GVHD: Th.S Nguyễn Xuyên Hệ thống di tích lịch sử văn hóa du lịch ở Việt Nam
Lời Mở Đầu
Mới nghe em chớ vội cười
Cây rau má “sâm” của người xứ Thanh
Miền quê bão lụt nắng hanh
Vươn lên để sống chỉ nhành má thôi….
Hãy còn văng vẳng đâu đây một lời tâm huyết, xứ Thanh một miền “địa linh,
nhân kiệt”, như một người mẹ đôn hậu và thông minh đã sản sinh cho đất nước biết
bao anh hùng và danh nhân văn hóa. Đây còn là quê hương của ba dòng vua (tiền Lê,
Nhà Hồ, Hậu Lê), là nơi hai dòng chúa: Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn.
Thanh Hóa có bề dày về lịch sử đấu tranh cách mạng từ bao đời và truyền
thống văn hóa, lại có địa hình thiên nhiên sông núi phong phú đa dạng. Vì thế di tích
và thắng cảnh xứ Thanh rất thơ mộng và đặc sắc. Từ lâu bạn bè gần xa vẫn thiết tha
đến với cái đẹp say lòng, với những miền quê vừa duyên dáng, vừa oai hùng của
Hàm Rồng kỳ tú, rung động lòng người trong thập cảnh huyền ảo mộng mơ: Từ Thức
gặp tiên, của Ngàn Nưa lịch sử, Cửa Hà giàu niềm thi cảm, của suối cá Cẩm Lương
có một không hai và Sầm Sơn đón gió đại dương, của vườn Quốc gia Bến En, ...
Thanh Hóa đã vang danh tên tuổi bởi văn hóa Núi Đọ, văn hóa Đông Sơn, mảnh đất
của Bà Triệu cưỡi voi đánh giặc và Lam Sơn tụ nghĩa của Lê Lợi mười năm làm rạng
rỡ non sông đất nước…
Bên cạnh những truyền thống quý báu của con người xứ Thanh cùng với
những tài nguyên mà thiên nhiên ưu đãi. Những người nông dân nơi đây đang từng
giờ, từng ngày lao động sản xuất hăng say để xây dựng quê hương đất nước. Cũng
chính từ những ưu đãi đó, đã tạo cho xứ Thanh những tiềm năng du lịch phong phú,
tạo điều kiện thuận lợi để phát triển ngành du lịch. Vì vậy, trong nội dung bài này sẽ
giới thiệu những tiềm năng du lịch và đồng thời đưa ra định hướng phát triển du lịch
trên địa bàn tỉnh.
SVTH: Lê Thị Thúy Nga Trang 1
GVHD: Th.S Nguyễn Xuyên Hệ thống di tích lịch sử văn hóa du lịch ở Việt Nam
Nội Dung
1. Khái quát về Thanh Hóa
Thời kì dựng nước nó là bộ Cửu Chân và bộ Quân Ninh của nước Văn Lang. Thời
Nhà Hán chính quyền đô hộ Thanh Hóa thuộc quận Cửu Chân. Thời kì tự chủ thì
Thanh Hóa được đổi tên nhiều, Nhà Đinh và Tiền Lê Thanh Hóa gọi là đạo Ái Châu,
Nhà Lý thời kỳ đầu gọi là trại Ái Châu, về sau vào năm Thuận Thiên 1 thì gọi là Phủ
Thanh Hóa (Thanh: trong sáng; Hóa: biến hóa).
Năm 1430, Hồ Hán Thương đổi phủ Thanh Hóa thành phủ Thiên Xương. Sau
khi nhà Hồ thất thủ, nhà Minh cai trị Đại Việt, lại đổi lại làm phủ Thanh Hóa như cũ,
đặt thêm hai huyện: Lôi Dương, Thụy Nguyên. Về địa giới vẫn không đổi.
Sau khi khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi, nhà hậu Lê cầm quyền. Năm Thuận
Thiên thứ nhất (năm 1428), Lê Thái Tổ chia nước làm 5 đạo, Thanh Hóa thuộc Hải
Tây đạo, đến năm Quang Thuận thứ 7 (năm 1466) đặt tên là Thừa Tuyên Thanh Hóa,
năm Quang Thuận thứ 10 (năm 1469) lại đổi thành Thừa Tuyên Thanh Hoa, tên
Thanh Hoa có từ đây. Thanh Hoa Thừa Tuyên theo “Thiên Nam dư hạ tập” lãnh 4
phủ, 16 huyện và 4 châu. Thời Nhà Lê, Thanh Hóa là thừa tuyên Thanh Hóa, gồm
phần đất tỉnh Thanh Hóa ngày nay và tỉnh Ninh Bình (thời kỳ đó là phủ Trường Yên,
trực thuộc) và tỉnh Hủa Phăn (Sầm Nưa) của Lào (thời kỳ đó gọi là châu Sầm).
Sau khi nhà Nguyễn lên nắm quyền, Thanh Hóa thuộc quyền cai trị của nhà
Nguyễn. Năm Gia Long thứ nhất (1802), gọi là trấn Thanh Hóa. Năm Minh Mệnh
thứ 12 (1831), đổi trấn thành tỉnh, bắt đầu gọi là tỉnh Thanh Hoa (Hoa: tinh hoa). Đến
năm Thiệu Trị thứ nhất (1841), lại đổi thành tỉnh Thanh Hóa. Tên gọi Thanh Hóa
không đổi từ đó cho tới ngày nay.
1.1.3. Điều kiện tự nhiên
a. Địa hình, địa mạo
Địa hình Thanh Hóa nghiêng từ tây bắc xuống đông nam. Ở phía tây bắc,
những đồi núi cao trên 1.000m đến 1.500m thoải dần, kéo dài và mở rộng về phía
đông nam. Đồi núi chiếm 3/4 diện tích của cả tỉnh, tạo tiềm năng lớn về kinh tế lâm
nghiệp, dồi dào lâm sản, tài nguyên phong phú. Dựa vào địa hình có thể chia Thanh
Hóa ra làm các vùng miền.
Miền núi và đồi trung du chiếm phần lớn diện tích của Thanh Hóa. Riêng miền đồi
trung du chiếm một diện tích hẹp và bị xé lẻ, không liên tục, không rõ nét như ở Bắc
tới 39 - 40°C. Mùa lạnh bắt đầu từ giữa mùa thu đến hết mùa xuân năm sau. Mùa này
thường hay xuất hiện gió mùa đông bắc, lại mưa ít; đầu mùa thường hanh khô.
Lượng nước trung bình hàng năm khoảng 1730-1980mm, mưa nhiều tập trung vào
SVTH: Lê Thị Thúy Nga Trang 4
GVHD: Th.S Nguyễn Xuyên Hệ thống di tích lịch sử văn hóa du lịch ở Việt Nam
thời kỳ từ tháng 5 đến tháng 10 âm lịch, còn từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau lượng
mưa chỉ dưới 15%.
Hàng năm Thanh Hóa có khoảng 1700 giờ nắng, tháng nắng nhất là tháng 7,
tháng có ít nắng là tháng 2 và tháng 3. Thành phố Thanh Hóa chỉ cách bờ biển Sầm
Sơn 10km đường chim bay, vì thế nó nằm vào tiểu vùng khí hậu đồng bằng ven biển,
chính nhờ có gió biển mà những ngày có gió Lào, thời gian không khí bị hun nóng
chỉ xảy ra từ 10 giờ sáng đến muộn nhất là 12 giờ đêm. Thanh Hóa cũng như các tỉnh
miền Trung Việt Nam thường hay chịu các trận bão từ Thái Bình Dương. Theo chu
kỳ từ 3-5 năm lại xuất hiện một lần từ cấp 9 đến cấp 10, cá biệt có năm cấp 11 đến
cấp 12.
1.1.4. Điều kiện kinh tế, xã hội
a. Điều kiện kinh tế
Là tỉnh có nguồn tài nguyên đa dạng nhưng nhìn chung nguồn tài nguyên có
trữ lượng không lớn, và thường phân bố không tập trung nên rất khó cho việc xi
măng Nghi sơn, phân bón Hàm rồng,... Đa số nguồn tài nguyên đang bị thất thoát
phát triển công nghiệp khai khoáng. Thanh Hóa hiện tại mới chỉ có một số nhà máy
đang tiến hành khai thác nguồn tài nguyên, như: nhà máy xi măng Bỉm sơn, do kiểm
soát không chặt chẽ.
Về công nghiệp, Cũng như Việt Nam, nền công nghiệp Thanh Hóa không phát
triển. Tính đến thời điểm năm 2009, Thanh Hóa có 5 khu công nghiệp tập trung và
phân tán. Một số khu công nghiệp: Khu công nghiệp Bỉm Sơn - Thị xã Bỉm Sơn; Khu
công nghiệp Nghi Sơn (nằm trong Khu kinh tế Nghi Sơn) - Huyện Tĩnh Gia; Khu
công nghiệp Lễ Môn - Thành phố Thanh Hóa; Khu công nghiệp Đình Hương (Tây
Bắc Ga) - Thành phố Thanh Hóa; Khu công nghiệp Lam Sơn - Huyện Thọ Xuân
Hiện tại Thanh Hóa đang xây dựng khu kinh tế Nghi Sơn. Khu kinh tế này
phía tây nam có khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên là những nơi tồn trữ và bảo vệ
các nguồn gien, động vật, thực vật quý, đồng thời là những điểm du lịch hấp dẫn.
Ngư nghiệp, Ngư nghiệp Thanh Hóa có nhiều điều kiện phát triển. Thanh Hóa
có 102 km bờ biển và vùng lãnh hải rộng 17.000 km2, với những bãi cá, bãi tôm có
trữ lượng lớn. Dọc bờ biển có 5 cửa lạch lớn, thuận lợi cho tàu thuyền ra vào. Vì vậy
Thanh Hóa có điều kiện phát triển ngư nghiệp rất tốt.
Các ngành dịch vụ
Về ngân hàng, bên cạnh Ngân hàng Nhà nước, hệ thống ngân hàng thương
mại trên địa bàn tỉnh gồm Ngân hàng Công thương, Ngân hàng Đầu tư Phát triển,
SVTH: Lê Thị Thúy Nga Trang 6
GVHD: Th.S Nguyễn Xuyên Hệ thống di tích lịch sử văn hóa du lịch ở Việt Nam
Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT, Ngân hàng Chính sách. Hiện nay, các ngân hàng
đang thực hiện đổi mới và đa dạng hóa các hình thức huy động vốn, áp dụng các
công nghệ tiên tiến trong việc chuyển phát nhanh, thanh toán liên ngân hàng, thanh
toán quốc tế bảo đảm an toàn và hiệu quả. Tổng nguồn vốn huy động tín dụng hàng
năm đạt trên 3.000 tỷ đồng, tổng dư nợ năm 2002 đạt trên 4.000 tỷ đồng, tăng 20%
so với năm 2001.
Về Bảo hiểm, Là tỉnh có dân số đông thứ ba cả nước, Thanh Hóa được xác
định là thị trường tiềm năng ở tất cả các loại hình bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ.
Hiện tại trên địa bàn tỉnh có tám công ty bảo hiểm được cấp phép hoạt động bảo
hiểm. Các công ty bảo hiểm trên địa bàn đang không ngừng mở rộng thị trường, tạo
sự cạnh tranh lành mạnh nhằm mục đích nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng.
Thương mại dịch vụ, Trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, thương
mại Thanh Hóa đã có bước phát triển quan trọng. Trên địa bàn đã hình thành hệ
thống bán buôn, bán lẻ với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, tạo điều kiện
lưu thông thuận tiện hàng hóa phục vụ nhu cầu đời sống, sinh hoạt và sản xuất của
nhân dân. Kim ngạch xuất khẩu tăng đều qua các năm, năm 2000 đạt trên 30 triệu
USD, năm 2001 đạt 43 triệu USD và năm 2002 đạt 58 triệu USD. Thị trường xuất
khẩu ngày càng được mở rộng, bên cạnh thị trường Nhật Bản, Đông Nam Á, một số
doanh nghiệp đã xuất khẩu sang Mỹ, Châu Âu. Những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu
Quy.
- Suối cá thần Cẩm Lương: Thuộc làng Ngọc, xã Cẩm Lương, huyện Cẩm
Thủy, cách thành phố Thanh Hóa 80 km về phía Tây, là suối cá tự nhiên, có tới hàng
ngàn con cá. Mỗi con cá nặng từ 2 đến 8 kg, có cá chúa nặng tới 30 kg.
- Cụm di tích Nga Sơn: Động Từ Thức, Cửa biển Thần Phù, Chiến khu Ba
Đình, đền thờ Mai An Tiêm...
- Cụm di tích thành nhà Hồ, gồm thành Tây Đô (thuộc địa phận 2 xã: Vĩnh
Tiến và Vĩnh Long, huyện Vĩnh Lộc, cách thành phố Thanh Hóa khoảng 50 km) và
các di tích kề cận như đàn Nam Giao, động Tiên Sơn (thuộc xã Vĩnh An, huyện Vĩnh
Lộc)...
- Khu di tích lịch sử Lam Kinh: Thuộc xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, cách
thành phố Thanh Hóa 50 km về phía Tây. Hiện còn lưu giữ các điêu khắc đá như bia
SVTH: Lê Thị Thúy Nga Trang 8
GVHD: Th.S Nguyễn Xuyên Hệ thống di tích lịch sử văn hóa du lịch ở Việt Nam
Vĩnh Lăng (Lê Lợi), bia hoàng hậu Ngô Thị Ngọc Dao, các di tích cung điện thành
nội, thành ngoại, sân Rồng...
- Thái miếu nhà Hậu Lê: thuộc phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa, có 27
thần vị và có nhiều hiện vật có từ thế kỷ 17, 18.
- Đền Bà Triệu, huyện Hậu Lộc.
- Đền thờ Lê Hoàn, huyện Thọ Xuân.
- Khu di tích lịch sử Phủ Trịnh và chùa Báo Ân, đã được xếp hạng cấp quốc
gia.
- Khu lăng miếu Triệu Tường, huyện Hà Trung, nơi phát tích triều Nguyễn.
- Phủ Na (huyện Triệu Sơn), đền Sòng (Bỉm Sơn).
- Khu di chỉ, khảo cổ văn hóa Đông Sơn.
- Khu di tích Hàm Rồng: gồm cầu Hàm Rồng (một biểu tượng thời Chiến
tranh Việt Nam), đồi Quyết Thắng.
- Tòa Giám mục công giáo Thanh Hóa, chùa Thanh Hà, chùa Chanh và chùa
Mật Đa (thành phố Thanh Hóa).
- Thác Muốn, Điền Quang , Điền Lư, Bá Thước
truyện dân gian của ngư dân ven biển Hậu Lộc, Sầm Sơn, Tĩnh Gia. Đặc biệt là các
sự tích về nguồn gốc dân tộc Mường.
Các lễ hội cũng rất đặc sắc như lễ hội Pôồn Pôông của người Mường, lễ hội
cầu ngư, lễ hội đền Sòng...
Văn nghệ thời kì sau cách mạng tháng Tám ở Thanh Hóa có các nhà thơ Hồng
Nguyên, Hữu Loan, Nguyễn Bao, Nguyễn Duy, nhà văn Triệu Bôn... Trong thời kì
chiến tranh chống Mỹ những năm 1960-1975, địa danh Hàm Rồng là đề tài của nhiều
tác phẩm văn học nghệ thuật.
Một số tác phẩm thơ viết về quê hương Thanh Hóa như: Về lại xứ Thanh
(Phan Quế), Về với Sầm Sơn (Hà Hồng Kỳ), Quê Mẹ (Lưu Đình Long), Quê tôi đấy -
Xứ Thanh! (Văn Công Hùng), Dô tả, dô tà (Mạnh Lê), Mẹ Tơm (Tố Hữu), Trụ cầu
Hàm Rồng (Mã Giang Lân).
Ẩm thực: Đến Thanh Hóa du khách sẽ được thưởng thức những món đặc sản
độc đáo nổi tiếng cả nước của xứ Thanh như: nem chua Thanh Hóa, chè lam Phủ
Quảng, dê núi đá, gà đồi (của huyện Vĩnh Lộc), bánh gai Tứ Trụ (của huyện Thọ
Xuân), các món chế biến từ hến làng Giàng (huyện Thiệu Hóa), bánh đa cầu Bố
SVTH: Lê Thị Thúy Nga Trang 10
GVHD: Th.S Nguyễn Xuyên Hệ thống di tích lịch sử văn hóa du lịch ở Việt Nam
(thành phố Thanh Hóa), mía đen Kim Tân (huyện Thạch Thành), hay các món hải
sản: cua biển, ghẹ, sò huyết, tôm, mực, cá thu, cá tràu từ các huyện ven biển Sầm
Sơn, Tĩnh Gia, Nga Sơn.
b. Con người xứ Thanh
Con người xứ Thanh với một lòng mến khách, tính tình ngay thẳng. Siêng
năng trong lao động sản xuất và anh hùng trong đánh giặc ngoại xâm. Người xứ
Thanh sống nặng tình nặng nghĩa, họ tin vào đời sống tinh thần, vào thế giới tâm linh,
tin vào sự công bằng và chở che của trời đất. Vì thế, những đình làng cổ kính luôn
được gìn giữ với tấm lòng trân trọng và thành kính. Những mái đình còn lại với thời
gian không còn nhiều, nhưng vẫn giữ được những nét chạm trổ tinh xảo của nghệ
nhân xưa với mái ngói âm dương phủ đầy rêu và không gian trang nghiêm pha chút u
tịch của chốn thờ tự.
* Bãi biển Sầm Sơn
Biển Sầm Sơn thuộc thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách thành phố Thanh
Hóa 16km. Bờ biển dài, bằng phẳng, phong cảnh hùng vĩ, đã được người Pháp khai
thác từ năm 1906.
Bãi biển Sầm Sơn là nơi tắm biển rất tốt mà người Pháp đã biết khai thác từ
năm 1906 và Sầm Sơn nhanh chóng trở thành nơi nghỉ mát nổi tiếng của Ðông
Dương. Từ những thập kỷ trước, đã có nhiều biệt thự nghỉ mát mọc lên ở đây. Vua
Bảo Ðại, ông vua cuối cùng của triều Nguyễn cũng xây biệt thự riêng ở Sầm Sơn.
Sầm Sơn có nhiều cảnh đẹp: hòn Trống Mái, đền Ðộc Cước, núi Cô Tiên...
Bờ biển Sầm Sơn dài 10km bằng phẳng và nhiều hải sản quý như tôm he, cá
thu, mực... Sầm Sơn có cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ, vùng biển bao la với những
thắng tích và huyền thoại mang đậm chất nhân văn và lòng mến khách. Bãi biển Sầm
Sơn là một trong những bãi biển rộng và đẹp ở phía bắc.
* Biển Hải Hòa, Tĩnh Gia
Nằm trên địa phận huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hoá, biển Hải Hoà gần như
chưa có tên trên “bản đồ” du lịch Việt Nam. Tuy nhiên, với nét đẹp “hoang sơ” và bờ
biển... rất sạch, biển Hải Hoà sẽ sớm trở thành điểm đến của khách du lịch trong thời
gian tới. Biển có nét đẹp “hoang sơ” với bờ cát mịn trải dài xen lẫn những rặng phi
lao. Người dân Hải Hoà rất mến khách, họ chủ yếu sinh sống bằng nghề đánh bắt hải
sản và ai đến đây cũng được họ đón tiếp bằng như nụ cười thân thiện.
SVTH: Lê Thị Thúy Nga Trang 12
GVHD: Th.S Nguyễn Xuyên Hệ thống di tích lịch sử văn hóa du lịch ở Việt Nam
Đến với Hải Hoà, chúng ta có thể thưởng thức những món ăn đặc trưng của
biển và món “đặc sản” mà gần như chỉ ở Hải Hoà mới có: gỏi sứa chấm nước sốt,
nộm sứa và bánh đa. Mới đây, bãi biển Hải Hoà đã được tỉnh Thanh Hóa đưa vào quy
hoạch thiết kế trong khu sinh thái du lịch. Trong tương lai không xa, bãi biển Hải
Hoà sẽ trở thành điểm đến quen thuộc của những du khách muốn có được một kỳ
nghỉ mát lý thú, vui vẻ.
2.1.2. Thắng cảnh
* Hòn Trống Mái
người chồng quyết định giữ lấy bí mật đó cho riêng mình, quyết tâm dứt bước ra đi.
Anh đi biển mà mãi mãi không trở về.
Người vợ ở nhà ngày ngày ngóng trông mòn mỏi. Mỗi chiều nàng lại bồng
con trèo lên hòn núi ở cửa biển, con mắt đăm đăm nhìn về phía chân trời mù mịt. Tuy
nước mắt bấy giờ đã khô kiệt, nhưng người phụ nữ vẫn không quên trèo núi trông
chồng. Về sau cả hai mẹ con đều hóa ra đá, trở thành hình bóng quen thuộc vĩnh viễn.
Người ta vẫn gọi là đá Trông Chồng hay đá Vọng Phụ.
* Sông Mã - Núi Rồng - Núi Ngọc
Một vùng đất có nhiều di tích lịch sử, văn hóa, có nhiều hang động, nhiều
danh thắng. Một vùng đất sôi động những chiến công qua các thời kỳ lịch sử.
“Thanh Hóa thắng địa là nơi
Rồng vờn hạt ngọc, hạc bơi ven thành”
Câu ca dao trên là nói tới dãy núi Rồng. Dãy núi này kéo dài từ Dương Xá
(làng Giàng, thuộc xã Thiệu Dương, huyện Thiệu Hóa) chạy ngoằn nghèo, nhấp nhô
uốn lượn ven bờ sông Mã, khi chạy hết tầm nó ngóc cao tạo thành một cái đầu giống
như đầu Rồng, có mắt, có mũi với cái mồm đang chực đớp lấy viên ngọc. Trông hình
dáng ấy người ta gọi là Hàm Rồng - tên chữ là Long Hạm. Đối diện với Hàm Rồng
bên kia sông có một hòn núi tròn trĩnh xinh xắn gọi là núi Ngọc, tên chữ là Hỏa
Châu. Nếu không có dòng sông Mã chảy giữa núi Rồng và núi Ngọc thì vùng núi
Rồng có đủ 100 ngọn, “Chín mươi chín ngọn bên đông. Còn một ngọn Nít qua sông
chưa về” theo người xưa nói thì nơi nào có đủ con số một trăm như 100 ngọn núi,
100 con sông, 100 cồn đất, 100 cái giếng (tự nhiên), thì nơi đó sẽ trở thành đế đô
trường cửu. Chung quanh núi Rồng còn có rất nhiều ngọn núi mang những tên các
con vật thuộc loại tứ linh: long, ly, quy, phượng.
Từ phía làng Dương Xá (làng Giàng) đi lên ta gặp ngọn Ngũ Hoa Phong hay
còn gọi là núi Ngũ Nhạc, từ xa giống như năm bông sen chụm lại giữa một cánh
SVTH: Lê Thị Thúy Nga Trang 14
GVHD: Th.S Nguyễn Xuyên Hệ thống di tích lịch sử văn hóa du lịch ở Việt Nam
đồng rộng mênh mông. Ở đó có nhiều núi đá vôi và hang động, đẹp nhất là động
Tiên. Vào trong động rộng và sáng, nhũ đá rủ xuống tạo thành nhiều hình thù kỳ
làng lại rước kiệu thần và cỗ bàn về đây để tổ chức lễ hội. Ngày lễ hội này dân trong
vùng gọi là ngày giỗ Mẹ. “Tháng tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ”.
Đối diện với Hàm Rồng là Núi Ngọc. Dưới chân núi Ngọc còn một ngôi chùa
nằm về phía đông đó là chùa “Tiên Đồng”. Ta lấy trung tâm là núi Hàm Rồng với
đường kính từ 5 đến 7km ta sẽ gặp các đền miếu qua các thời. Ta đi từ bắc qua tây thì
sẽ gặp đền thờ Dương Đình Nghệ (làng Giàng), chùa Vốn (tên chữ là chùa Đại Hùng)
ở làng Vồm, Thiệu Khánh. Chùa Tăng Phúc Tự ở Hạc Oa. Đền thờ Trang Quốc Công
ở làng Đại Khối. Chùa Đại bi - làng Mật. Đền thờ Tướng Công ở làng Vệ Yên. Thái
miếu nhà Lê làng Bố Vệ. Chùa Thanh Hà - Đức Thọ Vạn. Chùa Chanh ở làng Hương
Bào Nội. Chùa Mật Đa, đền thờ Chu Nguyên Lương ở Nam Ngạn...
Di chỉ làng Đông Sơn được phát hiện vào năm 1929 nay thuộc phường Hàm
Rồng (thành phố Thanh Hóa). Làng Đông Sơn nằm lọt vào một thung lũng của dãy
núi Hàm Rồng sát bên bờ sông Mã về phía hữu ngạn. Đây là một địa danh mang tên
cho cả một nền văn hóa - nền văn hóa Đông Sơn.
Hàm Rồng trên có núi non kỳ thú, dưới có dòng sông Mã chảy qua đêm ngày
quả là một vùng “non nước hữu tình”. Theo An Nam chí lược đã ngợi ca cảnh sắc nơi
đây: “Núi cao và đẹp trông ra sông Định Minh (sông Mã), lên cao thấy nước trời một
sắc thật là giai cảnh...”.
* Cụm thắng cảnh Tiến Nông
Thắng cảnh Tiến Nông thuộc xã Tiến Nông, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh
Hóa. Cụm thắng cảnh này gồm các di tích chùa Hoà Long, Phúc Vạn và bãi cò Tiến
Nông. Thắng cảnh này được tạo nên bởi sự kết hợp giữa nét cổ kính của những ngôi
chùa và cảnh trí tự nhiên của các cây cổ thụ tạo thành nơi cư ngụ cho chim, cò được
người dân gọi là “Bãi cò Tiến Nông”.
* Khu di tích thắng cảnh Phố Cát
Khu di tích thắng cảnh Phố Cát thuộc xã Thành Vân, huyện Thạch Thành. Nơi
đây có đền thờ Liễu Hạnh, có thác nước đẹp và cũng là một trong những trung tâm lễ
hội dân gian hàng năm.
* Danh thắng Biện Sơn
SVTH: Lê Thị Thúy Nga Trang 16
trắm, căng tròn ở phần giữa thân, vẩy như vẩy cá chép, lưng hơi sẫm, môi có màu
phớt hồng, vây và đuôi có chấm đỏ. Thi thoảng vào những dịp đặc biệt người ta còn
SVTH: Lê Thị Thúy Nga Trang 17
GVHD: Th.S Nguyễn Xuyên Hệ thống di tích lịch sử văn hóa du lịch ở Việt Nam
thấy xuất hiện những con “cá chúa”, mang có vành đỏ như đeo khuyên tai, mắt có hai
mí xanh đỏ, đuôi lại có chấm đỏ viền xanh. Người già Mường cho hay dấu ở nơi đuôi
cá gọi là “mặt nguyệt”. Chẳng ai cân đo được bao giờ nhưng ước chừng phải nặng tới
30 đến 40kg . Các cụ già cam đoan rằng con cá Chúa phải sống lâu năm bằng tuổi họ.
Giờ đây chuyện cá chúa xuất hiện chỉ còn như huyền thoại qua lời kể của các cụ cao
niên sống bên cạnh con suối. Các cụ cho hay rằng cá chúa chỉ xuất hiện đóng vai trò
như vị chỉ huy đàn cá múa mừng Chàng Rắn xuất hiện. Bây giờ du khách đến suối cá
Thần chỉ còn thấy dấu tích của Đền thờ Chàng Rắn được xây dựng vào thế kỷ 14 và
nghe con trẻ ngâm lại lời ca của già làng truyền cho, ngợi ca quá trình lập làng giữ
bản chống chọi với thiên tai giặc giã, mưu cầu bình an, thóc lúa khoai sắn đầy bồ,
rượu đầy chum đầy choé:
Chàng Rắn, chàng Rồng
Ba đầu chín mắt
Vảy sắt răng đồng
Mắt to bằng núi Cồng
Mồng to bằng lá Cọ
Trừ quái lập công.
Ơn ông to bằng bể
Công ông to bằng trời.
Du khách thích ngao du mê cảnh sông nước hữu tình có thể đi bằng ca nô, tàu
thuyền qua Ngốc - Vọ dừng lại ngắm cảnh trời mây non nước Cửa Hà cho thêm niềm
cảm hứng một lần lên với vùng cao. Để thoả chí nam nhi rong ruổi thoả thích ngắm
núi ngắm đồi, thăm thú đây đó, du khách có thể đi xe máy theo đường 217 qua thành
nhà Hồ thuộc huyện Vĩnh Lộc dừng chân thưởng thức công trình kỳ vĩ của cha ông,
rồi đến phố huyện vùng cao thuộc thị trấn Cẩm Thuỷ, thăm thú chợ phiên, ghé cửa
hàng thổ cẩm mua quà cho mình cho bạn.
Chỉ một lần say ngắm thỏa thuê cảnh sắc nơi đây, bao phiền muộn ưu tư lo
lắng sẽ tan biến, chẳng ai nghĩ đến bon chen danh lợi tiền bạc làm gì. Bạn thấy mình
thư thái thoải mái đến lạ lùng như được uống thuốc tiên thuốc thánh. Tầng tầng rừng
núi nguyên sinh với đủ loài cây cỏ để say ngắm tìm hiểu, muôn ngàn tiếng chim oanh
líu lo để tơ tưởng mơ màng. Tiếng chào mời của các hướng dẫn viên nhí chưa thạo
tiếng Kinh cũng làm bạn thích thú như thích thú vẻ nguyên sơ thuở hồng hoang ở nơi
đây. Suối cá thần Cẩm Lương là một sản phẩm độc đáo của thiên nhiên, với cảnh
SVTH: Lê Thị Thúy Nga Trang 19
GVHD: Th.S Nguyễn Xuyên Hệ thống di tích lịch sử văn hóa du lịch ở Việt Nam
quan tuyệt đẹp, có rừng có sông suối bản làng hiền lành và những người dân giản dị,
hòa quyện làm nên bức tranh sơn thuỷ hữu tình.
2.1.3. Vườn quốc gia, khu bảo tồn
* Vườn quốc gia Bến En
Với hệ sinh thái tự nhiên phong phú, mang tính đa dạng sinh học cao, Vườn
quốc gia Bến En, cách thành phố Thanh Hóa 45 km về phía tây nam, không những là
địa điểm nghiên cứu của những nhà khoa học và các sinh viên, mà còn là điểm du
lịch sinh thái hấp dẫn.
Được bao bọc giữa vùng đồi núi của hai huyện Như Xuân và Như Thanh, Bến
En có tổng diện tích tự nhiên hơn 16.600 ha và 30.000 ha rừng vùng đệm. Mặc dù
chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhưng nhiệt độ trung bình ở đây chỉ ở
mức 23 độ C. Vườn có hệ thực vật gồm 462 loài, 125 bộ. Bên cạnh các loài quý hiếm
như lim xanh, chò chỉ, sau sau, trai lý, vù hương... còn có các loại cây đặc sản có giá
trị cao làm nguyên liệu cho sản xuất đồ mỹ nghệ, lấy dầu và trên 300 loài cây dược
liệu. Hệ động vật ở đây cũng rất phong phú. Đặc biệt nơi đây còn có nhiều loài động
vật quý hiếm như voi, sóc đá, gấu ngựa, hổ, báo, vượn...
Trong lòng vườn còn có hồ sông Mực rộng trên dưới 3.000 ha, là thủy vực của
4 con suối lớn. Trên hồ có 21 hòn đảo lớn nhỏ và nhiều bán đảo với rừng xen lẫn các
mỏm đá tạo thành nhiều hình thù kỳ vĩ. Bên cạnh đó là dãy núi đá Hải Vân ẩn chứa
nhiều hang động đẹp nổi tiếng như cụm hang Ngọc dài hơn 80 m, rộng hơn 20 m,
trong hang có nhiều thạch nhũ mang hình thù khác nhau.
trọng đối với việc phòng hộ đầu nguồn sông Mã.
Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu là sự kết hợp giữa hệ sinh thái núi đá vôi với
hệ sinh thái núi đất và hệ sinh thái rừng độc đáo, với nhiều loài động, thực vật quý
hiếm. Pù Hu có 2 kiểu rừng chính. Rừng thường xanh đất thấp phân bố ở độ cao dưới
700 m, với các loài thực vật ưu thế thuộc họ Đậu, họ Xoan và họ Bồ hòn. Ở những
nơi có độ cao thấp hơn, kiểu rừng này đã bị tàn phá để lấy đất làm nương rẫy. Kiểu
SVTH: Lê Thị Thúy Nga Trang 21
GVHD: Th.S Nguyễn Xuyên Hệ thống di tích lịch sử văn hóa du lịch ở Việt Nam
rừng thường xanh núi thấp phân bố ở độ cao trên 700 m, với các loài thực vật ưu thế
của họ Dẻ, họ Dâu tằm và họ Re(Anon. 1998a).
Tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu đã được ghi nhận 508 loài thực vật và 266
loài động vật, thông tin được thu thập từ các đợt khảo sát thực địa ở tỉnh Thanh Hoá
năm 1997. Rừng Pù Hu có nhiều loại cây gỗ quý như kim giao, lát hoa, sến mật, trầm
hương, trường mật, song mật..., qua điều tra sơ bộ có 28 loài quý hiếm được xếp
trong sách đỏ Việt Nam.
Trong số các loài động vật ở Pù Hu, có tới hơn 30 loài đã được ghi vào sách
đỏ Việt Nam và thế giới. Một số loài thú có giá trị bảo tồn như gấu ngựa, gấu chó, bò
tót, voọc quần đùi trắng... Trong năm 2010 đã phát hiện ở Pù Hu có khoảng 7 - 8 con
bò tót và được tách riêng làm hai đàn riêng biệt và có dấu hiệu cho thấy đã có sự xuất
hiện của con non.
Khu hệ chim ở Pù Hu chưa được khảo sát đầy đủ, mặc dầu vậy cũng đã ghi
nhận được 1 loài chim có vùng phân bố hẹp là Trèo cây mỏ vàng (Sitta solangiae)
(Theo Lê Trọng Trải, 2000).
2.1.4. Hang động
* Động Từ Thức
Động thuộc xã Nga Thiện, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Trước đây được
gọi là động Bích Đào, sau được đổi tên là động Từ Thức vì gắn với câu chuyện tình
“Từ Thức lấy vợ tiên” được lưu truyền rộng rãi trong dân gian.
Động Từ Thức rất đẹp và gồm có hai động. Động ngoài hẹp, sáng sủa, có
miếu Sơn Thần và có bài thơ của Lê Quí Đôn khắc vào đá. Động trong rộng hơn và
Con Moong bởi đây là nơi duy nhất ở Đông Nam Á có thời gian tồn tại của con
người dài nhất và liên tục nhất. Đồng thời nơi đây cũng cho chúng ta thấy những hình
ảnh rõ ràng nhất về văn hoá vật thể và vă hoá tinh thần của cư dân cổ. Điều quan
trọng là chính những cư dân cổ này là cội nguồn của người Việt ta.
Tỉnh Thanh Hóa đã và đang cùng các nhà khoa học triển khai xây dựng hồ sơ
khoa học di tích hang Con Moong để trình Thủ tướng Chính phủ đề nghị UNESCO
công nhận là di sản văn hóa thế giới. Đồng thời xây dựng các phương án để hang Con
Moong trở thành địa chỉ hấp dẫn nằm trong quần thể các điểm du lịch của Vườn quốc
gia Cúc Phương.
* Động Tiên Sơn
SVTH: Lê Thị Thúy Nga Trang 23
GVHD: Th.S Nguyễn Xuyên Hệ thống di tích lịch sử văn hóa du lịch ở Việt Nam
Nhân dân xã Vĩnh An, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa vừa phát hiện một
hang động được coi là đẹp nhất từ trước tới nay ở Thanh Hóa, được tạm gọi là động
Tiên Sơn. Động ăn sâu vào trong lòng núi đá vôi hàng kilômet, bên trong có cảnh
quan đẹp, còn nguyên vẻ hoang sơ với nhiều nhũ đá vôi có hình thù khác nhau như:
hình Quan Thế Âm Bồ Tát ngồi thiền trên tòa sen, đàn đá, hình các loài vật, thác bạc,
giếng ngọc... Theo nhiều khách tham quan, cảnh đẹp trong động Tiên Sơn có thể sánh
ngang với động Thiên Cung ở Hạ Long và Phong Nha ở Quảng Bình.
Ngoài động Tiên Sơn vừa được phát hiện, ở xã Vĩnh An còn có bốn hang
động khác. Quần thể hang động này nằm trong vùng di tích ở huyện Vĩnh Lộc gồm
thành nhà Hồ, phủ chúa Trịnh, đền Hàn... là tiềm năng lớn để tỉnh Thanh Hóa phát
triển du lịch.
Hiện nay nhân dân và khách thập phương đang nô nức kéo về tham quan động
Tiên Sơn. Tuy nhiên các cấp, các ngành có liên quan vẫn chưa có biện pháp quản lý
để khai thác hiệu quả điểm du lịch này.
* Động Đăng
Động Đăng được phát hiện tình cờ nhờ một người dân xã Cẩm Lương lên núi
Trường Sinh tìm vàng, đồ cổ. Động nằm cách suối cá thần Cẩm Lương khoảng
200m. Trước đây, động bị cây cối che phủ rậm rạp, người dân không dám vào vì sợ
2.2.1. Di tích lịch sử - văn hóa
* Di tích Đông Sơn
Di tích Đông Sơn nằm bên bờ sông Mã, thuộc phường Hàm Rồng, thành phố
Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa. Nơi đây, những cuộc khai quật năm 1924 đã phát hiện
dấu vết của văn hoá đầu tiên ở Việt Nam.
Địa danh này (Đông Sơn) đã được đặt tên cho một nền văn hoá tiêu biểu cho
dân tộc Việt Nam thời kỳ dựng nước. Văn hoá Đông Sơn là nền văn hoá khảo cổ nổi
tiếng của Việt Nam và thế giới.
* Đền Bà Triệu
Đền Bà Triệu tọa lạc tại xã Phú Điền huyện Hậu Lộc. Hiện nay lăng tháp vẫn
còn, tuy đơn sơ, giản dị nhưng rất trang nghiêm. Trên đường thiên lý ra Bắc vào
Nam, khách bộ hành thường dừng chân, lên núi Gai, tưởng niệm vị nữ tướng anh
hùng, viếng lăng và thưởng ngoạn cảnh đẹp.
Tên thật của bà là Triệu Thị Trinh, nhưng nhân dân quen gọi là Bà Triệu với
lòng kính cẩn, nhớ công ơn bà đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống quân xâm lược
Ngô thế kỷ thứ 3. Vào khoảng năm 220, Cửu Chân thuộc quyền cai trị của Ðông Ngô
SVTH: Lê Thị Thúy Nga Trang 25