TẬP BÀI THẢO LUẬN CHÍNH SÁCH XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO - Pdf 20


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA XÃ HỘI HỌC
TẬP BÀI THẢO LUẬN
CHÍNH SÁCH XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
Giảng viên HD: PGS. TS. Nguyễn Thị Kim Hoa
Biên soạn: K54 Xã hội học
Tập bài thảo luận Chính sách xóa đói giảm nghèo _k54 Xã hội học (2012)
Hà Nội, 12/2012
2
Tập bài thảo luận Chính sách xóa đói giảm nghèo _k54 Xã hội học (2012)
MỤC LỤC
ĐO LƯỜNG NGHÈO KHỔ VÀ TIÊU CHÍ ĐỂ NHẬN DIỆN 77
NGHÈO KHỔ Ở VIỆT NAM 77
NGHÈO ĐÔ THỊ Ở VIỆT NAM 93
CHƯƠNG TRÌNH XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở VIỆT NAM VÀ NHỮNG
THÁCH THỨC TRONG GIAI ĐOẠN MỚI 114
+ Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ 1: Xóa bỏ tình trạng nghèo đói
cùng cực và thiếu đói 124
+ Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ 2: Phổ cập giáo dục tiểu học 124
+ Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ 3: Tăng cường bình đẳng giới và
nâng cao vị thế cho phụ nữ 125
+ Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ 4: Giảm tỉ lệ tử vong ở trẻ em 125
+ Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ 5: Nâng cao sức khỏe bà mẹ 125
+ Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ 6: Ngăn chặn HIV/AIDS, sốt rét
và các bệnh dịch khác 125
+ Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ 7: Đảm bảo bền vững môi trường.
126
+ Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ 8: Xây dựng quan hệ đối tác toàn
cầu vì sự phát triển 127

4
Tập bài thảo luận Chính sách xóa đói giảm nghèo _k54 Xã hội học (2012)
có cơ sở xây dựng chương trình xoá đói giảm nghèo phù hợp với tập quán và mức
sống ở nước ta hiện nay
1.2 Nghèo khó
Nghèo khó là một tình trạng thiếu thốn về nhiều phương diện như: thu nhập
thiếu do bị thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu những nhu cầu cơ bản hàng ngày của cuộc
sống, thiếu tài sản để tiêu dùng lúc bất trắc xảy ra và dễ bị tổn thương trước những
mất mát.
Hội nghị chống nghèo đói khu vực châu Á – Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại
Băng Cốc, Thái Lan (tháng 9/1993) đã đưa ra định nghĩa như sau: Nghèo khó là tình
trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của
con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát
triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa phương.
1.3 Các khái niệm khác
Nghèo được nhận diện trên 2 khía cạnh: nghèo đói tuyệt đối (Absolute Poverty) và
nghèo đói tương đối (Relative Poverty).
Nghèo tuyệt đối:
Để có một cái nhìn tổng quan về các vấn đề của các nước đang phát
triển, Robert McNamara, khi là giám đốc của Ngân hàng Thế giới, đã đưa ra khái
niệm nghèo tuyệt đối. Ông định nghĩa khái niệm nghèo tuyệt đối như sau: "Nghèo ở
mức độ tuyệt đối là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại. Những người nghèo
tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và
trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng mang dấu ấn của
cảnh ngộ may mắn của giới trí thức chúng ta."
Nghèo tương đối
Nghèo tương đối có thể là khách quan, tức là sự hiện hữu không phụ thuộc vào
cảm nhận của những người trong cuộc. Người ta gọi là nghèo tương đối chủ quan khi
những người trong cuộc cảm thấy nghèo không phụ thuộc vào sự xác định khách
quan. Bên cạnh việc thiếu sự cung cấp vật chất (tương đối), việc thiếu thốn tài nguyên

thực phẩm. Dự kiến 600.000 đồng/người/tháng với khu vực thành thị, 450.000
đồng/người/tháng với khu vực nông thôn. Dự báo tỷ lệ hộ nghèo cả nước 17 - 19%,
tương ứng khoảng 3,96 triệu hộ (19,8 triệu người nghèo).
Phương án 3: Ước tính trên cơ sở dự báo cơ cấu chi tiêu của nhóm dân cư có
mức tiêu dùng đạt nhu cầu tối thiểu đến năm 2011. Dự kiến 700.000
6
Tập bài thảo luận Chính sách xóa đói giảm nghèo _k54 Xã hội học (2012)
đồng/người/tháng đối với thành thị và 480.000 đồng/người/tháng đối với nông thôn.
Dự báo tỷ lệ hộ nghèo 20 - 22%, tương ứng 4,62 triệu hộ, 23,1 triệu người nghèo.
Tuy chuẩn nghèo theo phương án 2 và phương án 3 phản ánh được sát hơn cơ
cấu chi tiêu của người nghèo nhưng lại không phù hợp với khả năng cân đối ngân
sách. Vì thế, Chính phủ đã chọn phương án nâng chuẩn nghèo ở mức thấp nhất, tức
400.000 đồng/người/tháng cho khu vực nông thôn và 500.000 đồng/người/tháng cho
khu vực thành thị để áp dụng từ đầu năm 2011.
Chuẩn nghèo mới đã tăng gấp hai lần chuẩn đang được áp dụng là 200.000
đồng/người/tháng đối với khu vực nông thôn và 260.000 đồng/tháng đối với thành
thị. Đây là phương án có tính toán đến yếu tố tăng giá lương thực thực phẩm theo dự
báo chỉ số giá tiêu dùng, tuy vậy, những yếu tố còn lại như giáo dục, y tế, nhà ở chưa
được tính vào chuẩn này. Trong khi đó, chuẩn cao nhất mà Bộ Lao động - Thương
binh và Xã hội đề nghị đã tính toán hết các nhu cầu sống tối thiểu của một người dân,
bao gồm cả các vấn đề liên quan đến ăn, ở, chữa bệnh…
Còn chuẩn trung bình (450.000 đồng và 600.000 đồng áp dụng cho hai khu
vực như trên) là chuẩn mà Bộ rất muốn thực hiện vì không quá cao so với khả năng
của ngân sách, và cũng đã tính đầy đủ nhu cầu tiêu dùng của dân cư.
Tính theo sức mua tương đương (PPP) chuẩn nghèo (mới) của chúng ta
khoảng 1,610 USD/người/ngày ở khu vực thành thị và 1,25 USD/người/ngày ở khu
vực nông thôn.
1
2.2 Chuẩn nghèo Việt Nam qua các năm, các thời kỳ
Chuẩn nghèo không chỉ là cơ sở cơ bản và quan trọng nhất để xác định các hộ

gạo/tháng tương đương 45.000 đồng đối với tất cả các vùng.
+ Hộ nghèo: là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người 15kg
gạo/người/tháng tương đương 55.000 đồng ở khu vực nông thôn, miền núi.
-20kg gạo/người/tháng dối với khu vực nông thôn đồng bằng và trung du.
- 25kg gạo/người/tháng đối với khu vực thành thị.
• Giai đoạn năm 2001 – 2005
Tại quyết định số 1143/2000 QĐLĐTBXH ngày 1.11.2000 của bộ trưởng bộ
LĐ-TBXH đã phê duyệt chuẩn mức đói nghèo mới giai đoạn 2001-2005 theo mức thu
nhập bình quân đâu người cho từng vùng cụ thể như sau:
- Vùng nông thôn miền núi hải đảo: 80.000 đồng/người/tháng tương đương 960.000
đồng/năm.
8
Tập bài thảo luận Chính sách xóa đói giảm nghèo _k54 Xã hội học (2012)
- Vùng nông thôn đồng bằng: 100.000 đồng/người/tháng tương đương 1.200.000
đồng/năm.
- Vùng thành thị: 150.000 đồng/người/tháng tương đương 1.800.000 đồng /năm.
• Giai đoạn 2006 – 2010
Theo quyết định của thủ tướng chính phủ Việt Nam 170/2005/QĐ-TTg ký
ngày 08 Tháng 07 năm 2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn
2006 – 2010:
+ Khu vực nông thôn: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000
đồng/người/tháng (2.400.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.
+ Khu vực thành thị: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 260.000
đồng/người/tháng (dưới 3.120.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo
• Giai đoạn 2011 - 2015
Đối với giai đoạn mới hiện nay 2011 – 2015 Thủ tướng Chính phủ vừa ký
quyết định ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo mới áp dụng cho giai đoạn 2011 -
2015. Theo đó:
+ Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000
đồng/người/tháng (từ 4,8 triệu đồng/người/năm) trở xuống.

Thủ tướng chỉnh phủ vừa ký quyết định ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận
nghèo mới áp dụng cho giai đoạn 2011 -2015
- Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501 nghìn đồng đến
650.000 đồng/người/tháng.
- Hộ cận nghèo ở nông thôn là có mức thu nhập bình quân từ 401 nghìn đồng đến 520
nghìn đồng/người/tháng.
Qua các lần thay đổi mức chuẩn nghèo ở nước ta có thể nhận thấy một điều
rằng tuy mức chuẩn nghèo ở nước ta có tăng theo các giai đoạn nhưng nếu so với thế
giới thì mức chuẩn nghèo ở nước ta hiện nay vẫn còn quá thấp (chỉ bằng 1/3 của thế
giới). Giả sử với mức chuẩn nghèo hiện tại ở nông thôn là 400.000 đồng/người/tháng
thì có nghĩa một ngày thu nhập là hơn 13.000 đồng/người/ngày. Với số tiền này còn
không đáp ứng đủ nhu cầu ăn uống chứ chưa nói đến các chi phí để phục vụ nhu cầu
đi lại, nhà ở… Từ đó đến nay lại có sự biến động rất lớn về kinh tế, lạm phát tăng cao
trong một số năm, rồi sau đó là suy giảm kinh tế, trượt giá vào khoảng 40%. Mà
10
Tập bài thảo luận Chính sách xóa đói giảm nghèo _k54 Xã hội học (2012)
chuẩn nghèo hiện nay tính theo sức mua thực tế chưa hẳn đã bằng những năm trước
đây. Hãy tính lại thu nhập thực tế của chuẩn nghèo 2006 áp dụng để tính cho năm
2008.
Căn cứ vào sự biến động của CPI qua các năm để tính cho ta một kết quả như sau:
Bảng 2. Chỉ số giá tính với gốc cố định của một số mốc so sánh
2
Mức
chuẩn của
Tính cho 2000 (lần) Tính cho 2008 (lần)
Chỉ số
giá
chung
Hàng ăn
và dịch

nghèo theo chuẩn mới 2006 cũng xẩy ra tình trạng tương tự thu nhập thực tế của họ
năm 2008 thấp hơn năm 2000 và năm 1994. Nói cách khác, chuẩn nghèo hiện nay
nếu tính ra thu nhập thực tế thì thấp hơn cả mức chuẩn nghèo của năm 1994; 2000 và
2005.
Vậy một câu hỏi đặt ra là chúng ta có nên thay đổi mức chuẩn nghèo lấy theo
mức chuẩn nghèo quốc tế?
2
Nguồn: Tính từ số liệu bảng 17- Thời báo kinh tế Việt Nam: Kinh tế 2007-2008 Việt Nam và Thế giới; trang
81. Riêng số liệu năm 2008 TG dự đoán: CPI chung là 130%; Hàng ăn và dịch vụ 135,7%; riêng lương thực là
135%; thực phẩm là 136,7%.
11
Tập bài thảo luận Chính sách xóa đói giảm nghèo _k54 Xã hội học (2012)
Hiện có những quan điểm khác nhau về chuẩn nghèo giữa Việt Nam và thế
giới. Quan niệm chuẩn nghèo của thế giới quy định quốc gia có thu nhập bình quân
người hàng năm là 735 USD (mức thu nhập 2USD/người/ngày). Trong khi quan niệm
của Việt Nam coi chuẩn nghèo dựa trên các tính toán của các cơ quan chức năng như
Tổng cục Thống kê hay Bộ LĐ-TB&XH. Chuẩn nghèo theo Tổng cục Thống kê được
xác định dựa trên cách tiếp cận của Ngân hàng Thế giới (WB), gồm hai mức:
• Nghèo lương thực thực phẩm: tổng chi dùng chỉ tính riêng cho phần lương
thực thực phẩm, làm sao để đảm bảo lượng dinh dưỡng tối thiểu cho một người là
2100 kcal/ngày đêm;
• Nghèo chung: tổng chi dùng cho cả giỏ hàng tiêu dùng tối thiểu, được xác định
bằng cách ước lượng tỷ lệ: 70% chi dùng dành cho lương thực thực phẩm, 30% cho
các khoản còn lại.
Còn chuẩn nghèo của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội được xác định một
cách tương đối bằng cách làm tròn số và áp dụng cho từng khu vực và vùng miền
khác nhau (nông thôn miền núi, hải đảo, nông thôn đồng bằng, thành thị) dung
phương pháp dựa trên thu nhập của hộ. Các hộ được xếp vào diện nghèo nếu thu nhập
đầu người của họ ở dưới mức chuẩn được xác định, mức này khác nhau giữ thành thị,
nông thôn và miền núi. Tỷ lệ nghèo được xác định bằng tỷ lệ dân số có thu nhập dưới

vùng đồi núi, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người sinh sống. Phần lớn người
nghèo là những người làm nghề nông, ít được tiếp cận với nguồn lực sản xuất (vốn,
công nghệ ). Họ cũng gặp nhiều khó khăn về thị trường tiêu thụ sản phẩm do cách
biệt về mặt địa lý. Ngoài ra, có một hạn chế khi so sánh trong nước theo thời gian
không đảm bảo tính khoa học do chuẩn nghèo bị điều chỉnh thường xuyên và không
đồng nhất theo tỷ lệ giữa các vùng một cách hợp lý.
2.3 Chuẩn nghèo và cận nghèo của thành thị, nông thôn
Nghèo diễn tả sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương ứng với các
tiêu chuẩn tối thiểu nhất định. Thước đo các tiêu chuẩn này và các nguyên nhân dẫn
đến nghèo nàn thay đổi tùy theo địa phương và theo thời gian. Tổ chức Y tế Thế giới
định nghĩa nghèo theo thu nhập. Theo đó một người là nghèo khi thu nhập hàng năm
ít hơn một nửa mức thu nhập bình quân trên đầu người hàng năm (Per Capita
Incomme, PCI) của quốc gia.
3
Bảng chuẩn nghèo qua các năm ở thành thị và nông thôn
Đơn vị: Nghìn đồng.
3
/>13
Tập bài thảo luận Chính sách xóa đói giảm nghèo _k54 Xã hội học (2012)
Năm Thành thị Nông thôn
2004 220 170
2006 260 200
2008 290 220
2010 500 400
2011 600 480
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội công bố: Cả nước có 5 tỉnh, thành phố có
tỷ lệ hộ nghèo dưới 5% là TP HCM, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu và
Hà Nội. Đây là những khu vực đô thị hóa mạnh mẽ, đã ban hành chuẩn nghèo riêng,
cao hơn chuẩn nghèo quốc gia. Nhiều năm gần đây, khi lượng người nghèo ở nông
thôn giảm, thì số người nghèo đô thị lại tăng lên khá nhanh. Người nghèo thành phố

mức sống dân cư. Chuẩn nghèo của Ngân hàng thế giới chỉ có một mức chung cho cả
thành thị và nông thôn.
Dựa vào chuẩn nghèo này để tính tỉ lệ người nghèo chứ không phải hộ nghèo,
do vậy có tên gọi là “nghèo chung” hoặc “nghèo chi tiêu”.
Bảng: Tỷ lệ hộ nghèo theo các vùng của Việt Nam từ 2004-2008 (%)
TT Tỷ lệ hộ nghèo 2004 2005 2006 2007 2008
1 Cả nước 18,1 15,5 14,8 13,4 12,3
2 Thành thị 8,6 7,7 7,4 6,7 6,0
3 Nông thôn 21,2 18,0 17,7 16,1 14,8
4 Đồng bằng sông Hồng 12,7 10,0 9,5 8,6 7,7
5 Trung du, miền núi phía Bắc 29,4 27,5 26,5 25,1 23,5
6 Bắc trung bộ và Duyên hải miền Trung 25,3 22,2 21,4 19,2 17,6
7 Tây Nguyên 29,2 24,0 23,0 21,0 19,5
8 Đông Nam bộ 4,6 3,1 3,0 2,5 2,1
9 Đồng bằng sông Cửu long 15,3 13,0 12,4 11,4 10,4
Nguồn: Niên giám thống kê 2009, Nxb Thống kê, 2010
Theo số liệu thống kê tỷ lệ hộ nghèo ở nước ta từ 2004 đến 2008 liên tục giảm.
Nếu vào năm 2004 tỷ lệ hộ nghèo cả nước là 18,1% thì đến năm 2008 giảm còn
12,3%; trung bình mỗi năm giảm gần 1,2%. Tuy nhiên tỉ lệ hộ nghèo giảm không đều
ở các vùng miền trong cả nước. Tỉ lệ nghèo giảm nhanh ở vùng đồng bằng sông Hồng
từ 12,7% xuống còn 7,7%, nhưng giảm chậm ở vùng trung du, miền núi phía Bắc: từ
29,4% xuống còn 23,5% trong giai đoạn 5 năm từ 2004 đến 2008. Hà Nội ở đồng
bằng sông Hồng nên cũng có xu hướng giảm nhanh tỉ lệ nghèo trong những năm qua.
Dựa vào chuẩn nghèo của Ngân hàng thế giới, ví dụ chuẩn nghèo năm 2004 là
173 nghìn đồng/người tháng, 2006: 213 và năm 2008 là 280 nghìn đồng tháng, Tổng
15
Tập bài thảo luận Chính sách xóa đói giảm nghèo _k54 Xã hội học (2012)
cục thống kê xác định được tỉ lệ người nghèo chung hay tỉ lệ nghèo chi tiêu cho các
năm.
Bảng: Tỷ lệ người nghèo chung theo các vùng ở Việt Nam từ 1998-2008 (%)

và ban hành chuẩn nghèo mới cho năm 2011.
4
Tỉ lệ nghèo chung hay còn gọi là tỉ lệ nghèo chi tiêu theo cách tính của
16
Tập bài thảo luận Chính sách xóa đói giảm nghèo _k54 Xã hội học (2012)
Chuẩn nghèo của một vài tỉnh, thành phố trong cả nước thời kỳ mới
• Chuẩn nghèo tại Hà Nội
Hộ nghèo: là hộ có mức thu nhập dưới 750.000 đồng/người/tháng (đối với khu vực
thành thị) và dưới 550.000 đồng/người/tháng (đối với khu vực nông thôn) những hộ
nghèo
+ Mức chuẩn cận nghèo : đối với khu vực thành thị từ 751.000 đồng - 1.000.000
đồng/người/tháng, ở khu vực nông thôn từ 551.000 - 750.000 đồng/người/tháng. Đây
là quy chuẩn mới nhất mà UBND thành phố Hà Nội vừa ban hành theo Quyết định số
01/2011/QĐ-UBND về chuẩn nghèo, cận nghèo thành phố Hà Nội giai đoạn 2011-
2015. Theo tiêu chuẩn nêu trên thì Hà Nội sẽ có khoảng 148.000 hộ nghèo, chiếm
9,6% (trước đó là 117.000 hộ nghèo), số hộ ở mức chuẩn cận nghèo khoảng 61.000
hộ, chiếm 3,98%.
Trước đây, Hà Nội áp dụng cách tính chuẩn nghèo theo tiêu chí: với khu vực thành
thị là dưới 500.000 đồng/tháng, với khu vực nông thôn là dưới 330.000 đồng/tháng;
chuẩn cận nghèo ở thành thị từ 500.000 - 650.000 đồng/tháng, ở nông thôn là 330.000
- 430.000 đồng/tháng.
• Chuẩn nghèo ở TP.HCM
Hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân từ 12tr đồng/ người/ năm trở xuống)
không phân biệt nội thành, ngoại thành ( áp dụng giai đoạn 2009-2015
• Chuẩn nghèo của tỉnh Bình Dương
Quyết định số 49/2010/QĐ-UBND, ngày 22/12/2010, Quy định chuẩn nghèo
tỉnh Bình Dương giai đoạn 2011-2015. Theo quy định, đối với khu vực nông thôn,
những hộ có mức thu nhập bình quân từ 800.000 đồng/người/tháng trở xuống là hộ
nghèo.
Đối với khu vực thành thị, những hộ có mức thu nhập bình quân từ 1.000.0000

Nay quy định mức chuẩn nghèo trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giai đoạn
2011 - 2015, cụ thể như sau:
Hộ nghèo theo chuẩn của tỉnh là những hộ có thu nhập bình quân đầu người trong hộ
ở mức:
+ Khu vực nông thôn: từ 700.000 đồng/người/tháng (8.400.000 đồng/người/năm) trở
xuống.
+ Khu vực thành thị: từ 900.000 đồng/người/tháng (10.800.000 đồng/nguời/năm) trở
xuống, baogồm các hộ dân thuộc phường, thị trấn và huyện Côn Đảo.
18
Tập bài thảo luận Chính sách xóa đói giảm nghèo _k54 Xã hội học (2012)
Tài liệu tham khảo
/>moi/144/5542678.epi
/>te/20108/34747.vgp”
/> />co_id=10045 & cn_id=549309
/>su/2010/11/1048964/chuan-ngheo-va-nguoi-ngheo
/>khanhhoa.gov.vn.
PHÂN TẦNG XÃ HỘI VÀ NGHÈO ĐÓI
Nhóm 2:
1. Một số khái niệm cơ bản về phân tầng xã hội
1. 1. Cách tiếp cận của Mác và Weber về phân tầng xã hội
1.1.1. Quan niệm Mác Xít:
Giai cấp (class) được quyết định hoàn toàn bởi mối quan hệ của cá nhân với
phương thức sản xuất.
19
Tập bài thảo luận Chính sách xóa đói giảm nghèo _k54 Xã hội học (2012)
Mối quan hệ với phương thức sản xuất có liên hệ với nghề nghiệp nhưng không
hoàn toàn như nhau.
Yếu tố chủ chốt ở đây không phải là thu nhập hay nghề nghiệp

liệu cá nhân có kiểm soát công cụ hay phương thức sản xuất của họ hay không, có

20
Tập bài thảo luận Chính sách xóa đói giảm nghèo _k54 Xã hội học (2012)
của chủ nghĩa Mác – Lenin đã chỉ ra xu hướng chung là sự phân tầng xã hội sẽ biến
đổi từ tình trạng bất công, bât bình đẳng xã hội sang tình trạng công bằng, bình đẳng
xã hội. mác cũng chỉ ra nguyên nhân và con đường biến đổi có tính cách mạng của sự
phân tầng xã hội và sự bến đổi đó là một trình cách mạng rất lâu dài.
Khi vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin vào đánh giá thực trạng và vạch ra xu
hướng biến đổi cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội cần chú ý tới những yếu tố phi kinh tế
như xu hướng hành động của các giai cấp, các tầng lớp xã hội với trình độ nhận thức,
tính tự giác và sự tiến bộ khoa học, công nghệ.
1.1.2. Quan niệm của Max Weber
Không phản đối việc phân chia giai cấp từ góc độ kinh tế. Tuy nhiên, ông cho
rằng việc phân chia nhấn mạnh đến khía cạnh kinh tế là chưa đầy đủ để nhận diện xã
hội.
Mặc dù vị thế (status) hay uy tín (prestige) về mặt xã hội và quyền
lực (power)
thường thay đổi theo địa vị kinh tế, chúng cũng có thể có vị trí riêng và có tác động
độc lập đến sự bất bình đẳng xã hội. Đặc biệt, uy tín xã hội (prestige) thường đối lập
với quyền lực kinh tế. Thay vào hệ thống phân tầng một chiều cạnh của Mác (chỉ chia
ra hai giai cấp) Weber đề xuất 3 chiều cạnh độc lập (mặc dù có liên quan với nhau)
cần phân tích, dựa vào đó con người có thể được xếp loại trong
một hệ thống phân
tầng (xem hình vẽ dưới đây, trích theo 9.1 trang 220, Brinkerhoff và đồng nghiệp)
Hệ thống phân tầng có 3 khía cạnh
Giai cấp (class) nói về vị trí của một người trong hệ thống kinh tế của xã hội,
dẫn đến những khác biệt về công việc, thu nhập, và tài sản.
Vị thế (status) nói về mối quan hệ của một cá nhân với những
địa vị xã hội
được thiết lập trong xã hội mà những địa vị này thay đổi theo nghĩa uy tín (prestige).
Các vị thế thường khác nhau tùy thuộc vào nghề nghiệp hoặc hoàn cảnh gia đình xuất

kiện sinh
hoạt bên ngoài mà còn cả mặt năng lực của họ về kinh tế trên thị trường. Weber
hướng trọng tâm vào năng lực trên thị trường và cho rằng nguyên nhân đầu tiên của
sự bất bình đẳng trong chủ nghĩa tư bản là khả năng thị trường, bao gồm những kỹ
năng mà người làm thuê mang ra thị trường lao động để bán và những cơ may mà
người ta có thể có được do thị trường mang lại.
Địa vị xã hội dựa trên cơ sở “danh dự về mặt xã hội”, hay nói cách khác nó dựa
vào sự đánh giá được mọi người công nhận trong một tập thể nhất định. Có thể dễ
dàng phân biệt địa vị xã hội theo lối sống của họ, cụ thể dựa vào tập tục, những thói
quen của xã hội, giáo dục, và uy tín mà nguồn gốc gia đình và nghề nghiệp đem lại.
Khi địa vị xã hội được củng cố người ta có thể đảm bảo cho mình quyền lực về mặt
kinh tế và cũng có thể được biểu hiện bằng cách cư xử về mặt kinh tế
như lối ăn tiêu
phung phí, lối sinh hoạt giao tiếp, v.v
Trên lĩnh vực chính trị, quyền lực được thể hiện trong các “chính
đảng” và
22
Tập bài thảo luận Chính sách xóa đói giảm nghèo _k54 Xã hội học (2012)
quyền lực chính trị thường được thể chế hóa. Các chính đảng có thể đại diện cho
những quyền lợi do vị trí của họ trong xã hội. Tuy nhiên đây là vấn đề không được
nhiều nhà nghiên cứu đồng tình vì những người trong các đảng phái khác nhau không
phải ai cũng có địa vị xã hội tương ứng khác nhau mà chỉ có địa vị xã hội cao thấp
khác nhau trong nội bộ từng đảng là đáng kể.
Khác với Mác xác định khái niệm giai cấp chủ yếu trong mối liên hệ với
phương thức sản xuất và chế độ sở hữu tư liệu sản xuất, weber cho rằng ngoài tiêu
chuẩn về kinh tế liên quan đến sở hữu tư liệu sản xuất còn có các tiêu chuẩn khác nữa
để phân biệt các giai cấp trong xã hội. weber sử dụng khái niệm “giai cấp” để chỉ một
tập hợp người có chung cơ hội sống, có chung lợi ích kinh tế và có chung cơ hội hay
điều kiện trên thị trường
5

nhau để nhóm gộp những hình thức nghề nghiệp đa dạng.
Trong các xã hội phát triển có 3 cách phân loại phổ biến. Các việc làm được
phân loại như là công nhân cổ cồn xanh nếu chúng được dựa chủ yếu trên cơ sở của
lao động chân tay (chẳng hạn công nhân nhà máy, lái xe tải, công nhân mỏ). Gọi là
cổ cồn trắng nếu các công việc chủ yếu đòi hỏi những kỹ năng trí tuệ (chẳng hạn các
nhà chuyên môn như bác sĩ, luật sư, hay nhà quản lý). Gần đây hơn, thuật ngữ cổ cồn
hồng được sử dụng để đặc trưng cho những việc làm chủ yếu sử dụng phụ nữ trong
các công việc không phải lao động chân tay bán kỹ năng (nonmanual semiskilled)
(chẳng hạn như thư ký, nhân viên, đánh máy). (Appelbaum và Chambliss 1995)
Thu nhập : là tổng số tiền mà một người hoặc một hộ gia đình kiếm
được trong một
khoảng thời gian cho trước (thường là năm).
Tài sản: Là giá trị của mọi thứ thuộc quyền sở hữu của một người. Là chỉ báo chủ
yếu của sự phân tầng thực sự về mặt kinh tế. Một cách đo lường tài sản là giá trị tài
sản thuần túy (net financial assets) tức là giá trị của mọi thứ mà một người có (trừ
nhà cửa và xe) trừ đi giá trị của mọi thứ mà người đó nợ. Thông thường với những
người giàu nhất có thu nhập cao, phần lớn tài sản mà họ có được không phải là từ thu
nhập mà từ các tài sản tài chính như nhà cho thuê, c ổ phiếu, trái phiếu, và các hình
thức đầu tư khác.
Những khác biệt về tài sản thường có thể xuất hiện dưới hình thức
những khác
biệt về đặc quyền, đặc lợi và tác động đến cơ hội cuộc sống của cá nhân như thu nhập
bằng tiền. Các quan chức chính phủ, sĩ quan cao cấp không có thu nhập bằng lương
cao như các giám đốc kinh doanh tư nhân nhưng có những đặc quyền có thể chuyển
thành tài sản. Nói chung, sự tăng lên về tài sản phần lớn được coi là bắt nguồn từ việc
đạt được quyền lực, nghề nghiệp, và học vấn cao hơn.
1.3. Vị thế xã hội
a) Vị thế xã hội phản ánh mức độ uy tín và sự kính trọng từ người khác. Cơ sở
cho sự kính trọng đó tuỳ thuộc vào phẩm chất cá nhân được người khác coi là quan
24

(Dahl 1961). Theo quan điểm này, quyền lực của một công ty kinh doanh lớn là
ngang với quyền lực của các liên đoàn lao động lớn, các nhóm người tiêu dùng, hay
các tổ chức bảo vệ môi trường. Các cá nhân thể hiện quyền lực của mình thông qua
các tổ chức, và các tổ chức cung cấp một hệ thống kiểm soát và cân bằng với nhau.
Lý thuyết thứ hai, gọi là thuyết giai cấp thống trị (class dominance), cho rằng
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status