BÁO CÁO THỰC TẬP
Đề tài
Hệ thống di tích lịch sử - văn hóa ở
Thanh Hóa
Mục lục
Trang
Mở Đầu 1
Nội Dung 2
1. Khái quát Thanh Hóa 2
1.1. Vị trí địa lý 2
1.2. Lịch sử hình thành 3
1.3. Điều kiện tự nhiên 4
1.3.1. Địa hình, địa mạo 4
1.3.2. Khí hậu, thủy văn 5
1.4. Điều kiện kinh tế, xã hội 6
1.4.1. Điều kiện kinh tế 6
1.4.2. Điều kiện xã hội 11
1.5. Văn hóa, con người 12
1.5.1. Văn hóa văn nghệ dân gian 12
1.5.2. Con người xứ Thanh 13
2. Hệ thống các di tích lịch sử - văn hóa ở Thanh Hóa 14
2.1. Khái quát di tích lịch sử - văn hóa 14
2.1.1. Khái niệm di tích lịch sử - văn hóa 14
2.1.2. Phân cấp di tích 15
2.2. Hệ thống di tích lịch sử - văn hóa ở Thanh Hóa 16
2.2.1. Khái quát hệ thống di tích lịch sử ở Thanh Hóa 16
2.2.2. Các di tích lịch sử văn hóa liên quan đến sự tồn tại của người
nguyên thủy và các nền văn hóa tiêu biểu của thời tiền sử, sơ sử 17
2.2.3. Các di tích lịch sử văn hóa gắn liền với thời dựng nước và giữ
nước ở Thanh Hóa (đến nửa đầu thế kỉ XIX) 26
2.2.4. Các di tích lịch sử liên quan đến hai cuộc kháng chiến chống Pháp
Những di tích lịch sử văn hóa đó hiện nay vẫn luôn được sự quan tâm,
chăm sóc của chính quyền địa phương cũng như nhân dân. Và không chỉ có
chừng ấy di tích mà tại Thanh Hóa còn di tích gắn với từng thời kì lịch sử cụ
thể của tỉnh. Trong nội dung bài này sẽ đi tìm hiểu về hệ thống các di tích
lịch sử văn hóa và việc bảo tồn các di tích đó ở tỉnh Thanh.
Nội Dung
1. Khái quát Thanh Hóa
Thanh Hóa là tỉnh cực Bắc miền Trung Việt Nam, cách thủ đô Hà Nội
khoảng 150 km về phía Nam và cách thành phố Hồ Chí Minh 1.560km về
hướng Bắc. Đây là một tỉnh lớn của Việt Nam, đứng thứ 5 về diện tích và thứ
3 về dân số trong số các đơn vị hành chính trực thuộc trung ương, cũng là một
trong những địa điểm sinh sống đầu tiên của người Việt.
Cách đây khoảng 6000 năm con người đã sinh sống tại đây. Các di chỉ
khảo cổ cho thấy nền văn hóa xuất hiện đầu tiên tại đây là văn hóa Đa Bút.
Sang đầu thời đại kim khí, thuộc thời đại đồ đồng, qua các bước phát triển với
các giai đoạn trước văn hóa Đông Sơn. Thanh Hóa đã trải qua một tiến trình
phát triển với các giai đoạn văn hoá: Cồn Chân Tiên, Đông Khối - Quỳ Chữ
tương đương với các văn hóa Phùng Nguyên - Đồng Đậu - Gò Mun ở lưu vực
sông Hồng. Và sau đó là nền văn minh Văn Lang cách đây hơn 2.000 năm
tiêu biểu văn hoá Đông Sơn. Để hiểu được hệ thống các di tích lịch sử ở
Thanh Hóa thì chúng ta sẽ tìm hiểu khái quát về Thanh Hóa.
1.1. Vị trí địa lý
Theo thiên văn cổ xưa đo đạc năm 1831 (năm Minh Mệnh thứ 10) thì
tỉnh Thanh Hóa thuộc về sao Dực, sao Chẩn, tinh thứ sao Thuần Vĩ, múc cao
nhất là 19 độ 26 phân, lệch về phía tây 1 độ 40 phân. Ngày nay, theo số liệu
đo đạc hiện đại của cục bản đồ thì Thanh Hóa nằm ở vĩ tuyến 19°18’ Bắc đến
20°40’ Bắc, kinh tuyến 104°22’ Đông đến 106°05’ Đông. Phía bắc giáp ba
tỉnh: Sơn La, Hòa Bình và Ninh Bình; phía nam và tây nam giáp tỉnh Nghệ
An; phía tây giáp tỉnh Hủa Phăn nước Lào với đường biên giới 192km; phía
đông Thanh Hóa mở ra phần giữa của vịnh Bắc Bộ thuộc biển Đông với bờ
Hóa. Tên gọi Thanh Hóa không đổi từ đó cho tới ngày nay.
1.3. Điều kiện tự nhiên
1.3.1. Địa hình, địa mạo
Địa hình Thanh Hóa nghiêng từ tây bắc xuống đông nam. Ở phía tây
bắc, những đồi núi cao trên 1.000m đến 1.500m thoải dần, kéo dài và mở
rộng về phía đông nam. Đồi núi chiếm 3/4 diện tích của cả tỉnh, tạo tiềm năng
lớn về kinh tế lâm nghiệp, dồi dào lâm sản, tài nguyên phong phú. Dựa vào
địa hình có thể chia Thanh Hóa ra làm các vùng miền.
Miền núi và đồi trung du chiếm phần lớn diện tích của Thanh Hóa.
Riêng miền đồi trung du chiếm một diện tích hẹp và bị xé lẻ, không liên tục,
không rõ nét như ở Bắc Bộ. Do đó nhiều nhà nghiên cứu đã không tách miền
đồi trung du của Thanh Hóa thành một bộ phận địa hình riêng biệt mà coi các
đồi núi thấp là một phần không tách rời của miền núi nói chung.
Miền đồi núi chiếm 2/3 diện tích Thanh Hóa, nó được chia làm 3 bộ
phận khác nhau bao gồm 11 huyện: Như Xuân, Như Thanh, Thường Xuân,
Lang Chánh, Bá Thước, Quan Hóa, Quan Sơn, Mường Lát, Ngọc Lạc, Cẩm
Thủy và Thạch Thành. Vùng đồi núi phía tây có khí hậu mát, lượng mưa lớn
nên có nguồn lâm sản dồi dào, lại có tiềm năng thủy điện lớn, trong đó sông
Chu và các phụ lưu có nhiều điều kiện thuận lợi để xây dựng các nhà máy
thủy điện. Miền đồi núi phía Nam đồi núi thấp, đất màu mỡ thuận lợi trong
việc phát triển cây công nghiệp, lâm nghiệp, cây đặc sản và có Vườn quốc gia
Bến En (thuộc địa bàn huyện Như Thanh và huyện Như Xuân), có rừng phát
triển tốt, với nhiều gỗ quý, thú quý.
Vùng đồng bằng của Thanh Hóa lớn nhất của miền Trung và thứ ba của
cả nước. Đồng bằng Thanh Hóa có đầy đủ tính chất của một đồng bằng châu
thổ, do phù sa các hệ thống sông Mã, sông Yên, sông Hoạt bồi đắp.
Vùng ven biển: Các huyện từ Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Sầm
Sơn, Quảng Xương đến Tĩnh Gia, chạy dọc theo bờ biển gồm vùng sình lầy ở
Nga Sơn và các cửa sông Hoạt, sông Mã, sông Yên và sông Bạng. Bờ biển
dài, tương đối bằng phẳng, có bãi tắm nổi tiếng Sầm Sơn, có những vùng đất
hiện tại mới chỉ có một số nhà máy đang tiến hành khai thác nguồn tài
nguyên, như: nhà máy xi măng Bỉm sơn, do kiểm soát không chặt chẽ.
Về công nghiệp, Cũng như Việt Nam, nền công nghiệp Thanh Hóa
không phát triển. Tính đến thời điểm năm 2009, Thanh Hóa có 5 khu
công nghiệp tập trung và phân tán. Một số khu công nghiệp: Khu công
nghiệp Bỉm Sơn - Thị xã Bỉm Sơn; Khu công nghiệp Nghi Sơn (nằm
trong Khu kinh tế Nghi Sơn) - Huyện Tĩnh Gia; Khu công nghiệp Lễ
Môn - Thành phố Thanh Hóa; Khu công nghiệp Đình Hương (Tây Bắc
Ga) - Thành phố Thanh Hóa; Khu công nghiệp Lam Sơn - Huyện Thọ
Xuân
Hiện tại Thanh Hóa đang xây dựng khu kinh tế Nghi Sơn. Khu kinh tế
này được Thủ tướng Chính phủ ký quyết định thành lập và ban hành quy chế
hoạt động số 102/2006/QĐ-TTg ngày 15 tháng 5 năm 2006. Khu kinh tế này
nằm ở phía Nam của tỉnh Thanh Hóa, cách Hà Nội 200 km, có đường bộ và
đường sắt quốc gia chạy qua, có cảng biển nước sâu cho tầu có tải trọng đến
30.000 DWT cập bến. Khu kinh tế Nghi Sơn là một trung tâm động lực của
vùng Nam Thanh Bắc Nghệ đang được quy hoạch, cũng được đánh giá là
trọng điểm phát triển phía Nam của vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, đồng
thời là cầu nối giữa vùng Bắc Bộ với Trung Bộ, với thị trường Nam Lào và
Đông Bắc Thái Lan.
Về nông nghiệp, Thống kê đến năm 2004, toàn tỉnh có 239.843 ha đất
nông nghiệp đang được sử dụng khai thác. Năm 2002, tổng sản lượng
lương thực cả tỉnh đạt 1,408 triệu tấn. Năm 2003, tổng sản lượng nông
nghiệp cả tỉnh đạt 1,5 triệu tấn: nguyên liệu mía đường 30.000 ha; cà
phê 4.000 ha; cao su 7.400 ha; lạc 16.000 ha; dứa 1.500 ha; sắn 7.000
ha; cói 5.000 ha
Lâm nghiệp, Thanh Hóa là một trong những tỉnh có tài nguyên rừng
lớn với diện tích đất có rừng 436.360 ha, trữ lượng khoảng 15,84 triệu
m³ gỗ, hàng năm có thể khai thác 35.000 - 40.000m³ (thời điểm số liệu
hiện tại năm 2007). Rừng Thanh Hóa chủ yếu là rừng cây lá rộng, có hệ
được xác định là thị trường tiềm năng ở tất cả các loại hình bảo hiểm
nhân thọ và phi nhân thọ. Hiện tại trên địa bàn tỉnh có tám công ty bảo
hiểm được cấp phép hoạt động bảo hiểm. Các công ty bảo hiểm trên
địa bàn đang không ngừng mở rộng thị trường, tạo sự cạnh tranh lành
mạnh nhằm mục đích nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng.
Thương mại dịch vụ, Trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới,
thương mại Thanh Hóa đã có bước phát triển quan trọng. Trên địa bàn
đã hình thành hệ thống bán buôn, bán lẻ với sự tham gia của nhiều
thành phần kinh tế, tạo điều kiện lưu thông thuận tiện hàng hóa phục
vụ nhu cầu đời sống, sinh hoạt và sản xuất của nhân dân. Kim ngạch
xuất khẩu tăng đều qua các năm, năm 2000 đạt trên 30 triệu USD,
năm 2001 đạt 43 triệu USD và năm 2002 đạt 58 triệu USD. Thị
trường xuất khẩu ngày càng được mở rộng, bên cạnh thị trường Nhật
Bản, Đông Nam Á, một số doanh nghiệp đã xuất khẩu sang Mỹ,
Châu Âu. Những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của tỉnh là: nông sản
(lạc, vừng, dưa chuột, hạt kê, ớt, hạt tiêu, cà phê ), hải sản (tôm, cua,
mực khô, rau câu), hàng da giày, may mặc, hàng thủ công mỹ nghệ
(các sản phẩm mây tre, sơn mài, chiếu cói ), đá ốp lát, quặng crôm
Giao thông, Thanh Hóa là một trong những tỉnh có cả 3 hệ thống giao
thông cơ bản là đường sắt, đường bộ và đường thủy. Trên toàn tỉnh có 8
ga tàu hỏa là Bỉm Sơn, Đò Lèn, Nghĩa Trang, Hàm Rồng, Thanh Hóa,
Yên Thái, Minh Khôi, Thị Long trong đó có một ga chính trong tuyến
đường sắt Bắc Nam, 4 tuyến đường bộ huyết mạch của Việt Nam (quốc
lộ 1A, quốc lộ 45, quốc lộ 47, và đường Hồ Chí Minh), trong đó quốc
lộ 47 dài 61 km, quốc lộ 1A chạy qua Thanh Hóa dài 123 km; một cảng
nước sâu. Thanh Hóa có sân bay quân sự Sao Vàng. Các dự án đường
sắt cao tốc Bắc Nam, đường cao tốc Bắc Nam đều đi qua Thanh Hóa.
Về du lịch, Thanh Hóa cũng là tỉnh có tiềm năng lớn về du lịch. Năm
2007 du lịch Thanh Hóa năm đón tiếp gần 1,7 triệu lượt khách, chủ yếu là
khách trong nước đến tham quan nghỉ mát tại đô thị du lịch biển Sầm Sơn.
di tích cung điện thành nội, thành ngoại, sân Rồng
- Thái miếu nhà Hậu Lê: thuộc phường Đông Vệ, thành phố Thanh
Hóa, có 27 thần vị và có nhiều hiện vật có từ thế kỷ 17, 18.
- Đền Bà Triệu, huyện Hậu Lộc.
- Đền thờ Lê Hoàn, huyện Thọ Xuân.
- Khu di tích lịch sử Phủ Trịnh và chùa Báo Ân, đã được xếp hạng cấp
quốc gia.
- Khu lăng miếu Triệu Tường, huyện Hà Trung, nơi phát tích triều
Nguyễn.
- Phủ Na (huyện Triệu Sơn), đền Sòng (Bỉm Sơn).
- Khu di chỉ, khảo cổ văn hóa Đông Sơn.
- Khu di tích Hàm Rồng: gồm cầu Hàm Rồng (một biểu tượng thời
Chiến tranh Việt Nam), đồi Quyết Thắng.
- Tòa Giám mục công giáo Thanh Hóa, chùa Thanh Hà, chùa Chanh và
chùa Mật Đa (thành phố Thanh Hóa).
- Thác Muốn, Điền Quang , Điền Lư, Bá Thước
- Suối cá Văn Nho, Bá Thước
…
1.4.2. Điều kiện xã hội
Thanh Hóa có 27 đơn vị hành chính trực thuộc, chỉ đứng sau thành phố
Hà Nội. Thanh Hóa có 639 đơn vị hành chính cấp xã bao gồm 22 phường, 30
thị trấn và 587 xã.
Thanh Hóa là tỉnh có dân số lớn thứ ba của Việt Nam hiện nay. Lịch sử
hình thành và phát triển của xứ Thanh gắn liền với quá trình cộng cư của
người Việt với người Mường và các dân tộc khác. Đồng thời có một bộ phận
không nhỏ dân cư Thanh Hóa đang sinh sống tại các đô thị lớn trong nước
như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Vinh, cũng như tại một số
nước trên thế giới. Theo kết quả điều tra dân số năm 2009, Thanh Hóa có
3.400.239 người, đứng thứ ba Việt Nam, chỉ sau thành phố Hồ Chí Minh và
Hà Nội. Trong 10 năm từ 1999 đến 2009, quy mô dân số giảm 0,2%, do số
đặc sản độc đáo nổi tiếng cả nước của xứ Thanh như: nem chua Thanh Hóa,
chè lam Phủ Quảng, dê núi đá, gà đồi (của huyện Vĩnh Lộc), bánh gai Tứ
Trụ (của huyện Thọ Xuân), các món chế biến từ hến làng Giàng (huyện
Thiệu Hóa), bánh đa cầu Bố (thành phố Thanh Hóa), mía đen Kim Tân
(huyện Thạch Thành), hay các món hải sản: cua biển, ghẹ, sò huyết, tôm,
mực, cá thu, cá tràu từ các huyện ven biển Sầm Sơn, Tĩnh Gia, Nga Sơn.
1.5.2. Con người xứ Thanh
Con người xứ Thanh với một lòng mến khách, tính tình ngay thẳng.
Siêng năng trong lao động sản xuất và anh hùng trong đánh giặc ngoại xâm.
Người xứ Thanh sống nặng tình nặng nghĩa, họ tin vào đời sống tinh thần,
vào thế giới tâm linh, tin vào sự công bằng và chở che của trời đất. Vì thế,
những đình làng cổ kính luôn được gìn giữ với tấm lòng trân trọng và thành
kính. Những mái đình còn lại với thời gian không còn nhiều, nhưng vẫn giữ
được những nét chạm trổ tinh xảo của nghệ nhân xưa với mái ngói âm dương
phủ đầy rêu và không gian trang nghiêm pha chút u tịch của chốn thờ tự.
Thanh Hóa là tỉnh có có truyền thống hiếu học ở Việt Nam, từ thời
phong kiến đã có nhiều vị đỗ đạt cao trong các kì thi. Việc học hành ở Thanh
Hóa cho thấy có nhiều người đỗ đạt. Suốt hai triều Lê, Nguyễn tỉnh Thanh
Hóa có 1690 cử nhân (không có số liệu về tú tài nhưng thông thường mỗi
khoa thi cứ 20 cử nhân thì có 70 tú tài).Có 2 trạng nguyên, 7 bảng nhãn ,6
Thám hoa. Nếu kể cả những người đỗ nhất giáp chế khoa thì có thêm 7 người
nữa.
Tại Thanh Hóa có nhiều người là người mở đầu hay tiêu biểu cho nền
học thuật nước nhà như nhà sử học Lê Văn Hưu, Hồ Quý Ly là người có nhận
thức mới về Nho giáo, Lương Đắc Bằng, Đào Duy Từ là nhà quân sự đồng
thời cũng là nhà nghệ thuật, Nguyễn Hữu Hào mở đầu cho dòng truyện Nôm
ở Việt Nam, Nguyễn Thu, Ngô Cao Lãng là những nhà nghiên cứu dày
công, có nhiều tác phẩm đồ sộ về cả sử học, địa lý. Ngày nay, con em xứ
Thanh vẫn không ngừng học tập rèn luyện và là một trong nhiều tỉnh có tỉ lệ
học sinh đỗ đạt cao ở các kì thi trong nước và quốc tế. Họ vẫn đang từng ngày
hùng dân tộc, danh nhân của đất nước. Các di tích tiêu biểu thuộc loại này
như khu di tích lịch sử Kim Liên, đền Kiếp Bạc, Lam Kinh, đền Đồng Nhân
- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của
các thời kỳ cách mạng, kháng chiến. Các di tích tiêu biểu thuộc loại này như
khu di tích chiến thắng Điện Biên Phủ, Địa đạo Củ Chi, khu di tích lịch sử
cách mạng Pắc Bó
Đến năm 2010, di tích lịch sử văn hóa chiếm 51.2% số di tích được xếp hạng.
2.1.2. Phân cấp di tích
Căn cứ vào giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, di tích lịch sử - văn hoá,
danh lam thắng cảnh (gọi chung là di tích) được chia thành:
- Di tích cấp tỉnh là di tích có giá trị tiêu biểu của địa phương. Chủ tịch Uỷ
ban nhân dân cấp tỉnh quyết định xếp hạng di tích cấp tỉnh.
- Di tích quốc gia là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia. Bộ trưởng Bộ
Văn hoá - Thông tin quyết định xếp hạng di tích quốc gia.
- Di tích quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia.
Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt; quyết
định việc đề nghị Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hợp quốc
xem xét đưa di tích tiêu biểu của Việt Nam vào Danh mục di sản thế giới.
Trong trường hợp di tích đã được xếp hạng mà sau đó có đủ căn cứ xác
định là không đủ tiêu chuẩn hoặc bị huỷ hoại không có khả năng phục hồi thì
người có thẩm quyền quyết định xếp hạng di tích nào có quyền ra quyết định
huỷ bỏ xếp hạng đối với di tích đó.
2.2. Hệ thống di tích lịch sử - văn hóa ở Thanh Hóa
2.2.1. Khái quát hệ thống di tích lịch sử ở Thanh Hóa
Mảnh đất xứ Thanh, hiện nay có hệ thống quần thể di tích đậm đặc, gồm
1.535 di tích lịch sử - văn hóa gắn với quá trình dựng nước và giữ nước của
dân tộc, trong đó có 657 di tích được xếp hạng (146 di tích quốc gia, 511 di
tích cấp tỉnh), không những có giá trị đặc trưng mà còn đa dạng về thể loại.
Các di tích xếp hạng được phân theo 4 loại hình, bao gồm: kiến trúc nghệ
thuật, lịch sử, khảo cổ học và danh lam thắng cảnh, được trải đều trên địa bàn
Các dấu vết của người nguyên thuỷ - người vượn sớm nhất ở Việt
Nam, lần đầu tiên được phát hiện vào năm 1960 tại núi Ðọ, Thanh Hoá. Do
đặc trưng điển hình của hệ thống di tích này, các nhà khảo cổ học cho rằng đã
tồn tại một nền văn hoá sơ kì thời đại đồ đá cũ: Văn hoá núi Ðọ. Văn hoá núi
Ðọ bao gồm một hệ thống các di tích sơ kì thời đại đồ đá cũ được phát hiện ở
Thanh Hoá: Núi Ðọ, núi Nuông, Quan Yên I, núi Nổ.
Di chỉ núi Ðọ: Nằm trong địa phận hai xã Thiệu Tân và Thiệu Khánh
huyện Thiệu Hoá, cách thành phố Thanh Hoá 7km về phía Bắc - Tây Bắc.
Ðây là một hòn núi cao 160m, nằm bên hữu ngạn sông Chu. Người vượn
nguyên thuỷ đã sinh sống ở đây, ghè vỡ đá núi để chế tác công cụ. Những
công cụ bằng đá mang dấu ấn chế tác bởi bàn tay của họ như mảnh tước, hạch
đá, rìu tay đã được phát hiện ở núi Ðọ khá nhiều. Ngày nay, trên sườn núi
Ðọ, hàng vạn mảnh tước (mảnh ghè khi người nguyên thuỷ chế tác công cụ)
vẫn còn nằm rải rác, nhất là sườn phía Ðông và phía Tây nam.
Gần nửa thế kỷ qua, di tích núi Đọ đã được các nhà nghiên cứu trong
và ngoài nước điều tra, khai quật, nghiên cứu. Hơn 2.500 di vật đã được phát
hiện và sưu tầm từ di tích khảo cổ này. Các sưu tập di vật về núi Đọ đã được
trưng bày trong phần mở đầu lịch sử tại Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam,
Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa, nhà truyền thống của địa phương.
Di chỉ Núi Quan Yên: Trên núi Quan Yên, tại địa điểm Quan Yên I
(bên sườn Ðông - Ðông nam), thuộc xã Ðịnh Công, huyện Yên Ðịnh, năm
1978 các nhà khảo cổ cũng đã phát hiện được những vết tích của con người
sơ kì thời đại đồ đá cũ. So với núi Ðọ, núi Nuông, mật độ và số lượng hiện
vật thu được có ít hơn, nhưng kĩ thuật chế tác các loại hình công cụ ở đây cao
hơn, gọi là kĩ thuật của loài vượn sơ kì thời đại đồ đá cũ, đồng thời đây cũng
là một loại hình di chỉ - xưởng. Căn cứ vào trình độ kĩ thuật chế tác công cụ,
địa hình cư trú và dựa vào những thành tựu mới nhất của các ngành khoa học,
các nhà khoa học cho rằng, người vượn nguyên thuỷ văn hoá núi Ðọ là những
người vượn đứng thẳng phát triển. Họ sống thành từng bầy, có thủ lĩnh bầy,
mỗi bầy bao gồm từ 5-7 gia đình, có khoảng 20 - 30 người. Họ kiếm thức ăn
đại từ hậu kì đá cũ đến văn hoá Hoà Bình, thuộc xã Hạ Trung huyện Bá
Thước. Năm 1989, các hang Lang Chánh I, II, III, (thuộc xã Lâm Sa, huyện
Bá Thước), được các nhà khảo cổ học Việt Nam hợp tác với các nhà khoa học
Mỹ tiến hành khai quật và nghiên cứu. Hiện vật phát hiện ở các di chỉ này chủ
yếu là công cụ bằng đá gồm các loại: mảnh tước đã tu chỉnh, rìu ngắn, công
cụ 1/4 viên cuội, công cụ có rìa lưỡi ngang được xác định là công cụ của
chủ nhân văn hoá Sơn Vi muộn, kéo dài đến văn hoá Hoà Bình.
Di chỉ Hang Con Moong: Ðáng chú ý nhất là hang Con Moong - một
di tích nằm trong khu vực Vườn Quốc gia Cúc Phương - thuộc xã Thành Yên,
huyện Thạch Thành. Di tích này được khai quật năm 1976. Tại đây, người
vượn nguyên thuỷ Thanh Hoá đã sinh sống từ hậu kì thời đại đồ đá cũ đến
thời đại đồ đá mới. Tầng văn hoá ở Con Moong dầy tới 3,5m với sự tiếp diễn
liên tục, không hề có sự ngắt quãng. Tại lớp văn hoá sớm nhất (dưới cùng) ở
Con Moong (đã được xác định niên đại bằng phương pháp cacbon phóng xạ
C14 là hơn 12.000 năm cách ngày nay) các nhà khảo cổ học đã thu được
nhiều hiện vật. Ðó là những công cụ bằng đá có hình múi cam, công cụ có rìa
lưỡi một đầu, công cụ 1/4 viên cuội, được tạo bằng thủ pháp đập vỡ cuội. Ðó
là những chày nghiền, bàn nghiền - những hòn đá không có dấu vết chế tác,
chỉ có dấu vết sử dụng bởi một mặt lõm xuống hình lòng máng, được dùng để
chà vỏ, nghiền thức ăn thực vật; là những công cụ bằng xương có hình mũi
nhọn được chế tạo từ những đoạn xương ống của các loài thú lớn. Xương,
răng động vật cũng phát hiện được khá nhiều, gồm xương cốt các loài lửng, tê
giác, voi, hươu, nai, hoẵng, baba, rùa vàng Cũng giống như ở mái đá Ðiều,
tầng văn hoá ở Con Moong chứa khá nhiều vỏ trai, ốc núi, ốc suối. Trong lớp
văn hoá Sơn Vi ở Con Moong, đã tìm thấy dấu vết của bếp lửa có hình gần
tròn, đường kính tới 4m, bên cạnh mùn thực vật và hạt trám. Trong lớp văn
hoá Sơn Vi ở Con Moong, đã phát hiện được 3 mộ táng gồm 5 cá thể (có 2
mộ song táng) đã xác định được 1 nam, 1 nữ (khoảng 50 - 60 tuổi), hai trẻ em
và 1 người không xác định được giới tính. Tất cả các hài cốt được chôn theo
tư thế nằm nghiêng co bó gối, được bôi thổ hoàng, có một mộ chôn theo công
tại cửa hướng Tây
Nam, liên tục từ thời văn hoá Sơn Vi đến văn hoá Hoà Bình, Bắc Sơn. Các
nhà khảo cổ đã thu được rất nhiều hiện vật nằm lẫn trong đống vỏ nhuyễn thể
và mùn thực vật mà người nguyên thuỷ đã thải ra trong quá trình sinh hoạt.
Về công cụ bằng đá: cư dân văn hoá Hoà Bình ở Con Moong vẫn giữ truyền
thống văn hoá Sơn Vi: dùng đá cuội để chế tác công cụ, nhưng kỹ thuật chế
tác công cụ của họ rất phát triển, kể cả loại hình lẫn phương pháp chế tác.
Công cụ kiểu Xumatơra (Sumatralithe) có hình bầu dục hay hình hạnh nhân,
lưỡi được tạo xung quanh rìa hòn cuội bằng cả thủ pháp ghè tỉa, để có độ sắc
bén hơn; có chức năng sử dụng rất đa dạng: có thể dùng cắt, chặt, nạo từ
thịt, xương thú đến tre, nứa, gỗ. Rìu ngắn chiếm tỉ lệ rất lớn trong bộ sưu tập
công cụ của họ ở Thanh Hoá; người ta thường chặt cuội hoặc chặt đôi những
công cụ hình bầu dục để tạo rìu ngắn; chức năng của rìu ngắn cũng rất đa
dạng. Rìu dài hình hạnh nhân hay hình bầu dục của cư dân văn hoá Hoà Bình
có nhiều khả năng được sử dụng như những chiếc cuốc đá. Mảnh tước ở Con
Moong có số lượng không nhiều, nhưng phần lớn đã được gia công để tạo
thành công cụ nạo, dao đá, với rìa đá rất sắc. Chày nghiền, bàn nghiền cũng là
những công cụ được tìm thấy khá nhiều. Chủ nhân Con Moong cũng chế tác
và sử dụng công cụ bằng xương thú với kỹ thuật chọn nguyên liệu và chế tác
phát triển khá cao: người ta chỉ lựa chọn xương ống của động vật có vú - loại
xương có cấu tạo sợi nhiều hơn cấu tạo xốp - để chế tác công cụ và đã mài
nhẵn đầu. Thức ăn rất phong phú, đa dạng: trong tầng văn hoá, các nhà khảo
cổ học đã thu được 85m
3
vỏ nhuyễn thể như trùng trục, trai, ốc và các loại
xương thú rất phong phú. Chôn người chết theo tư thế nằm nghiêng chân co
như cư dân văn hoá Sơn Vi giai đoạn trước, nhưng họ đã chèn đá hộc, rải đá
dăm quanh mộ để bảo vệ và đều chôn theo công cụ.
Di chỉ mái đá Ðiều và các di chỉ khác: Cũng như ở Con Moong, mái
đá Ðiều là một di chỉ chứa đựng nhiều lớp văn hoá thuộc các thời đại đồ đá