Lời nói đầu
Với xu thế phát triển như hiện nay, các doanh nghiệp luôn tìm cách nâng cao khả năng
cạnh tranh sản phẩm và dịch vụ do chính họ làm ra. Quản trị chất lượng chính là một
hoạt động quan trọng có thể giúp công ty thực hiện ý định trên gồm: giảm chi phí,
nâng cao chất lượng và hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Trong đó để quản trị tốt các vấn đề về chất lượng, để quá trình sản xuất luôn diễn ra
trong sự kiểm soát của doanh nghiệp, để giảm khuyết tật của sản phẩm, thì việc xây
dựng giải pháp đào tạo con người, là nhân tố then chốt tạo thành giá trị của sản phẩm.
Công ty Hữu Nghị Đà Nẵng cũng không nằm ngoài vòng xoáy quy luật đó, vì sản
phẩm của công ty phục vụ cuộc sống hàng ngày của con người, mà cụ thể hơn là nhu
cầu mà thị trường sản phẩm phục vụ là rất cao. Cho nên việc nâng cao chất lượng sản
phẩm là không thể thiếu được.
Trong thời gian thực tập tại Công ty, em thấy đây là vấn đề cần khắc phục để nâng cao
chất lượng sản phẩm là cơ sở cho việc mở rộng thị trường sản phẩm, nâng cao khả
năng cạnh tranh, giảm giá thành sản phẩm. Chính vì lẽ đó em đã chọn đề tài “Một số
giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chất lượng ISO tại Công ty Hữu nghị Đà
Nẵng” với mong muốn đóng góp ý kiến vào kế hoạch của công ty.
Em đã hoàn thành chuyên đề này nhờ sự tận tình hướng dẫn của cô các anh (chị) ở
phòng kế hoạch kinh doanh, các anh chị tại phân xưởng sản xuất. Do thời gian và kiến
thức hạn chế nên chuyên đề còn nhiều vấn đề sai sót rất mong được sự đóng góp ý
kiến của quý thầy cô cùng các bạn.
PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
I. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM:
1. Khái niệm về sản phẩm:
Đối tượng vật chất của quản trị chất lượng là sản phẩm. Do vậy, việc nhận thức
một cách đúng đắn vế những khái niệm liên quan đến sản phẩm là vô cùng quan trọng
để từ đó có thể đề ra những giải pháp đồng bộ, toàn diện để quản lý và nâng cao chất
lượng sản phẩm.
Nói đến thuật ngữ sản phẩm, ngoài việc mặc nhiên công nhận những luận của
Mác và các nhà kinh tế khác, ngày nay cùng với sự phát triển ngày càng cao hơn, phức
tạp hơn của xã hội, từ thực tế cạnh tranh trên thị trường người ta quan niệm về sản
hoàn toàn những thứ mà thông thường ta có thể cho là "có chất lượng ".
Từ những phân tích trên ta có thể đưa ra một định nghĩa chất lượng sản phẩm
như sau:
"Chất lượng sản phẩm là tổng hợp những chỉ tiêu, những đặc trưng của sản
phẩm thể hiện mức thoả mãn những nhu cầu trong điều kiện tiêu dùng xác định".
Một cách tổng quát, chúng ta có thể hiểu chất lượng là sự phù hợp trên cả ba
phương diện:
+ Hiệu năng, khả năng hoàn thiện.
+ Giá thoả mãn nhu cầu.
+ Cung cấp đúng thời điểm.
3. Vai trò của hệ thống chất lượng trong hoạt động kinh doanh:
a. Đòi hỏi của quá trình cạnh tranh:
Trong quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế với sự phát triển của khoa học, công
nghệ thông tin, thị trường thế giới không ngừng được mở rộng. Việc phát triển các khu
vực kinh tế cũng góp phần làm cho thương mại quốc tế tự do hơn, nhưng nó lại làm
cho việc canh tranh gay gắt hơn. Chính vì vậy, việc hạ giá thành sản phẩm , dịch vụ và
nâng cao chất lượng đã trở thành mục tiêu quan trọng trong các hoạt động của nhiều
công ty trên thế giới. Tuy nhiên, đây không phải là vấn đề đơn giản mà là kết quả tổng
hợp của toàn bộ các nổ lực trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp, nó phụ
thuộc vào các nhân viên, các cán bộ quản lý và đặc biệt là hiệu quả của một hệ thống
quản lý chất lượng đồng bộ. Quan tâm đến chất lượng, thiết lập một hệ thống chất
lượng hữu hiệu chính là một trong những phương thức tiếp cận và tìm cách đạt được
thắng lợi trong sự cạnh tranh gay gắt trên thương trường nhằm duy trì sự tồn tại và
phát triển của doanh nghiệp.
b. Do nhu cầu của người tiêu dùng:
Kinh tế phát triển, nhu cầu của xã hội ngày càng tăng lên cả mặt lượng lẫn chất
dẫn đến sự thay đổi to lớn trong nhận thức của người tiêu dùng. Người tiêu dùng khi
lựa chọn sản phẩm hay một phương án tiêu dùng, người tiêu dùng có thu nhập cao,
hiểu biết rộng hơn, nên có nhu cầu ngày càng cao, càng khắt khe đối với sản phẩm.
Những đòi hỏi ngày càng đa dạng và phong phú để thoả mãn người tiêu dùng sản
nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thiết bị, công nghệ, yêu cầu về huấn luyện đào tạo
Sản xuất : Bộ phận này chịu trách nhiệm mua nguyên vật liệu, phân chia công việc
cho thợ đứng máy trên từng nơi làm việc sao cho đáp ứng yêu cầu chất lượng. Bộ phận
quản lý sản xuất cần đảm bảo sao cho quá trình chế biến diễn ra một cách bình thường,
ổn định theo kế hoạch tiến độ. Sai lầm trong quản lý sản xuất có thể gây hư hỏng sản
phẩm, thiết bị để cho công việc đóng gói cất trữ sản phẩm không ảnh hưởng đến chất
lượng sản phẩm.
Phân phối: Phải đảm bảo chất lượng hàng hoá trong quá trình vận chuyển khi phát
hiện ra sai hỏng phải kịp thời xữ lý, tránh trường hợp hàng hoá kém chất lượng đến tay
người tiêu dùng. Đồng thời phải đảm bảo chất lượng trong công tác giao hàng.
Dịch vụ sau khi bán: Phải cung cấp cho khách hàng các chỉ dẫn lắp đặt, sử
dụng đồng thời ta có thể phát hiện những yếu tố làm cho khách hàng chưa hài lòng để
thay thế, sữa chữa từ đó ngày càng nâng cao sự hài lòng của khách hàng .
2. Các nội dung chính của quản trị chất lượng :
a. Điều kiện chất lượng:
Điều kiện kiên quyết để thực hiện quản trị chất lượng đồng bộ đòi hỏi phải có
sự cam kết của lãnh đạo, của các trung gian và của từng thành viên trong Công ty.
Quản trị chất lượng đồng bộ đòi hỏi phải bắt đầu từ cấp lãnh cao nhất, bản thân họ
phải cho thấy rằng họ thực sự nghiêm túc đối với chất lượng, họ cam kết trong việc
thực hiện, thực thi những nguyên tắc đảm bảo chất lượng. Các cấp quản lý trung gian
phải nắm bắt được những nguyên lý của quản lý chất lượng đồng bô và giải thích,
truyền đạt nó cho cấp dưới và đội ngũ công nhân, các thành viên trong tổ chức cũng
phải cam kết trong việc tạo ra chất lượng.
b. Chính sách chất lượng:
Theo tiêu chuẩn TCVN 5814- 1994: Chính sách chất lượng là ý đồ và định
hướng chung về chất lượng của một tổ chức lãnh đạo cao nhất đề ra.
Để xây dựng một chính sách chất lượng, doanh nghiệp cần phải:
- Xác định được các mục tiêu và những định hướng quan trọng của các hoạt
động quản lý chất lượng như hệ thống chất lượng .
- Lựa chọn cách thức để đạt các yêu cầu của hệ thống một cách kinh tế nhất.
ảnh hưởng xấu đối với cộng đồng nếu một sản phẩm của mình sản xuất ra có một chất
lượng không tốt.
+ Chất lượng thể hiện ngay trong quá trình : Việc đảm bảo chất lượng cần phải được
tiến hành từ những bước đầu tiên, từ khâu nghiên cứu, thiết kế. Thiết kế ở đây cần phải
hiểu là thiết kế quá trình, tổ chức những dịch vụ nhằm không những đảm bảo chất
lượng sản phẩm mà còn có thể xây dựng một quá trình công nghệ ổn định, đáp ứng
những yêu cầu của sản phẩm một cách hiệu quả, tiết kiệm nhất.
Mục tiêu của chất lượng là hướng vào chất lượng hoạt động của toàn bộ quá trình bởi
vì một khi sản phẩm hoặc dịch vụ đã được cung cấp, nếu có những trục trặc về chất
lượng thì việc hiệu chỉnh các thiếu sót đó vừa tốn kém và có lúc lại không thể thực
hiện được. Do vậy đảm bảo chất lượng cần phải kiểm soát quá trình.
+ Chất lượng phải hướng tới khách hàng : Để đảm bảo cho quá trình chất lượng cần
thiết phải nhìn nhận khách hàng và nhà cung cấp là một bộ phận của người sản xuất.
Việc xây dựng mối quan hệ lâu dài trên cơ sở thấu hiểu lẩn nhau giữa người sản xuất,
người cung ứng và khách hàng sẽ giúp nhà sản xuất duy trì được uy tín của mình. Đối
với khách hàng, nhà sản xuất phải coi chất lượng là mức độ thoả mãn những mong
muốn của họ chứ không phải là những cố gắn đạt được một số tiêu chuẩn nào đó đã đề
ra từ trước. Vì thực tế các mong muốn của khách hàng luôn thay đổi và không ngừng
đòi hỏi cao hơn. Một sản phẩm chất lượng phải được thiết kế chế tạo trên cơ sở nghiên
cứu cụ thể tỉ mỉ những nhu cầu của khách hàng, vì vậy việc không ngừng cải tiến chất
lượng và hoàn thiện chất lượng sản phẩm và dịch vụ là một trong những hoạt động cần
thiết để đảm bảo chất lượng danh tiếng của nhà sản xuất. Đối với nhà cung ứng phải
coi đó là một bộ phận quan trọng của các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp. Để đảm
bảo chất lượng sản phẩm doanh nghiệp cần phải mở rộng hệ thống kiểm soát chất
lượng sang các cơ sở cung ứng, thầu phụ của mình.
+Chất lượng đòi hỏi tinh thần trách nhiệm và khả năng tự kiểm soát của mỗi thành
viên : Cho đến nay hầu hết các doanh nghiệp, chức năng sản xuất, giám sát chất lượng
thường được thực hiện bởi các bộ phận chức năng khác nhau như : người kiểm tra và
người bị kiểm tra.
Thực tế cho thấy rằng nếu được huấn luyện và có tinh thần trách nhiệm cao, người sản
Hai trục tung : Trục bên trái : Chia từ 0 đến toàn bộ khuyết tật.
Trục bên phải : Chia từ 0%-100%
Trục hoành : Chia trục hoành thành các khoảng theo số các khuyết tật đã được xếp
hạng.
b.Biểu đồ nhân quả:
+ Khái niệm: Biểu đồ nhân quả là một công cụ được sử dụng để suy nghĩ và trình bày
mối quan hệ giữa một kết quả (ví dụ sự biến động của một đặc trưng chất lượng) với
các nguyên nhân tiềm tàng có thể ghép lại thành nguyên nhân chính và nguyên nhân
phụ để trình bày giống như một xương cá. Vì vậy, công cụ này còn được gọi là biểu đồ
xương cá.
Đây là một công cụ hữu hiệu giúp liệt kê các nguyên nhân gây nên biến động
chất lượng ,là một kỹ thuật để công khai nêu ý kiến,có thể dùng trong nhiều tình huống
khác nhau.
+ Tác dụng :
- Liệt kê và phân tích các mối quan hệ nhân quả, đặc biệt là những nguyên nhân
làm quá trình quản lý biến động vượt ra ngoài giới hạn quy định trong tiêu chuẩn hoặc
quy trình.
- Tạo điều kiện thuận lợi để giải quyết vấn đề từ triệu chứng, nguyên nhân tới
giải pháp.Định rõ những nguyên nhân cần xử lý trước và thứ tự công việc cần xử lý
nhằm duy trì sự ổn định của quá trình, cải tiến quá trình .
- Có tác dụng tích cực trong việc đào tạo, huấn luyện các cán bộ kỹ thuật và
kiểm tra.
- Nâng cao sự hiểu biết, tư duy logic và sự gắn bó giữa các thành viên .
+ Cách sử dụng:
- Bước 1: Xác định rõ và ngắn gọn chỉ tiêu chất lượng cần phân tích, viết chỉ
tiêu chất lượng đó bên phải và vẽ mũi tên từ trái sang phải.
Chỉ tiêu chất lượng cần phân tích.
- Bước 2: Xác định những nguyên nhân chính (nguyên nhân cấp 1). Thông
thường người ta chia thành 4 nguyên nhân chính (con người, thiết bị, nguyên vật liệu,
phương pháp), cũng có thể kể thêm những nguyên nhân sau: Hệ thống thông tin, dữ
- Mô tả quá trình hiện hành ,giúp người tham gia hiểu rõ quá trình. Qua đó ,xác định
công việc cần sửa đổi, cải tiến để hoàn thiện, thiết kế lại quá trình.
- Giúp quá trình cải tiến thông tin đối với mọi quá trình.
- Thiết kế quá trình mới.
+ Các bước thực hiện biểu đồ tiến trình:
- Bước 1: Xác định sự bắt đấu và sự kết thúc của quá trình.
- Bước 2: Xác định các bước trong quá trình (hoạt động, quyết định, đầu vào, đầu ra).
- Bước 3: Thiết lập một dự thảo biểu đồ tiến trình để trình bày quá trình đó.
- Bước 4: Xem xét các dự thảo biểu đồ tiến trình cùng với những người có liên quan
đến quá trình đó.
- Bước 5: Thẩm tra, cải tiến biểu đồ tiến trình dựa trên sự xem xét lại.
- Bước 6: Đề ngày lập biểu đồ tiến trình để tham khảo và sử dụng trong tương lai (như
một hồ sơ về quá trình hoạt động thực sự như thế nào và cũng có thể sử dụng để xác
định cơ hội cho việc cải tiến).
d.Biểu đồ kiểm soát:
+ Khái niệm:
Biểu đồ kiểm soát là biểu đồ có một đường tâm để chỉ giá trị trung bình của quá trình
và hai đường thẳng song song trên và dưới đường tâm biểu hiện giới hạn kiểm soát
trên và kiểm soát dưới của quá trình. Biểu đồ kiểm soát là công cụ để phân biệt các
biến động do các nguyên nhân đặc biệt cần được nhận biết, điều tra và kiểm soát gây
ra (biểu hiện trên biểu đồ kiểm soát là những điểm nằm ngoài mức giới hạn) với những
thay đổi ngẫu nhiên vốn có trong quá trình.
+ Tác dụng:
- Biểu đồ kiếm soát cho thấy sự biến động của một quá trình sản xuất hoặc tác
nghiệp trong suốt một chu kỳ, thời gian nhất định do đó nó được sử dụng để:
. Dự đoán , đánh giá sự ổn định của quá trình.
. Kiểm soát , xác định khi nào cần điều chỉnh quá trình.
. Xác định một sự cải tiến của quá trình.
+ Cách sử dụng:
- Bước 1: Lựa chọn đặc tính để áp dụng biểu đồ kiểm soát.
Biểu đồ
1- Đường tâm :
2 - Đường giới hạn kiểm soát trên : UCL = X + A2 *R
3 - Đường giới hạn kiểm soát dưới : LCL = X - A2*R
Biểu đồ kiểm soát R .
1 - Đường tâm :
2 - Đường giới hạn kiểm soát trên : UCL = D4*R
3 - Đường giới hạn kiểm soát dưới : LCL = D3*R
Các hệ số A2, D3, D4 được cho trong bảng sau:
- Bước 9 : Xây dựng biểu đồ kiểm soát.
1.1 Trên giấy kẻ ô ly
+ Trục tụng biểu thị và R
+ Trục hoành biểu thị số thứ tự nhóm con.
+ Đường tâm là và vẽ liên tục.
+ Đường giới hạn là đường không liên tục
+ Ghi thêm kích thước nhóm nhỏ ( n ) ở góc trái.
2.1 Ghi vào đồ thị các điểm biểu thị và của mỗi nhóm.
+ Mỗi giá trị là ( .)
+ Mỗi giá trị của R là dấu (+)
+ Chú ý đến những điểm vượt ra ngoài giới hạn.
+ Cách đọc biểu đồ kiểm soát :
- Quá trình sản xuất ở trạng thái ổn định khi :
. Toàn bộ các điểm trên biểu đồ đều nằm trong hai đường giới hạn kiểm soát
của biểu đồ.
. Các điểm liên tiếp trên biểu đồ có sự biến động nhỏ.
- Quá trình sản xuất ở trạng thái không ổn định khi:
. Một số điểm vượt ra ngoài các đường giới hạn của biểu đồ kiểm soát.
. Các điểm trên biểu đồ có những dấu hiệu bất thường mặc dù chúng vẫn nằm
trong đường giới hạn kiểm soát.
- Các dấu hiệu bất thường biểu hiện ở các dạng sau đây :
hoa thành Xí nghiệp Liên hợp Dệt Quảng Nam Đà Nẵng có trụ sở đặt tại Hoà Khánh
Hoà Vang Quảng Nam Đà Nẵng.
Vào tháng 10/1986 Xí nghiệp Liên Hợp Dệt Quảng Nam Đà Nẵng được UBND tỉnh
Quảng Nam Đà Nẵng tách ra thành 2 Xí nghiệp đó là Nhà máy Dệt Hoà Khánh và Nhà
máy Dệt nhuộm Quảng Nam Đà Nẵng có trụ sở đặt tại 53 Núi Thành Thành phố Đà
Nẵng. Hoạt động chủ yếu trong giai đoạ này là tập trung khai thác nguồn hàng. kinh
doanh sợi các loại và gia công vải cho Liên Xô cũ.
Trong tình hình chung của cả nước , đây là giai đoạn chuyển đổi cơ chế từ bao cấp
sang cơ chế thị trường, đây là giai đoạn bắt đầu do vậy nhà máy cũng gặp rất nhiều
khó khăn, sản xuất cầm chừng.
Đến tháng 10/1992 để đơn giản hoá và xoá bỏ những xí nghiệp làm ăn không có hiệu
quả, không trụ nổi với cơ chế mới, UBND tỉnh đã ra quyết định 357 xác nhập các Xí
nghiệp gồm: Xí nghiệp Dệt kim Đà Nẵng, Xí nghiệp Giày da Đà Nẵng, Nhà máy Dệt
nhuộm Quảng Nam Đà Nẵng thành Công ty Hữu Nghị Đà Nẵng. Đây là doanh nghiệp
Nhà nước, hạch toán độc lập có tư cách pháp nhân, có quyền sử dụng con dấu riêng,
mở tài khoản giao dịch tại các ngân hàng, trực thuộc Sở Công nghiệp Thành phố Đà
Nẵng.
Mặt hàng chủ yếu của công ty là: giày vải, giày thể thao, giày da và giày cao cấp
Mocasun.
Số điện thoại : 622452 - 836803.
Fax: 84.51.22472.
2. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của công ty:
2.1. Chức năng:
Là doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng giày vải, giày thể thao và giày da đáp ứng
nhu cầu thị trường.
Sản xuất kinh doanh theo đúng khoản mục đã kinh doanh đăng ký với Nhà nước.
Thực hiện đầy đủ quyền hạn và nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước thông qua các
chính sách như thuế, luật pháp. Đảm bảo hiệu quả kinh doanh, bảo toàn và không
ngừng phát huy các thế mạnh sẵn có đưa công ty ngày một đi lên, nâng cao đời sống
cán bộ công nhân viên, giữ chữ tín đối với cộng đồng là kim chỉ nan cho mọi hoạt
công ty .
Có quyền tự cân đối năng lực sản xuất, hoàn thiện cơ cấu sản phẩm theo quy trình
công nghệ mới. Phát triển quá trình sản xuất nâng cao chất lượng sản phẩm.
Có quyền xây dựng bộ máy quản lý sản xuất kinh doanh sao cho quá trình quản lý đó
đem lại hiệu quả là cao nhất.
Có quyền tự xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh sao cho phù hợp với thực tế của
công ty.
3. Cơ cấu tổ chức của Công ty Hữu nghị Đà Nẵng:
3.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức:
Là một hệ thống các phòng ban và các xí nghiệp, thể hiện mối quan hệ giữa các bộ
phận quản lý khác nhau ở côn g ty.
Quan hệ đó thể hiện cụ thể qua sơ đồ sau:
Bộ máy điều hành và quản lý của Công ty Hữu Nghị Đà Nẵng được điều hành chủ
yếu thông qua 2 phó giám đốc và các trưởng phòng.
Trong đó, những người đứng đầu các phòng, ban có quyền điều khiển nhân viên của
mình một cách độc lập và phải chịu trách nhiệm trước các phó giám đốc và giám đốc.
Qua sơ đồ quản lý ta có thể thấy các ưu điểm và nhược điểm của sơ đồ này:
* Ưu điểm:
Công việc được điều hành một cách độc lập, không chồng chéo nên có thể giải quyết
vấn đề một cách nhanh chóng.
Thông tin được thu thập từ cấp dưới được sàn lọc, đánh giá sau đó mới được chuyển
đến cho bộ phận có liên quan.
* Nhược điểm:
Cơ cấu còn cồng kềnh, làm chậm quá trình trao đổi thông tin tăng chi phí trong thiết
bị, dụng cụ văn phòng.
Thiếu linh hoạt cho việc ra các quyết định.
3.2. Chức năng , nhiệm vụ, quyền hạn của các phòng ban:
a. Giám đốc:
Điều hành toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu theo kế hoạch, hợp
đồng thông qua các trợ lý của mình.
d. Phòng kế toán - tài vụ:
Tổ chức và hạch toán kinh doanh một cách thống nhất giữa các xí nghiệp trên toàn
công ty.
Duyệt quyết toán theo quy định cho các đơn vị trực thuộc.
Thực hiện các nghĩa vụ của công ty đối với Nhà nước.
Theo dõi các khoản nợ, vốn, tiền và hàng hóa một cách rõ ràng và thường xuyên để
tham mưu cho giám đốc công ty.
Lập báo cáo tổng hợp các kết quả tài chính của công ty.
e. Phòng sản xuất kinh doanh:
Điều tra và nghiên cứu thị trường mà sản phẩm của công ty đang lưu hành nhằm mục
đích thoả mãn các yêu cầu của khách hàng.
Xây dựng các kế hoạch sản xuất trong năm qua đó lập kế hoạch mua vật tư, thiết bị,
nguyên vật liệu trong và ngoài nước.
Có quyền liên hệ với các đối tác trong cũng như ngoài nước để ký kết hợp đồng.
Tham mưu cho ban giám đốc công ty về việc xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh
với mục đích làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao nhất.
f. Phòng xuất nhập khẩu:
Báo cáo cho ban giám đốc công ty về việc thực hiện các công tác như: lập hợp đồng
xuất nhập - mở L/C nhập, kiểm tra đối chiếu L/C xuất với ngày dự kiến xuất hàng từ
phòng sản xuất kinh doanh làm thủ tục xuất hàng với hải quan. Lập chứng từ thanh
toán, triển khai và theo dõi quá trình xuất và nhập khẩu hàng hóa tại công ty.
Phải thiết lập và triển khai các tài liệu, chứng từ xuất nhập khẩu cho phòng kế toán tài
vụ.
Phối hợp chặt chẽ với các phòng ban và đặc biệt là phòng kinh doanh để đảm bảo an
toàn cho khách hàng sản xuất. Kế hoạch xuất nhập khẩu chính xác phù hợp với các
hợp đồng tránh những sự cố đáng tiếc có thể xảy ra.
Tham mưu cho ban giám đốc và phòng kinh doanh về việc lựa chọn đánh giá nhà cung
cấp và đối tác.
g. Phòng quản lý thiết bị, đầu tư , môi trường:
Xây dựng các phương án an toàn lao động, máy móc thiết bị, nhà xưởng, lập kế hoạch