Phân tích rủi ro xuất khẩu gạo tại công ty Angimex
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn chuyên đề:
Sau khi gia nhập WTO, Việt Nam đứng trước một cơ hội và thách thức lớn cho sự
phát triển kinh tế. Mức độ cạnh tranh hàng hoá, dịch vụ của các doanh nghiệp với nhau
vô cùng gay gắt làm cho sự cạnh tranh vốn đã khốc liệt lại gia tăng mạnh mẽ hơn nhiều
lần. Do vậy mỗi doanh nghiệp không những phải hoàn thiện chính bản thân mình mà còn
phải biết phát huy tối đa những lợi thế có được đồng thời hạn chế ở mức tối thiểu những
yếu tố kìm hãm sự phát triển.
Các công ty, doanh nhiệp xuất nhập khẩu là những người đi đầu, là cầu nối giữa
thị trường hàng hoá trong nước và nước ngoài, công việc này đòi hỏi họ phải nhạy bén
trong tiếp nhận, xử lý thông tin số liệu, nắm bắt các tín hiệu từ thị trường.Và công ty xuất
nhập khẩu, dịch vụ và đầu tư tỉnh An Giang – công ty Angimex cũng không ngoại lệ, Với
tiềm năng sẵn có là công ty thuộc sỡ hữu nhà nước lại nằm trong vùng ĐBSCL – vựa lúa
gạo lớn nhất cả nước nên thế mạnh của công ty là xuất khẩu gạo. Bên cạnh công việc xúc
tiến thương mại Angimex còn chú trọng đến các biện pháp tối đa hoá lợi nhuận của mình,
điều này đặc biệt quan trọng trong giai đọan Angimex tiến hành cổ phần hóa và sau cổ
phần hoá. Một khi đã cổ phần hóa Angimex sẽ không còn những ưu đãi hay hỗ trợ từ
phía chính quyền nhà nước nhiều như trước nữa mà phải dựa vào sức mình là chính.
Với doanh thu xuất khẩu gạo luôn ở mức cao, cụ thể năm 2004 là 55.190 triệu
USD, năm 2005 là 70.409 triệu USD, năm 2006 là 72.532 triệu USD, Angimex đang
ngày càng khẳng định tên tuổi của mình trên thương trường quốc tế cũng như trong nước.
Để đảm bảo lợi nhuận của mình thì việc đẩy mạnh công tác kiểm soát rủi ro về xuất khẩu
gạo mang một ý nghĩa thiết thực trong thị trường đầy biến động như hiện nay. Tuy nhiên
để kiểm soát được rủi ro đòi hỏi công ty không chỉ hiểu rõ tình hình sản xuất kinh doanh
của mình, còn phải nắm bắt tình hình biến động của thị trường mà có giải pháp hợp lý.
Nhận thức được vai trò quan trọng của việc quản trị rủi ro trong hoạt động
SXKD. Vì vậy em đã chọn chủ đề “RỦI RO TRONG XUẤT KHẨU GẠO CỦA
CÔNG TY XUẤT NHẬP KHẨU AN GIANG” làm chuyên đề thực tập của mình.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu:
− Tìm hiểu tình hình thực tế tại công ty phân tích những điểm mạnh, yếu nguyên
Công ty xuất nhập khẩu An Giang được thành lập theo quyết định số 73/QĐ-76
của chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh An Giang và chính thức đi vào hoạt động tháng 9 năm
1976. Ngay ngày đầu tiên thành lập công ty có tên gọi là “Công ty ngoại thương tỉnh An
Giang”.Trải qua năm tháng cùng với sự biến động nền kinh tế đất nước và tính chất hoạt
động của mình, công ty cũng có những tên gọi khác nhau như:
“Liên hiệp công ty xuất nhập khẩu An Giang” theo quyết định số 422/QĐ/UB của
Uỷ ban nhân dân tỉnh An Giang vào ngày 31/12/1979.
Đến năm 1989, do yêu cầu tổ chức lại ngành ngoại thương nên “Liên hiệp công
ty xuất nhập khẩu An Giang” đổi thành “Công ty xuất nhập khẩu An Giang” cho đến
ngày nay.
Với số vốn ban đầu chỉ là 5.000đ (tương đương với 10 lượng vàng vào thời điểm
đó), số nhân viên là 40 người, qui mô và phạm vi hoạt động còn rất nhỏ. Đến nay sau hơn
30 năm xây dựng và phát triển, mặc dù gặp nhiều khó khăn nhưng công ty cố gắng vượt
qua để hoàn thành nhiệm vụ và luôn đạt chỉ tiêu kế hoạch mà Đảng và Nhà nước giao.
Hàng năm, công ty nộp ngân sách khá cao đồng thời góp phần tích cực vào sự phát triển
kinh tế xã hội ở địa phương. Đến nay, công ty đã có một đội ngũ cán bộ, công nhân viên
có trình độ nghiệp vụ vững vàng, tạo dựng nên cơ sở vật chất kỹ thuật có giá trị hàng
chục tỷ đồng và đã hoàn thiện hệ thống các nhà máy, cửa hàng, chi nhánh nhằm đáp ứng
nhu cầu thu mua nguyên liệu, hàng hoá, sản xuất và phân phối sản phẩm. Uy tín của công
ty trên thương trường trong nước và ngoài nước ngày càng được nâng cao.
2.2 Cơ cấu tổ chức của công ty:
Bộ máy quản lý của công ty được tổ chức chặt chẽ từ trên xuống dưới, có chức
năng tham mưu giúp giám đốc công ty luôn đi trước đón đầu trong tình hình kinh tế đầy
biến động như hiện nay.
Cơ cấu quản lý của công ty theo mô hình trực tuyến chức năng. Công ty bao gồm
các phòng ban, chi nhánh, cửa hàng, xí nghiệp và nhà máy. Các bộ phận được quyền chủ
động trong phạm vi chức năng mà bộ phận đó đảm nhiệm, đảm bảo công việc tiến hành
thuận lợi. Các phòng ban công ty và xí nghiệp thông qua cuộc họp giao ban vào sáng thứ
bảy hàng tuần để nắm chủ trương và kế hoạch của công ty, nhằm phối hợp nhịp nhàng và
đồng bộ.
nhán
h tại
Thoạ
i Sơn
XN
Chế
biến
LT
Châu
Đốc
Chi nhánh
tại TP
HCM
Phó GĐốc phụ
trách kinh doanh
thương mại
Phó GĐốc phụ
trách kinh doanh
thương mại
Phó GĐốc phụ
trách SX kinh
doanh lương thực
Phó GĐốc phụ
trách SX kinh
doanh lương thực
GIÁM ĐỐC
GIÁM ĐỐC
P. Nhân
sự-
Hành
Xuyên
Kho
C.Mới
Kho
Đ. Lợi
Kho
C. Phú
Kho
C.Vàm
Kho
BKhánh
Kho
Hòa An
PX
Thoại
Hà
PX
Bình
Thành
PX
S.Hòa
Kho
C.Đốc
Kho
H.Lạc
- 207 Trần
Hưng Đạo
- Mỹ Quí
-TPLX
- TX Châu Đốc
yếu, mặt hàng gia dụng. Đặc biệt, Cửa hàng thương mại Tịnh Biên và Cửa hàng số 1
còn có nhiệm vụ là xúc tiến xuất khẩu các mặt hàng tiêu dùng, sản phẩm nông nghiệp
đã qua chế biến công nghiệp sang thị trường Campuchia.
Công ty tạo nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh của mình, khai thác và sử dụng
có hiệu quả các nguồn vốn, đảm bảo đầu tư mở rộng sản xuất, đổi mới trang thiết bị và
làm nghĩa vụ nộp ngân sách Nhà Nước theo luật định.
2.3.2 Chức năng của công ty:
− Góp phần thúc đẩy hoạt động ngoại thương của Tỉnh phát triển, phân
phối các mặt hàng tiêu dùng nhằm thoả mãn nhu cầu sinh hoạt của nhân dân Tỉnh nhà
và các Tỉnh lân cận.
− Thu mua và sản xuất chế biến lương thực, tiêu thụ sản phẩm trong nước
và kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp hoặc thông qua hợp đồng cấp chính phủ.
− Xây dựng các chương trình liên kết với nông dân, hợp tác xã làm tiền đề
cho các hợp đồng bao tiêu sản phẩm, tạo nguồn nguyên liệu ổn định nâng cao chất
lượng hạt gạoViệt Nam.
− Liên doanh liên kết với các đối tác chiến lược nhằm nâng doanh số và
kim ngạch XK.
2.4 Chức năng và nhiệm vụ của từng bộ phận:
2.4.1 Ban giám đốc :
− Giám đốc : là người lãnh đạo điều hành công việc và chịu trách
nhiệm cao nhất về mọi hoạt động kinh doanh và thực hiện kế hoạch của công ty .
− Phó giám đốc : là người trợ giúp Giám đốc và chịu trách nhiệm
trước Giám đốc về các mặt công tác được Giám đốc uỷ nhiệm.
2.4.2 Phòng tổ chức - hành chánh :
Soạn thảo triển khai qui chế làm việc, lập dự thảo điều lệ hoạt động cuả công ty,
quản lý nhân sự cho toàn công ty và là nơi phụ trách quản lý con dấu của đơn vị, tổ
chức chặt chẽ công tác văn thư, lưu trữ hồ sơ, tài liệu đúng chế độ qui định.
2.4.3 Phòng kế hoạch - kinh doanh :
Quản lý tiêu thụ, giúp lãnh đạo nắm bắt được thông tin biến động về giá lúa gạo,
kịp thời đề xuất các biện pháp, chiến lược kinh doanh, giải quyết khi có biến động
2.4.11 Cửa hàng Honda Long xuyên - Châu Ðốc :
Là các cửa hàng chuyên mua bán các loại xe gắn máy .
2.4.12 Tổ đại lý :
Do phòng Kế hoạch - Kinh doanh trực tiếp quản lý, chuyên nhận, ký kết hợp
đồng làm đại lý hoặc mua lại các mặt hàng, sản phẩm của các công ty liên doanh, thông
qua các cửa hàng như : cửa hàng tịnh biên, cửa hàng Châu phú, cửa hàng Châu Ðốc .
2.5 Tình hình kinh doanh của công ty:
Bảng 2.1: Kết quả kinhdoanh của công ty Angimex
ĐVT: triệu đồng
Các khoản mục 2004 2005 2006
2005 - 2004 2006 - 2005
Giá trị % Giá trị %
Doanh thu 1.134,69 1.459,00 1.170,13 324,31 28,58 -288,87 -19,80
LN trước thuế 16,43 25,79 22,99 9,36 56,97 -2,80 -10,86
Thuế 4,78 7,22 6,97 2,44 51,05 -0,25 -3,46
LN sau thuế 11,65 18,57 16,02 6,92 59,40 -2,55 -13,73
(Nguồn: số liệu từ phòng kế toán công ty Angimex)
Năm 2004, tình hình sản xuất nông nghiệp của tỉnh An Giang có chuyển biến
tốt, sản lượng lúa đạt 3 triệu tấn chính là nguồn cung dồi dào cho các DN XK gạo trong
tỉnh. Đặc biệt là kim ngạch XK đạt 260 triệu USD với 2 mặt hàng chính là cá và lương
SVTH: Trần Quang Huy 6
Phân tích rủi ro xuất khẩu gạo tại công ty Angimex
thực, riêng mặt hàng lương thực XK đã đạt trên 100 triệu USD, trong đó có công ty
Angimex chiếm 50% kim ngạch.
Năm 2005, mặc dù thời tiết không thuận lợi, hạn hán kéo dài, diện tích lúa giảm,
nhưng thu hoạch vẫn được mùa với sản lượng lúa đạt trên 3 triệu tấn, đây cũng là năm
xuất khẩu gạo của tỉnh được mùa, kim ngạch xúât khẩu gạo của tỉnh 167 triệuUSD,
Angimex chiếm 77.409 triệu.
Năm 2006, tình hình thực tế có nhiều khó khăn tác động không nhỏ đến hoạt
động kinh doanh của công ty cụ thể: dịch bệnh trên lúa có chiều hướng phát triển đặc
thị trường thế giới, Cty đang áp dụng có cải tiến hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001-
2000 được tổ chức SGS cấp tháng 9/2005, Thời gian qua, các lô hàng gạo của Cty được
các khách hàng và các cơ quan giám định công nhận là chất lượng tốt hơn so với mặt
bằng chung, Trong năm 2007, Cty sẽ chọn lọc thu mua, tách biệt và bảo quản riêng gạo
có chất lượng cao cấp để bán vào các thị trường cao cấp.
− Phải có sự chủ động : hiểu được văn hoá trong kinh doanh của các khách hàng,
thí dụ : đối với các tập đoàn là rất dân chủ, không qua cầu rút ván, cùng nhau sống,
cùng nhau kinh doanh, Hiểu thêm các nhu cầu biến đổi của khách hàng trong từng thời
điểm, rà soát đánh giá khách hàng.
SVTH: Trần Quang Huy 7
Phân tích rủi ro xuất khẩu gạo tại công ty Angimex
− Phải nhận diện rõ tình hình xung quanh thông qua mối quan hệ với Hiệp Hội,
với khách hàng, và phối hợp lại giữa các bộ phận trong Cty.
− Chuẩn bị sẵn hàng : dự đoán trong năm nay không có đủ hàng để bán nên cần
phải có sự chuẩn bị sẵn sàng hàng hoá để bán cho các thị trường cần giao ngay như
Indo, Philippines.
− Chuấn hóa dịch vụ bán hàng và giao nhận bằng những qui trình cụ thể và phải
được tuân thủ từ cấp lãnh đạo đến nhân viên, Thí dụ qui định rõ ràng việc phải đáp ứng
được khiếu nại của khách hàng trong khoảng thời gian bao lâu, trả lời báo giá cho khách
hàng trong bao lâu.
− Gia tăng giá trị dịch vụ cho khách hàng bằng các hiểu biết nhu cầu của khách
hàng, Thí dụ đối với ngành hàng xe Honda áp dụng chương trình Sticker, đối với ngành
hàng lương thực nên có sự chủ động có những chương trình gia tăng giá trị cho khách
hàng một cách bất ngờ,thí dụ chịu phí mở L/C một hợp đồng nào đó cho một khách
hàng nào đó đã mua số lượng lớn hàng của Cty.
− Cập nhật và thống kê các nguồn thông tin thị trường là rất cần thiết, không chỉ
trực diện mà còn trên diện rộng để nắm bắt được những diễn biến làm ảnh hưởng đến
kinh doanh, Thí dụ tình hình chính trị của quốc gia ảnh hưởng đến việc kinh doanh của
ngành hàng gạo như thế nào.
− Gia tăng bán sỉ : thị phần xe Honda của Cty ta sụt giảm do Honda VN chủ
cấp… cũng tác động không nhỏ đến hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường của
đơn vị. Cách riêng các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu gạo, lẽ dĩ nhiên lúa là
nguyên liệu không thể thiếu và nguyên liệu này cũng biến động không ít, điểm đáng lưu
ý là sản lượng, giá mua nguyên liệu có sự tương tác với tình hình sản xuất nông nghiệp,
giá cả sản phẩm đầu ra, cung cầu thị trường. Phân tích mối quan hệ trên nhằm thấy
được ảnh hưởng của nó đến công ty như thế nào?
Tình hình thu mua của công ty những năm vừa qua như sau:
Bảng 3.1: Số lượng thu mua lúa nguyên liệu từng xí nghiệp (tấn)
Năm XN1 XN2 XN3 XN4 NMCĐ tổng
2004 83.527,73 20.927,57 43.503,39 43.915,12 15.261,56 207.135,37
2005 90.907,16 32.419,01 35.948,90 58.256,02 30.720,89 248.251,98
2006 96.110,86 32.267,64 31.612,10 60.515,31 28.394,20 248.900,11
(Nguồn: phòng kế toán công ty Angimex)
Bảng 3.2 : Giá mua lúa nguyên liệu của từng xí nghiệp (đ/kg).
(Nguồn: phòng kế toán công ty Angimex)
Hàng năm, dựa trên những hợp đồng đã ký, phòng kinh doanh phân bổ kế hoạch
thu mua nguyên liệu cho các xí nghiệp với giá cả tham khảo từ hiệp hội lương thực Việt
Nam, trên cơ sở đó các xí nghiệp sẽ thỏa thuận với thương lái hay nông dân theo kiểu
thuận mua vừa bán mà không hề có bất kỳ hợp đồng bao tiêu nào. Khảo sát qua tình
hình thu mua ở các xí nghiệp: XN 1 và XN 4 có doanh số thu mua lớn hơn các XN còn
lại, do số lượng thu mua cao nên giá mua bình quân của 2 XN này cũng cao hơn giá
mua trung bình của công ty mặc dù vậy mức chênh lệch là không quá lớn và có thể chấp
nhận được bởi lẽ với khối lượng như thế kết hợp biến động thị trường sẽ có những lúc
giá mua cao sẽ có những lúc giá mua thấp, điều này vẫn còn phụ thuộc vào cung cầu thị
trường.
Mặt khác nếu so sánh với giá mua bình quân của 4 đơn vị xuất khẩu gạo của
tỉnh (công ty Angimex, …) thì vẫn thấp hơn (cả 3 năm đều thấp hơn khoảng 100
đồng/kg) một xu hướng rất tốt mà công ty cần phát huy. Để có được kết quả tốt này
công ty đã luôn bám sát thị trường qua các chương trình:
− Chương trình báo cáo nhanh khối lương thực: số lượng mua trong ngày, giá mua
Quốc gia
Cung Sử dụng
TKĐK Sản xuất
Nhập
khẩu
Tiêu dùng
trong nước
2
Xuất
khẩu
TKCK
Thế giới
3
110,38 389,11 24,38 413,72 26,01 85,58
Mỹ 0,83 6,4 0,5 3,63 3,33 0,76
Tổng cộng nước ngoài 109,36 382,71 23,88 410,09 22,68 84,81
Các nhà XK chính
4
17,81 131,88 0,04 114,72 18,73 16,29
India 11,00 87,00 0,00 84,35 2,75 10,90
Pakistan 0,05 4,90 0,00 2,70 1,78 0,47
Thailand 3,30 18,01 0,00 9,47 10,00 1,84
Vietnam 3,46 21,97 0,04 18,20 4,20 3,07
Các nhà NK chính
5
12,16 59,18 9,64 68,15 0,34 12,49
Brazil 0,59 8,71 0,65 8,50 0,05 1,39
EU-25 0,88 1,69 1,02 2,51 0,23 0,86
Indonesia 4,34 35,02 0,70 36,00 0,00 4,07
Nigeria 1,35 2,20 1,60 4,00 0,00 1,15
− Hai là: Về tổng thể thì nguồn cung lúa gạo cân đối đủ nhu cầu (theo báo cáo của
Bộ NN-PTNT, sản lượng thóc năm 2004 của cả nước đạt 35,7 triệu tấn tăng 1,2 triệu
tấn so với năm 2003, trừ nhu cầu tiêu dùng trong nước khoảng 27,6-28,1 triệu tấn, khả
năng lúa hàng hóa giành cho xuất khẩu quy gạo khoảng 3,9-4 triệu tấn) nhưng tiến độ
xuất khẩu gạo một vài tháng quá cao đã tác động làm tăng giá trong nước.
− Ba là: Giá gạo tại quốc gia láng giềng Trung Quốc tăng mạnh. Các doanh nghiệp
xuất khẩu cũng triển khai mua nhiều đã có tác động và ảnh hưởng làm giá gạo thị
trường nội địa tăng mạnh hơn.
− Bốn là: Do nhu cầu can thiệp thị trường lúa vụ chính từ tháng 9/2004 đến tháng
2/2005 của Chính phủ Thái Lan đã hỗ trợ giá gạo chào bán tăng, nhiều nhà nhập khẩu
từ Philippin, Iraq, châu Phi đang quan tâm đến gạo Việt Nam bởi giá gạo của Việt Nam
thấp hơn so với gạo cùng loại của Thái Lan, cùng với nguồn cung thóc ở đồng bằng
sông Cửu Long về cuối năm hạn chế, là những nguyên nhân chính đẩy giá gạo xuất
khẩu của Việt Nam tăng và đứng ở mức cao.
Bảng 3.4: Cung cầu gạo thế giới (Triệu tấn) 2004/2005
Quốc gia
Cung Sử dụng
TKĐK Sản xuất
Nhập
khẩu
Tiêu dùng
trong nước
Xuất
khẩu
TKCK
Thế giới
86,15 402,07 25,07 415,35 27,4 72,88
Mỹ
0,76 7,4 0,42 3,84 3,54 1,21
Tổng cộng nước
Phân tích rủi ro xuất khẩu gạo tại công ty Angimex
khiến cho nhu cầu tiêu thụ tăng cao tác động đến giá xuất khẩu. Tính riêng Việt Nam,
năm 2005 sản xuất được 22,63 triệu tấn gạo (tăng so với năm trước khoảng gần 2 triệu
tấn) nhu cầu tiêu dùng là 18,5 triệu tấn như vậy Việt Nam chỉ còn khoảng 4,13 triệu tấn
dành cho xuất khẩu nhưng trong năm đã xuất đến 5,2 triệu tấn mang về khoảng 1,279
tỷ USD (trị giá FOB), so cùng kỳ năm 2004 tăng 28% về số lượng và 49% về trị giá (sử
dụng luôn cả dự trữ để xuất do xuất được giá trung bình giá xuất khẩu gạo năm 2005 là
253 USD/tấn tham khảo từ bảng 4 ) điều này đã đẩy giá thu mua nguyên liệu lên cao,
bên cạnh đó cũng còn một số nguyên nhân như:
− Một là: Theo báo cáo của của tổ chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc (FAO), sản
lượng thóc thế giới năm 2005 đạt khoảng 614 triệu tấn, tương đương với 409,3 triệu tấn
gạo tăng 1,5% so với năm 2004. Nhu cầu tiêu thụ gạo thế giới năm 2005 khoảng 413
triệu tấn, cao hơn nguồn cung 3,7 triệu tấn. Tồn kho gạo cuối năm 2005 dự đoán sẽ tiếp
tục giảm 4,2%, sau khi đã giảm khoảng 23% so với cuối năm trước. Cũng theo tổ chức
này dự đoán xuất khẩu gạo thế giới năm 2005 chỉ đạt 25,5 triệu tấn giảm 2,8% so với
năm trước. Trong đó xuất khẩu gạo năm 2005 dự đoán sẽ giảm chủ yếu ở Thái Lan do
sản lượng thóc của Thái Lan giảm và việc áp dụng chính sách giá thóc gạo nội địa cao
làm giảm khả năng cạnh tranh của gạo xuất khẩu Thái Lan. Giá gạo của Thái Lan tăng
do nhu cầu mua gạo của Thi Lan tiếp tục tăng lên ở Nigeria, Nam Phi, Yemen, mặt khác
đồng Baht tăng giá.
− Hai là: Do hạn hán tiếp tục kéo dài, đặc biệt là sự trở lại của hiện tượng EL
NINO càng làm cho hạn hán thêm nghiêm trọng tại nhiều nước Châu Á, khu vực chiếm
75% lượng gạo xuất khẩu hàng năm trên thị trường thế giới.
− Ba là: Do ảnh hưởng của trận động đất sóng thần xảy ra cuối năm 2004 tại một
số nước Nam á và Đông Nam á càng làm cho nhu cầu nhập khẩu gạo tăng mạnh như
Philippin, Indonesia, Bangladesh và châu Phi, các nước Trung Mỹ…
− Bốn là: Giá gạo Việt Nam hiện đang thấp hơn so với gạo cùng loại của Thái Lan,
cùng với nhu cầu của khách nước ngoài nhập khẩu gạo Việt Nam tăng mạnh, khách
hàng chính là Philipines, Cu Ba, Nga, các nước châu Phi, châu Âu… Mặt khác các nhà
xuất khẩu vẫn đang đẩy mạnh tìm kiếm nguồn cung để đáp ứng nhu cầu đã ký kết trong
gian mưa không dài, nhưng thiệt hại cũng không nhỏ.
7
Bảng 3.5 : Cung cầu gạo thế giới / (triệu tấn) 2005/2006
Quốc gia
Cung Sử dụng
TKĐK Sản xuất
Nhập
khẩu
Tiêu dùng
trong nước
Xuất
khẩu
TKCK
Thế giới 78,14 415,49 26,27 413,22 27,80 80,42
Mỹ 1,21 7,11 0,54 3,81 3,69 1,37
Tổng cộng nước
ngoài
76,93 408,38 25,72 409,41 24,11 79,05
Các nhà XK chính 15,18 136,79 0,40 115,52 18,80 18,04
India 8,50 91,04 0,00 85,22 3,80 10,52
Pakistan 0,20 5,55 0,00 2,56 2,90 0,30
Thailand 2,31 18,20 0,05 9,50 7,30 3,76
Vietnam 4,16 22,00 0,35 18,25 4,80 3,46
Các nhà NK chính 12,92 59,91 10,67 69,66 0,49 13,36
Brazil 1,73 7,87 0,60 8,97 0,25 0,98
EU-25 1,13 1,71 0,93 2,55 0,28 1,04
Indonesia 3,45 34,96 0,60 35,80 0,00 3,21
Nigeria 0,42 2,70 1,78 4,35 0,00 0,55
Philippines 4,57 9,82 1,90 11,00 0,00 5,29