :
Nguyễn Thị Quỳnh Dương Lớp: Kế toán 47C
Khóa luận tốt nghiệp
- TK6111 - Mua nguyên liệu, vật liệu .
- TK 6112 - Mua hàng hoá
Ngoài ra kế toán cũng sử dụng các tài khoản khác liên quan như phương
pháp kê khai thường xuyên.
Kế toán tổng hợp tại công ty đựơc khái quát qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 5: Sơ đồ hạch toán tổng hợp vật liệu theo phương pháp kiểm kê
định kỳ (tính thuế VAT theo phương pháp khấu trừ)
quy định và hướng dẫn các nguyên tắc và phương pháp kế toán hàng tồn kho,
gồm: xác định giá trị và kế toán hàng tồn kho vào chi phí; ghi giảm giá hàng tồn
kho cho phù hợp với giá trị thuần có thể thực hiện được và phương pháp tính giá
trị hàng tồn kho làm cơ sở ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính.
Theo chuẩn mực, hàng tồn kho được tính theo giá gốc, trường hợp giá trị
thuần có thể thực hiện được thấp hơn giá trị gốc thì được tính theo giá trị thuần
có thể thực hiện được. Trong đó giá trị thuần có thể thực hiện được là giá bán
ước tính của hàng tồn kho trong kỳ sản xuất, kinh doanh trừ đi chi phí ước tính
để hoàn thành sản phẩm và chi phí ước tính cần thiết cho việc tiêu thụ chúng.
Giá gốc hàng tồn kho bao gồm: chi phí thu mua, chi phí chế biến và các
chi phí liên quan trực tiếp khác phát sinh để có được hàng tồn kho ở địa điểm và
trạng thái hiệu quả.
Chi phí thu mua của hàng tồn kho bao gồm giá mua, các loại thuế không
được hoàn lại, chi phí vận chuyển, bốc xếp, bảo quản trong quá trình mua hàng
và các chi phí có liên quan trực tiếp đến việc mua hàng tồn kho. Các khoản chiết
khấu thương mại và giảm giá hàng mua do hàng mua không đúng quy cách,
phẩm chất được trừ khỏi chi phí mua.
Về phương pháp tính giá trị hàng tồn kho, theo chuẩn mực gồm bốn
phương pháp: phương pháp tính theo giá đích danh, phương pháp bình quân gia
quyền, phương pháp nhập trước, xuất trước và phương pháp nhập sau - xuất
trước.
Khi giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho nhỏ hơn giá gốc
thì phải lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho. Việc lập dự phòng giảm giá hàng
tồn kho được thực hiện trên cơ sở từng mặt hàng tồn kho.
Nguyễn Thị Quỳnh Dương Lớp: Kế toán 47C
Khóa luận tốt nghiệp
1.4.2.2 Một số điểm khác biệt giữa chuẩn mực kế toán quốc tế và chuẩn mực
kế toán Việt Nam về hàng tồn kho.
Nhìn chung chuẩn mực kế toán Việt Nam về hàng tồn kho cũng đã áp
dụng đúng như chuẩn mực kế toán quốc tế quy định. Tuy nhiên do đặc trưng của