Tiểu luận quản trị doanh nghiệp CÔNG TY CAO SU ĐỒNG PHÚ - Pdf 20

Phần I
GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY CAO SU ĐỒNG PHÚ
1.1. Giới thiệu chung về Công ty cao su Đồng Phú
1.1.1. Vài nét về Công ty cao su Đồng Phú
Công ty cao su Đồng Phú là môt doanh nghiệp Nhà Nước, thành viên của
Tổng Công ty cao su Việt Nam, được thành lập theo quyết định số 148-
NNTCCB/QĐ ngày 04/03/1993 của Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm
(nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) và đăng ký kinh doanh tại Trọng
tài kinh tế Tỉnh Sông Bé số 100968 ngày 23/03/1993 với chức năng nhiệm vụ ban
đầu là: Trồng, khai thác và sơ chế mủ cao su để tiêu thụ nội địa và xuất khẩu. Ngành
nghề kinh doanh hiện nay của công ty được mở rộng thêm là: Xây dựng dân dụng
và công nghiệp, đầu tư cơ sở hạ tầng trong và ngoài khu công nghiệp, đầu tư kinh
doanh địa ốc.
Công ty có trụ sở đóng tại : xã Thuận Phú, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình
Phước, cách thị xã Đồng Xoài 10km và TP. Hồ Chí Minh 120km về phía bắc.
Công ty cao su Đồng Phú nằm trên địa bàn 06 xã: Thuận Phú,Tân Hòa, Tân
Thành, Tân Hưng, Tân Lập, Tân Lợi, thuộc Huyện Đồng Phú (Tỉnh Bình Phước),
và 2 xã An Bình, Phước Sang thuộc Huyện Phú Giáo (Tỉnh Bình Dương).
- Phía bắc giáp Công ty cao su Phú Riềng
- Phía nam giáp Công ty cao su Phước Hòa
- Phía đông giáp khu lâm nghiệp của Huyện
- Phía Tây giáp lâm trường Phú Tân, Phú Thành (của Tỉnh)
Diện tích vườn cây hiện có : hơn 9.000 ha
Sản lượng mủ cao su khai thác hàng năm khoảng 12.000 tấn.
1.1.2. Quá trình hình thành và phát triển
* Giai đoạn 1: Từ năm 1975 đến 1980, giai đoạn sơ khai, chưa chính thức
thành lập.
Đây là giai đoạn hình thành, trên cơ sở tiếp quản hơn 2.000 ha vườn cây
cao su già của đồn điền Thuận Lợi thuộc Hãng Michelin của tư bản Pháp, với nhiệm
vụ ban đầu chủ yếu là khôi phục sản xuất , tận thu mủ từ vườn cây và giao nộp cho
Nhà Nước. Lúc bấy giờ, đây là một nông trường thuộc Ban Cao su Nam bộ ( tên gọi

doanh của Công ty cũng dần đi vào ổn định và phát triển không ngừng.Tính đến
tháng 31/12/2003, diện tích cao su hiện trạng của toàn công ty là : 9.004,97 ha
2
Trong đó :
- Cao su kinh doanh : 8.870,28 ha
- Cao su KTCB : 344,69 ha
Sản lượng cao su chế biến
năm 2003
:
15.800 tấn
+ Tổng vốn đã đầu tư (1.000đ) :
278.876.720
+ Tổng doanh thu (1.000đ) :
250.017.000
+ Lợi nhuận trước thuế (1.000đ) : 63.219.000
1.2. Cơ cấu tổ chức của công ty
Về tổ chức, ngoài cơ quan công ty gồm các phòng ban với chức năng tham
mưu, giúp việc cho Ban Giám đốc, còn có 05 Nông trường Cao su , 01 Xí nghiệp
Chế biến mủ cao su, 02 Xí nghiệp dịch vụ điện nước, vận tải và xây dựng cầu
đường, 01 Trung tâm Y tế với nhiệm vụ chăm sóc sức khoẻ cho hơn 3.500 cán bộ
công nhân của Công ty.
Sơ đồ tổ chức của Công ty hiện nay có thể biểu diễn như sau :
GIÁM ĐỐC
PHÓ GĐ KỸ THUẬT
PHÓ GĐ HÀNH CHÍNH
P.KỸ THUẬT
P.KẾ TOÁN
P.KẾ HOẠCH
P.TỔ CHỨC-HC
P.THANH TRA

+ Phòng Kỹ thuật : phụ trách kỹ thuật vườn cây và chế biến mủ cao su,
công tác quy hoạch đất đai, công tác kiểm tra chất lượng sản phẩm (KCS).
+ Phòng Tổ chức-Hành chính : đảm nhiệm các công tác về nguồn nhân lực
như đào tạo, tuyển dụng, quy hoạch cán bộ, bố trí nhân sự, tiền lương, bảo hiểm xã
hội, bảo hộ lao động, các chế độ chính sách…và công tác quản trị văn phòng cơ
quan công ty .
+ Phòng Thanh tra : chịu trách nhiệm về các mặt công tác như thanh tra nội
bộ, quân sự động viên, bảo vệ tài sản, phòng cháy chữa cháy.
Các đơn vị trực thuộc có các chức năng chính theo như tên gọi và hoạt
động theo hình thức hạch toán báo sổ.
1.3. Một số kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty Cao su Đồng Phú
+ Sự tăng trưởng liên tục của sản lượng chế biến và sản lượng tiêu thụ qua
từng năm. Sản lượng mủ cao su chế biến qua 5 năm đã tăng từ 8.886 tấn lên 15.844
tấn, tăng bình quân hàng năm là 19,5%. Sản lượng tiêu thụ qua 5 năm tăng từ 9.210
tấn lên 16.484 tấn, tăng bình quân 19,74%/năm.
+ Năng suất bình quân có xu hướng tăng nhưng không đáng kể, sau 5 năm
chỉ tăng 2,5%. Điều này cho thấy tăng trưởng chủ yếu do sản lượng thu mua bên
4
ngoài, từ chỗ chỉ thu mua được 209 tấn năm 1999 và chỉ chiếm 2,35% sản lượng
chế biến, đến năm 2003 đã thu mua được 4.638 tấn, chiếm 29,27% sản lượng chế
biến trong năm.
+ Doanh thu qua 5 năm tăng 3,36 lần, trong đó do sản lượng tiêu thụ tăng
1,79 lần và do giá bán tăng 1,88 lần.
+ Lợi nhuận trước thuế gia tăng liên tục hàng năm, từ chỗ năm 1999 không
có lợi nhuận, những năm sau đã tăng đáng kể và đến năm 2003 đạt 63,219 tỷ đồng.
Phần II
PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CỦA
CÔNG TY CAO SU ĐỒNG PHÚ
Phần nhận định chung về tình hình phát triển của Công ty Cao su Đồng Phú
đã cho thấy nhược điểm lớn nhất, có ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của

thế giới được sử dụng sản xuất săm lốp ô tô. Vì thế khi kinh tế thế giới tăng trưởng,
nhất là ngành công nghiệp ô tô thì nhu cầu sử dụng cao su thiên nhiên cũng sẽ gia
tăng rất nhanh chóng.
Dầu mỏ, nguồn nguyên liệu chính để sản xuất cao su tổng hợp liên tục tăng
giá. Năm 2004 sau khi Mỹ và một số đồng minh thân cận tiếp tục bị sa lầy tại cuộc
chiến Irắc , đồng thời những bất ổn của tiến trình hòa bình Trung Đông cũng như
cân đối về cung cầu trên thị trường đã đẩy giá dầu thô lên đến mức kỷ lục là vượt
qua 50 USD/thùng. Mặc dù sau đó giá dầu thô có giảm nhưng vẫn còn ở mức rất
cao.
Trung quốc, thị trường tiêu thụ cao su thiên nhiên lớn nhất của Việt Nam
(chiếm 60-65% sản lượng tiêu thụ) kinh tế tiếp tục tăng trưởng với tốc độ cao nhất
thế giới .
Trong nước, nền kinh tế Việt Nam sau khi chính thức gia nhập AFTA tiếp
tục duy trì ổn định và tăng trưởng khá. Tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm gần đây
luôn giữ trên 7%/năm.
Tất cả những nhân tố trên cùng với việc nguồn cung cao su giảm sút do
một số nước sản xuất cao su giảm sản lượng sản xuất đã và sẽ tiếp tục đưa giá cao
su lên cao và khá ổn định trong thời gian sắp tới . Đây chính là một cơ hội lớn cho
các công ty cao su để có thể gia tăng sản lượng và đạt mức lợi nhuận cao.
2.1.2. Môi trường chính trị - pháp luật
Việt Nam luôn được xem là một trong những nước có tình hình chính trị ổn
định trên thế giới . Hệ thống luật pháp đang được dần hoàn thiện, nhất là hệ thống
6
luật kinh tế đã giúp các doanh nghiệp an tâm hơn trong đầu tư phát triển sản xuất
kinh doanh để làm giàu cho mình và cho đất nước .
Đối với ngành cao su , đã được Chính Phủ thông qua tổng quan phát triển
đến năm 2010 với dự kiến tăng tổng diện tích cao su toàn ngành lên 700.000 ha và
phát triển gắn với năng suất, chất lượng và hiệu quả; đồng thời xác định chủ trương
phát triển thành một tập đoàn kinh tế mạnh, kinh doanh đa ngành nghề của đất
nước.

Về xã hội, Bình Phước là một trong những tỉnh nghèo ở Nam bộ, mức sống
người dân còn thấp, số lao động chưa có việc làm cũng còn rất nhiều. Hơn nữa, vào
vài năm gần đây, khi mủ cao su có giá trên thị trường, việc lấy cắp mủ khá dễ dàng
do diện tích vườn cây lớn, công tác bảo vệ đôi lúc chưa chặt chẽ đã vô tình hấp dẫn
nhiều phần tử xấu trộm cắp mủ cao su gây thiệt hại cho doanh nghiệp và làm phức
tạp thêm tình hình trật tự trị an trên địa bàn.
Về dân số, tính đến 01/04/1999, dân số của tỉnh Bình Phước là 687.400
người, tốc độ tăng dân số trung bình 5,78%/năm. Số người trong độ tuổi lao động
khoảng 344.000 người ( năm 2000 ). Dự báo dân số đến năm 2005 là 845.000 người
và đến 2010 là 1.016.287 người.
Dân số và lực lượng lao động khá dồi dào nên sẽ đảm bảo được cho nhu
cầu phát triển , mở rộng sản xuất của Công ty trong thời gian tới.
Cơ cấu kinh tế của tỉnh Bình Phước được thể hiện trong bảng sau:
Bảng : Cơ cấu kinh tế của tỉnh Bình Phước trong những năm qua ( đơn vị : % )
Năm 1995 1998 2000 2005 2010
GDP 100 100 100 100 100
1.Nông lâm nghiệp 74.87 73.52 61.09 51.37 39.35
2.Công nghiệp – xây dựng 2.33 3.47 11.99 20.70 30.79
3.Dịch vụ 22.80 23.01 26.92 27.85 29.86
Theo số liệu trên ta có thể thấy cơ cấu kinh tế của Bình Phước chuyển dịch
chậm, tỷ trọng của nông lâm nghiệp vẫn còn khá cao. Tuy nhiên theo chủ trương
của tỉnh là chuyển dịch theo hướng tăng tỉ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ,
giảm tỉ trọng của nông lâm nghiệp xuống. Cũng nằm trong định hướng này thì
những năm tới tỉnh Bình Phước sẽ “ tập trung phát triển cây công nghiệp dài ngày
như cao su , cà phê, điều, tiêu, cây ăn quả đặc sản, đồng thời nâng cao năng suất,
chất lượng của cây lương thực thực phẩm…”
Chủ trương về dịch chuyển cơ cấu kinh tế như vậy sẽ là một điều kiện
thuận lợi cho Công ty trong xây dựng chiến lược phát triển của mình.
2.1.4. Môi trường công nghệ
Hiện nay, khoa học và công nghệ trên thế giới phát triển với tốc độ rất

ngày/năm, thời điểm bắt đầu mưa : tháng 5-tháng 6
+ Độ ẩm không khí : Trung bình năm : 81,75 %, cao tuyệt đối : 91%, thấp
tuyệt đối : 71%.
Nhìn chung điều kiện khí hậu, thời tiết ở đây đặc trưng cho kiểu khí hậu
nóng ẩm với hai mùa mưa nắng rõ rệt, thuận lợi cho trồng cây công nghiệp dài
ngày, nhất là cao su.
Ngoài ra, do diện tích rừng tự nhiên của nước ta ngày càng bị thu hẹp, việc
phát triển rừng trồng còn nhiều khó khăn vì thiếu vốn đầu tư, cơ chế giao khoán
cũng như hiệu quả kinh tế đem lại cho người trồng rừng thực sự chưa hấp dẫn thì
việc phát triển diện tích trồng cao su có thể xem như một trong những giải pháp tối
ưu để phủ xanh đất trống, đồi trọc, bảo đảm cho phòng hộ đầu nguồn sông suối. Vì
9
lẽ đó các cấp chính quyền rất ủng hộ trong việc giao thêm đất cho các Cty để trồng
cao su. Tuy vậy , việc nhận thêm đất để trồng cao su cũng tạo áp lực về vốn khá lớn
lên Công ty để đảm đương công tác trồng mới này.
2.2. Môi trường vi mô
Môi trường vi mô bao gồm các yếu tố trong ngành và là các yếu tố ngoại
cảnh đối với doanh nghiệp , quyết định tính chất và mức độ cạnh tranh trong ngành
sản xuất kinh doanh đó .
Môi trường vi mô có 5 yếu tố cơ bản đó là : đối thủ cạnh tranh, người mua,
người cung cấp, các đối thủ mới tiềm ẩn và sản phẩm thay thế
2.2.1. Thị trường và khách hàng
Cây cao su là cây công nghiệp dài ngày có vị trí quan trọng trong nền kinh
tế quốc dân của nước ta, cao su cũng là một trong những nguyên liệu quan trọng
trên thị trường thế giới. Do điều kiện về đất đai, thời tiết khí hậu thuận lợi nên sản
xuất cao su thiên nhiên là ngành quan trọng đối với một số nước Châu Á, Châu Phi,
Châu Mỹ La Tinh. Theo nghiên cứu của IRSG (International Rubber Study Group)
thì trong 3 năm gần đây nhất (2001-2003), sản lượng cao su của các nước châu Á
bao gồm : Indonesia, Malaysia, Thailand, Việt Nam , Trung quốc và An độ đã
chiếm từ 86-90% sản lượng cao su thiên nhiên sản xuất của toàn thế giới. Các biến

tăng, giá cả tuy có biến động từng thời điểm nhưng nhìn chung sản xuất cao su luôn
có lãi và đang có cơ hội phát triển . Theo các chuyên gia thì dự báo mức giá cao su
sẽ vững ở mức trên 1.000 USD trong một thời gian dài.
Khách hàng hiện tại của Công ty Cao su Đồng Phú có thể chia ra thành các
nhóm chính như sau :
+ Các công ty sản xuất vỏ xe của nước ngoài : Michelin,Goodyear,
Mitsubishi … loại khách hàng này mua và đặt hàng với số lượng lớn, ổn định và
yêu cầu kỹ thuật cao, quyền lực trong đàm phán với nhà cung ứng của họ lớn, có
sức mạnh về tài chính cùng với uy tín thương mại mạnh. Các tập đoàn này có công
ty con chuyên làm nhiệm vụ mua và cung ứng cao su nguyên liệu cho hệ thống nhà
máy của họ được bố trí ở nhiều nơi trên toàn cầu.
+ Các công ty thương mại, các nhà phân phối cao su nước ngoài :
Taeyoung, Shin Ho (Hàn Quốc), Safic Alkan (Pháp), Weber & Schaer ( Đức), Tong
Tek (Singapore)….Đa phần là họ mua cao su của ta về rồi sơ chế theo yêu cầu kỹ
thuật riêng của khách hàng sau đó dán nhãn và cung ứng cho hệ thống khách hàng
của họ tại các khu vực thị trường (hầu hết là các nhà sản xuất công nghiệp loại vừa
và nhỏ không có khả năng tổ chức khâu thu mua riêng). Loại công ty này có tính
chung thủy với ngành hàng cao, họ sẽ sống lâu với ngành hàng vì những kinh
nghiệm, kỹ năng và uy tín thương mại chuyên ngành của mình. Những công ty này
11
sẽ bám trụ ngay cả những thời điểm thị trường cao su bị suy thoái.
+ Các công ty thương mại & xuất nhập khẩu của Việt Nam. Các công ty
này mua cao su của ta về rồi bán lại cho các nhà sản xuất quy mô vừa và nhỏ hoặc
là bán qua trung gian để kiếm lời. Hầu hết cao su của Việt Nam nói chung và của
Đồng Phú nói riêng khi xuất tiểu ngạch sang Trung Quốc đều thông qua các công
ty này. Đặc điểm của những công ty này là chỉ nhảy vào kinh doanh cao su khi nào
thị trường cao su tăng trưởng hấp dẫn về lợi nhuận và rút khỏi khi thị trường bị suy
thoái hoặc bị cạnh tranh mạnh và không còn khả năng hấp dẫn về lợi nhuận. Những
công ty này có tính trung thành với ngành hàng thấp, họ đặt quan hệ có tính ngắn
hạn với các nhà cung ứng, danh tiếng thương mại của những công ty này trong

nhanh chóng và mạnh mẽ, vì thế đa phần lao động nông nghiệp có xu hướng rời bỏ
vườn cây, đồng ruộng để tham gia trong các hoạt động sản xuất công nghiệp và dịch
vụ có thu nhập và điều kiện làm việc hấp dẫn hơn. Trong thực tế thì những năm vừa
qua, chủ yếu do thiếu lao động và chi phí nhân công cao mà diện tích cao su của các
nước này có khuynh hướng giảm sút dần. Ngoài ra, do đại đa số vườn cây cao su ở
các nước này đều là tiểu điền với quy mô nhỏ ( 5 – 10ha) nên sẽ khó áp dụng những
thành tựu khoa học kỹ thuật mới nhằm tăng năng suất vườn cây, nâng cao chất
lượng mủ cao su khai thác.
Đối với trong nước, các đối thủ cạnh tranh của Công ty Cao su Đồng Phú
chủ yếu là các công ty cao su lớn. Tuy vậy, hầu hết các công ty này đều là các đơn
vị thành viên của Tổng Công ty Cao su Việt Nam nên chỉ là cạnh tranh trong nội bộ
ngành. Do cơ chế quy định giá sàn trong tiêu thu cao su nên cạnh tranh ở đây chủ
yếu là tiết giảm chi phí nhằm có giá thành hạ, nâng cao chất lượng sản phẩm và uy
tín trên thương trường.
2.2.3. Nhà cung ứng
Đối với sản xuất cao su thiên nhiên, ngoài yếu tố lao động và vườn cây thì
các yếu tố chủ yếu cần thiết cho quá trình sản xuất đó là : phân bón, hoá chất bảo vệ
thực vật và hoá chất sử dụng trong chế biến, dụng cụ, nhiên liệu, thiết bị và phụ
tùng.
Trong đó, ngoại trừ dụng cụ như dao cạo, thùng, kiềng, chén, máng hứng
mủ… và một số ít thiết bị, phụ tùng do các cơ sở sản xuất trong nước cung cấp còn
đại đa số các chủng loại vật tư, thiết bị thiết yếu khác đều phải nhập ngoại.
Các loại phân bón sử dụng cho vườn cây cao su chủ yếu là phân đơn như
urê, lân , clorua kali. Trừ phân lân trong nước đã sản xuất được còn lại phân urê và
clorua kali đa phần phải nhập khẩu từ các nước như Inđônêxia, Nga, Trung quốc,
Canađa…. Hiện nay công nghiệp sản xuất phân bón trong nước chưa đáp ứng đủ
nhu cầu thị trường nội địa .
Với đa phần nhu cầu vật tư phải nhập ngoại như vậy, sản xuất cao su phụ
13
thuộc rất lớn vào sự biến động của thị trường quốc tế và thị trường vật tư trong

trong đơn vị.
Riêng việc xây dựng chiến lược phát triển đối với đơn vị chưa được chú
14
trọng. Đơn vị chỉ có các kế hoạch hàng năm, các kế hoạch này được xây dựng khá
chi tiết và đã có những tác dụng nhất định trong quản lý và điều hành tại đơn vị.
Các chiến lược dài hạn chưa có. Chủ yếu đơn vị chỉ mới có các kế hoạch 5 năm
nhưng cũng còn rất sơ sài, chưa có những mục tiêu cụ thể cần đạt được cũng như
các giải pháp đồng bộ để thực hiện mục tiêu. Đây là một điểm yếu cần được khắc
phục.
Tình hình tài chính của Công ty khá tốt, lấy năm 2003 làm ví dụ ta thấy tỷ
lệ vốn vay trên vốn chủ sở hữu khá thấp (35,84%), khả năng thanh toán các khoản
nợ đến hạn cao, tỷ số nợ (Tổng nợ/Tổng tài sản) ở mức khá an toàn là 26,38%.
Khả năng về vốn đầu tư của Công ty cũng khá so với các Công ty trong
ngành. Công ty có khả năng huy động để đầu tư các dự án khoảng 20-30 tỷ
đồng/năm.
Bộ máy quản lý của Công ty mặc dù đã qua nhiều lần cải tổ nhưng vẫn còn
khá cồng kềnh. Tỷ lệ lao động quản lý so với lao động trực tiếp vẫn còn khá cao
( hiện nay là gần 7%).
Ngoài ra, việc bố trí, phân nhiệm cho các bộ phận trong bộ máy quản lý
cũng còn chưa hợp lý. Cụ thể là nhiệm vụ bán hàng hiện nay vẫn giao cho phòng Kế
toán-Tài vụ, chưa có bộ phận chuyên trách ( phòng Tiếp thị-bán hàng hoặc phòng
Kinh doanh ) . Công tác marketing chủ yếu do nỗ lực cá nhân của Giám đốc và Kế
toán trưởng. Hoạt động của bộ máy quản lý cũng chưa thật sự hiệu quả, có những
việc còn chồng chéo, có việc bị đùn đẩy qua lại giữa các phòng.
Một điểm yếu của công ty ở đây là hệ thống thông tin nội bộ. Hệ thống này
đã có nhưng còn rất rời rạc, chưa thể hiện sự liên thông và hỗ trợ chặt chẽ cho nhau.
Các máy vi tính khu vực cơ quan đều nối mạng cục bộ. Tuy nhiên chưa có các phần
mềm chuyên dụng phục vụ quản lý. Chủ yếu chỉ là các phần mềm của Micrrosoft
Office. Sự yếu kém về thông tin phần nào đã ảnh hưởng đến công tác quản lý chung
của công ty và giảm khả năng phản ứng nhanh với những yêu cầu của khách hàng.

công ty.
Ngoài ra, nếu phân tích theo chuyên ngành của lao động có trình độ Cao
đẳng & Đại học trở lên ta thấy như sau:
+ Quản lý kinh tế : 45 người
+ Ngành nông nghiệp ( trồng trọt ) : 26 người
+ Cơ khí, hoá chất và các ngành khác : 12 người
Rõ ràng ở đây , ngoài quản lý kinh tế thì đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật
chỉ nghiêng về mảng trồng trọt trong nông nghiệp. Đây có thể là một thế mạnh cho
sản xuất kinh doanh trong hiện tại khi thuần túy là trồng trọt nhưng sẽ khó khăn
trong các hoạt động chế biến cao su nhất là trong tương lai khi muốn phát triển sản
xuất và kinh doanh đa ngành nghề.
2.3.3. Nghiên cứu và phát triển công nghệ
16
Công nghệ gắn liền với tất cả các hoạt động giá trị trong doanh nghiệp . Nó
ảnh hưởng tới tất cả các hoạt động rộng lớn từ việc phát triển sản phẩm và quá trình
tới việc nhận đơn hàng phân phối sản phẩm đến khách hàng. Các yếu tố cấu thành
trong phát triển công nghệ ở Công ty bao gồm Điều kiện môi trường làm việc và
khuyến khích nghiên cứu sáng tạo; Chất lượng của phòng thí nghiệm; Trình độ, kinh
nghiệm của các cán bộ và kỹ thuật viên; Những thành tựu của quá trình nghiên
cứu được đánh giá tương đối tốt.
2.3.4. Cung ứng vật tư, nguồn lực đất đai, giống cây trồng
Hoạt động cung ứng vật tư thể hiện chức năng thu mua các yếu tố đầu vào
được sử dụng trong dây chuyền giá trị của công ty . Các hoạt động này bao gồm
cung ứng nguyên liệu, năng lượng, nước và những yếu tố đầu vào khác được sử
dụng trực tiếp trong quá trình sản xuất cũng như máy móc, thiết bị, nhà xưởng.
Công tác kiểm soát và đánh giá nhà cung cấp được thực hiện tốt do công
tác này được quản lý trong hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO
9001:2000. Các nhà cung cấp phải nằm trong danh sách nhà cung cấp được cập nhật
và theo dõi thường xuyên. Ngoài ra, các nhà cung cấp này hàng năm đều phải được
đánh giá lại một lần để bảo đảm chất lượng sản phẩm và dịch vụ cung cấp.

Do quá trình trồng mới và chăm sóc trong thời kỳ kiến thiết cơ bản trước
đây không tốt nên đến nay mật độ cây cao su có khả năng khai thác mủ được bình
quân trên ha của công ty khá thấp, chỉ khoảng 320 cây/ha. So với mật độ thiết kế
bình quân khi trồng là 512 cây/ha thì mật độ cây hữu hiệu ở đây chỉ đạt 62,5%. Mật
độ cây cạo bình quân chỉ đạt 320 cây/ha trong khi bình quân của ngành cao su là
380 cây/ha và ở công ty dẫn đầu ( Dầu Tiếng) là 420 cây/ha sẽ làm công ty khó có
khả năng nâng cao năng suất của vườn cây .
2.3.5. Khả năng vận hành sản xuất
Vận hành bao gồm tất cả các hoạt động nhằm chuyển các yếu tố đầu vào
thành sản phẩm cuối cùng. Ở đây bao gồm các hoạt động như vận hành nhà máy
chế biến , bao bì đóng gói, lắp đặt, bảo dưỡng thiết bị và kiểm tra chất lượng sản
phẩm .
Do đầu vào là vườn cây có nhiều điểm yếu về cơ cấu giống, mật độ cây cạo
bình quân nên năng suất khai thác từ vườn cây của công ty cũng chưa cao. Trong
các năm qua, năng suất bình quân của công ty chỉ đạt trên dưới 1,4 tấn/ha, gần với
mức trung bình của ngành cao su nhưng thua xa một số công ty như Dầu Tiếng, Tây
Ninh, Phước Hoà… khi mà năng suất bình quân của họ đã đạt từ 1,7-1,8 tấn/ha. Có
thể xem bảng so sánh năng suất sau : ( đvt: tấn/ha )
Bảng: So sánh năng suất vườn cây bình quân
TT Công ty 1999 2000 2001 2002 2003
1 Bình quân toàn ngành 1,285 1,343 1,382 1,348 1,501
18
2 Công ty Đồng Phú 1,320 1,368 1,404 1,247 1,353
3 Công ty Dầu Tiếng 1,418 1,607 1,676 1,741 1,811
4 Công ty Tây Ninh 1,519 1,564 1,574 1,613 1,692
Với năng suất bình quân khá yếu như vậy, rõ ràng là Công ty Cao su Đồng
Phú khó có thể cạnh tranh ngang bằng với các công ty khác trong ngành cao su Việt
Nam , và càng khó khăn hơn khi cạnh tranh với các công ty của Thái lan, Indonesia.
Công ty hiện có 01 nhà máy chế biến nằm ngay khu trung tâm công ty. Nhà
máy này có 3 dây chuyền sản xuất với công suất thiết kế như sau:

Cơ cấu sản phẩm chế biến của Công ty ngày một được cải tiến để phù hợp
hơn với yêu cầu của thị trường.
Bảng: Phân tích cơ cấu sản phẩm của 3 năm gần đây nhất ( đơn vị : % )
Năm\ Cơ cấu Mủ SVR 3L, Mủ SVR 10, 20 Mủ kem Các loại khác
CV 50, CV 60 (latex )
Năm 2001 48.62 19.89 24.86 6.63
Năm 2002 47.21 20.36 25.64 6.79
Năm 2003 46.98 20.20 26.51 6.31
Theo đó ta thấy : giảm dần chủng loại SVR 3L, CV là loại mủ cấp cao
nhưng nhu cầu thấp trên thị trường , tăng dần loại 10,20 và latex là những loại có
nhu cầu rất cao, rất dễ tiêu thụ.
Công tác kiểm tra chất lượng sản phẩm cũng được chú trọng. Phòng thí
nghiệm của Công ty đã được chứng nhận đạt tiêu chuẩn ISO 17025 quy định các
yêu cầu của phòng thí nghiệm.
Công tác vận chuyển sản phẩm được giao cho một số đơn vị vận tải chuyên
nghiệp đảm nhiệm. Các đơn vị này được theo dõi, xem xét và đánh giá theo các
chuẩn mực của tiêu chuẩn ISO 9001:2000. Họ là các nhà cung cấp dịch vụ vận
chuyển nằm trong danh sách nhà cung cấp của công ty và gần như chưa có những
khiếu nại, phàn nàn về dịch vụ này.
Riêng về việc vận chuyển nguyên liệu trong nội bộ công ty do các xe vận
chuyển của công ty đảm nhiệm. Các xe này được quản lý trực tiếp bởi các Nông
trường trực thuộc công ty . Công tác quản lý và điều hành đoàn xe này được thực
hiện tốt, đảm bảo khả năng vận chuyển thông suốt.
Công tác bao bì, đóng gói sản phẩm được thực hiện tại nhà máy chế biến.
Bao bì, đóng gói phải đảm bảo theo tiêu chuẩn TCVN 3769-1995 và theo yêu cầu
của khách hàng.
Việc thực hiện tồn trữ, bảo quản sản phẩm cũng phải theo những quy định
được ràng buộc trong ISO và được thực hiện rất tốt. Tuy vậy, đối với những năm mà
tình hình tiêu thụ khó khăn thì kho chứa mủ cũng là một vấn đề cho công ty . Lúc đó
20

21
Qua nghiên cứu quá trình phát triển của Công ty Cao su Đồng Phú, chúng
tôi rút ra một số nhận định như sau :
3.1. Những thành tựu
+ Về sản xuất : Năng suất, sản lượng ngày một gia tăng, chất lượng sản
phẩm đạt độ ổn định ở mức cao. Vườn cây đang được củng cố và chăm sóc tốt hơn,
đảm bảo theo quy trình.
+ Về kinh doanh : So với các công ty cao su khác thì Công ty Cao su Đồng
Phú đã có chỗ đứng nhất định trên thị trường, đã có những khách hàng trung thành
của riêng mình. Lợi nhuận tăng trưởng hàng năm, là một trong số ít các doanh
nghiệp đạt mức lợi nhuận và mức đóng góp ngân sách lớn ở tỉnh Bình Phước.
+ Về tổ chức, quản lý chung : Bộ máy quản lý đã thích ứng tốt với cơ chế
quản lý mới theo định hướng thị trường, sự phối hợp giữa các bộ phận trong guồng
máy quản lý đã trơn tru hơn rất nhiều.
+ Về cơ sở vật chất : Qua quá trình đầu tư và đổi mới, cơ sở vật chất phục
vụ sản xuất đã được nâng lên cả về chất và lượng. Đã có nhà máy chế biến công
suất hơn 11.000 tấn/năm với thiết bị và công nghệ theo các tiêu chuẩn tiên tiến nhất.
Hệ thống đường sá, phương tiện vận chuyển cũng đang được nâng cấp và thay thế
từng năm. Các công trình xây dựng phục vụ sản xuất cũng ngày càng khang trang
và đầy đủ hơn…
3.2. Những tồn tại
+ Năng suất vườn cây vẫn còn thấp so với trung bình của ngành. Cơ cấu
giống cây và mật độ cây cạo chưa đạt mức hợp lý.
+ Bộ máy tổ chức và quản lý vẫn còn nhiều bất cập trong điều kiện
kinh doanh mới.
+ Mặc dù sự tăng trưởng của Công ty qua các năm là khá cao, song vẫn
chưa mang tính bền vững mà chủ yếu là do những thuận lợi bên ngoài như thị
trường cao su khan hiếm, giá tăng làm cho hiệu quả hoạt động của công ty tăng.
Theo chúng tôi, sự phát triển của Công ty vẫn tùy thuộc vào yếu tố biến động ngẫu
nhiên của thị trường, Công ty chưa kiểm soát được sự phát triển bền vững của mình

để mở rộng lĩnh vực sản xuất sản phẩm công nghiệp cao su khác như găng tay y tế,
nệm cao su, chỉ thun…
+ Tham gia đầu tư các dự án ngoài Tổng Công ty ở các ngành công nghiệp,
dịch vụ khác khi có điều kiện.
23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status