LUẬN VĂN THẠC SĨ Nha Tran
g
– 2010
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Huỳnh Kim Khánh
THÀNH PHẦN HÓA SINH VÀ DƯỢC TÍNH CỦA CÁ
NGỰA ĐEN
Hippocampus kuda Bleeker, 1852 NUÔI
THƯƠNG PHẨM VÀ KHAI THÁC TỰ NHIÊN TẠI NHA
TRANG, KHÁNH HÒA
Chuyên ngành: Nuôi trồng thủy sản
Mã số: 60 62 70
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS – TS Hoàng Tùng
ii
LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin gửi đến Ban Giám Hiệu nhà trường, khoa Nuôi trồng
Thuỷ sản - Trường đại học Nha Trang sự kính trọng và lòng tự hào đã được
học tập và nghiên cứu tại trường trong những năm qua.
Xin chân thành cám ơn đến PGS. TS. Hoàng Tùng đã giúp đỡ, động
viên và hướng dẫn trong suốt thời gian thực hiện luận văn.
Xin chân thành cám ơn PGS.TS. Nguyễn Đình Mão, PGS.TS. Lại văn
Hùng và cho tôi gửi lời cảm ơn đến tất cả quý thầy c
ô đã giảng dạy, truyền
đạt nhiều kiến thức và kinh nghiệm quý báu cho tôi trong suốt thời gian học
tập, nghiên cứu tại khoa Nuôi trồng thuỷ sản - Trường đại học nha Trang.
Xin chân thành cảm ơn Sở Nông nghiệp và PTNT Khánh Hoà, Chi cục
Nuôi trồng thuỷ sản Khánh Hoà, Trung tâm Khuyến ngư Khánh Hoà nay là
Trung tâm Khuyến nông-Khuyến ngư Khánh Hoà, Trại thực nghiệm Nuôi
trồng thuỷ sản Ninh Lộc - N
inh Hoà đã tạo điều kiện cho tôi học tập, nghiên
cứu và hoàn thành luận văn này.
Xin cảm ơn tất cả bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi trong
quá trình học tập cũng như hoàn thành cuốn luận văn này.
Cuối cùng, là lời cảm ơn đến gia đình đã động viên và giúp đỡ tôi rất
nhiều trong suốt thời gian học tập cũng như nghiên cứu thực hiện đề tài.
Huỳnh Kim Khá
nh
TFA Total Fatty Acid, tổng hàm lượng axít béo (mg/g KLK).
TL: Total lipid, hàm lượng lipít tổng số (mg/g KLK). iv
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1
Chương I. TỔNG LUẬN 3
1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NUÔI CÁ NGỰA TRÊN THẾ GIỚI
VÀ Ở VIỆT NAM 3
1.1.1 Đặc điểm phân bố 3
1.1.2 Đặc điểm hình thái. 4
1.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng 5
1.1.4 Đặc điểm sinh trưởng 8
1.1.5 Tình hình nuôi cá ngựa 9
1.2 SƠ LƯỢC VỀ VAI TRÒ VÀ CÔNG DỤNG CỦA CÁ NGỰA 10
1.3 KINH DOANH CÁ NGỰA TRÊN THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI 14
1.4 KI
NH DOANH CÁ NGỰA Ở VIỆT NAM 15
1.4.1 Kích thước khai thác 15
1.4.2. Sản lượng khai thác 15
1.4.3 Kinh doanh cá ngựa ở Việt Nam 16
CHƯƠNG II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
PHỤ LỤC vi
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.
1. Danh mục một số loài cá Ngựa được nuôi trên thế giới 10
Bảng 1.2. Ước tính sản lượng khai thác cá Ngựa ở Việt Nam (1995) 16
Bảng 2.
1. Kích thước của 4 nhóm cá khác biệt về nguồn gốc và kích cỡ. 23
Bảng 2.
2. Thành phần dinh dưỡng của 3 loại thức ăn (dùng trong 10 ngày) 25
Bảng 3.
1. Thành phần sinh hóa cơ bản của cá Ngựa đen thu từ tự nhiên và bể
Hình 1.3. Cấu trúc ống tiêu hóa cá Ngựa 7
Hình 1.4. Phổ thức ăn của cá Ngựa đen 8
Hình 1.5. Cá Ngựa khô bán trên thị trường 13
Hình 1.6. Cá Ngựa nuôi cảnh 14
Hình 1.7. Cá Ngựa ngâm rượu dùng trong y học cổ truyền 14
Hình 2.1: Chuột 5 tuần tuổi dùng cho thí nghiệm 20
Hình 2.
2: Bố trí các lồng nuôi chuột 20
Hình 2.
3: Cá Ngựa được mổ bỏ nội tạng 21
Hình 2.4: Máy sắc kí khí HP 6890 23
Hình 2.
5: Lấy mẫu máu chuột 26
Hình 2.6: Thiết bị phân tích nội tiết tố Cobass E 411 26
Hình 2.7: Thiết bị phân tích huyết học Pentra 60C
+
. 27
Hình 2.8: Xác định độ khoẻ của cơ 28
Hình 3.1. Hàm lượng các axít amin ở cá Ngựa đen với các nhóm nguồn gốc
và kích thước khác nhau 31
Hình 3.2. Hàm lượng các axít béo ở cá Ngựa đen với các nhóm nguồn gốc và
kích thước khác nhau 37
Hình 3.3. Biến động một số chỉ tiêu huyết học ở chuột khi cho ăn thức ăn có
bổ sung bột cá Ngựa nuôi và cá Ngựa khai thác tự nhiên 39
ampus kuda, thành phần hóa sinh, sinh sản -1-
MỞ ĐẦU
Việt Nam nằm ở vùng nhiệt đới với bờ biển dài hơn 3.200 km
. Chính vì thế
nguồn lợi hải sản khai thác được hàng năm là rất đáng kể. Trong số nhiều loài sinh
vật biển có giá trị phải kể đến cá Ngựa. Các loài thuộc giống cá Ngựa ít có giá trị
thực phẩm nhưng từ lâu đã được dùng làm thuốc chữa bệnh ở các nước phương
Đông hoặc nuôi làm
cảnh trong thời gian gần đây ở các nước phương Tây. Do bị
khai thác nhiều, nguồn lợi cá Ngựa tự nhiên suy giảm nghiêm trọng thúc đẩy sự ra
đời của nghề nuôi cá Ngựa [
8]. Ở Việt Nam nghề nuôi cá Ngựa, trong đó có cá
Ngựa đen chỉ mới xuất hiện vài năm gần đây, chủ yếu ở qui mô nhỏ tại thành phố
Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà. Cá Ngựa được nuôi trong bể xi măng hoặc lồng và tiêu
thụ dưới dạng cá cảnh khi đạt kích cỡ khoảng 6 đến 8 cm chiều dài thân. Quy mô
sản xuất có thể mở rộng nhưng khả năng xuất khẩu còn nhiều hạn chế.
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về đặc điểm
sinh học, sinh thái, định loại,
kỹ thuật sinh sản nhân tạo, xây dựng quĩ gen …của cá Ngựa. Các nghiên cứu ở
trong nước chủ yếu được thực hiện ở Viện Hải dương học Nha Trang hoặc Trường
Đại học Thủy sản và khá đa dạng về nội dung. Tuy vậy, hiện vẫn chưa có báo cáo
khoa học nào được c
ông bố về dược tính của cá Ngựa, đặc biệt là cá Ngựa nuôi.
Nghiên cứu có liên quan nhiều nhất là của Đỗ Tuyết Nga [
12] về thành phần hóa
sinh của cá Ngựa đen tự nhiên thu ở vùng biển Nha Trang. Kết quả cho thấy cá
Ngựa đen có thành phần lipít cao nhất ở phần nội quan, chiếm 14,67% ÷ 15,27%;
Nha Trang, Khánh Hoà” đã được thực hiện từ ngày 15/10/2009 đến ngày
15/5/2010 với mục tiêu và các nội dung cụ thể như sau:
Mục tiêu của đề tài: Đánh giá được thành phần hoá sinh và dược
tính của cá
Ngựa đen có nguồn gốc nuôi theo qui trình hiện thời tại Khánh Hòa và cá Ngựa đen
có nguồn gốc từ tự nhiên.
Các nội dung nghiên cứu:
1. Xác định t
hành phần hoá sinh (protein, axít amin, lipít, axít béo) của cá
Ngựa nuôi và cá Ngựa thu từ tự nhiên ở hai nhóm kích thước 6 - 8 cm và
10 - 12 cm chiều dài thân.
2. Thử nghiệm ảnh hưởng của thức ăn có bổ sung bột cá Ngựa đen đến một số
chỉ tiêu sinh lý của chuột bạch.
Ý n
ghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài: Kết quả nghiên cứu của đề tài này
vừa góp phần làm phong phú thêm cơ sở dữ liệu về đặc điểm sinh học và phần nào
dược tính của cá Ngựa đen, vừa giúp mở hướng phát triển cho nghề nuôi cá Ngựa
trong nước, tạo giá trị gia tăng cho đối tượng nuôi và tiến đến khé
p kín qui trình sản
xuất, phục vụ nhu cầu tiêu dùng của con người.
-3-
CHƯƠNG I
TỔNG LUẬN
1.1 TÌN
H HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NUÔI CÁ NGỰA TRÊN THẾ GIỚI VÀ
Ở VIỆT NAM
Hệ thống phân loại cá Ngựa đen:
Ngà
nh động vật có xương sống Vertebrata.
]. 54], [
Cá Ngựa chưa thành thục si
nh dục thường sống đơn độc, nhưng chúng lại kết
cặp khi trưởng thành, sống “chung thủy” với nhau ở một lãnh thổ nhất định. “Nhà”
của cá đực có diện tích khoảng vài m
2
, nhưng của cá cái có khi rộng đến 100 m
2
. Sự
sai khác về diện tích lãnh thổ giữa cá đực và cá cái làm giảm sự cạnh tranh về thức
ăn và không gian trong nội bộ loài. Chúng thường sống ở vùng biển có nhiều rạn
-4-
san hô, rong lá hẹ, rong mơ (Sargassum), bọt biển (Sponges) hoặc đáy bùn cát.
Theo tính toán của Perante [
43] thì loài H. comes ở Phi-lip-pin sống ở rạn san hô
chiếm 39,89%, ở bọt biển – 25,73%, ở rong Mơ (Sargassum) – 23,83%, phần còn
lại là ở những sinh cảnh khác. Một số loài cá Ngựa rộng muối và rộng nhiệt, giới
hạn chịu nhiệt bình thường của cá Ngựa như sau: loài cá Ngựa Nhật Bản (H.
japonicus) từ 5
o
C đến 36
o
C, loài cá Ngựa Ba chấm (H. trimaculatus): 10 - 30
o
C,
loài cá Ngựa Đen (H. kuda): 9 – 34
o
C [66].
3 Đặc điểm dinh dưỡng
Cá Ngựa có ruột thẳng, ngắn, không có dạ dày [
50] (Hình 1.3). Cá con ăn các
loài giáp xác nhỏ như Paracalanus, Cyclop, Acartia, Oithona, Neomysis [
66]. Cá
trưởng thành ăn các loài sinh vật đáy như Amphipoda, tôm thuộc họ Palaemonidae
-6-
[
60]. Trong điều kiện nuôi nhốt, cá Ngựa có thể ăn Atemia đã làm giàu, Mysis đông
lạnh [
59]. Như vậy, cá Ngựa ở giai đoạn con giống ăn động vật nổi, nhưng khi
trưởng thành chuyển sang ăn đáy. Có nhiều ý kiến khác nhau về hoạt động bắt mồi
ngày đêm của cá Ngựa. Theo Perante và cộng sự [
43] thì cá Ngựa H. comes ở Phi-
lip-pin bắt mồi chủ yếu vào ban đêm, trong khi đó Vincent và Sadler [
55] và
Lockyear và cs [
35] cho rằng cá Ngựa chỉ bắt mồi vào ban ngày. Cá Ngựa là loài
bắt mồi khá nhiều, cá con có thể ăn 1.000 ấu thể Artemia trong một ngày, cá lớn ăn
từ 3.000 – 4.000 Artemia trưởng thành [
62].
Cá Ngựa bắt mồi sống và di động [
5]. Thức ăn của chúng là các loài giáp xác
nhỏ thuộc nhóm Bơi nghiêng (Amphipoda), cá con và một số động vật không xương
sống khác [
51], [52]. Cá Ngựa không ăn thực vật và tảo [8]. Một số loài trong họ cá
Chìa vôi (Sygnathidae), cá đực mang trứng ăn chủ yếu là con mồi nhỏ hơn cá cái
cùng kích thước, bởi vì cá đực mang trứng di chuyển chậm, nên khó bắt được con
mồi lớn. Trong khi đó D’Entremont [
của cá Ngựa và theo vào trong ruột [
22]. Hình 1.3. Cấu t
rúc ống tiêu hóa cá Ngựa [
50].
Cá Ngựa đen bắt mồi vào ba
n ngày, từ 6 giờ đến 18 giờ. Hoạt động bắt mồi
mạnh nhất vào 8 giờ sáng và 14 giờ chiều, nhưng lúc 14 giờ cường độ bắt mồi thấp
hơn lúc 8 giờ, ban đêm chúng ngừng kiếm ăn [6], [8], [13], [14]. Trương Sĩ Kỳ [8]
và Trần Sương Ngọc [13] nhận thấy rằng cá Ngựa đen có thể bắt mồi vào ban đêm
với điều kiện chiếu sá
ng liên tục.
The
o Trương Sĩ Kỳ và cs [
4], thành phần thức ăn của cá con (H. kuda) chủ
yếu là lớp phụ Chân Mái Chèo (Copepoda), chiếm 93% lượng thức ăn. Trong đó họ
Cyclopoidae và giống Pseudodiaptomus chiếm ưu thế. Ngoài ra trong ống tiêu hoá
còn có ấu trùng của các nhóm giáp xác khác. Cá Ngựa con thuộc nhóm ăn động vật
nổi. Kết quả này cũng được sự khẳng định của các công trình nghiên cứu của các
tác giả Chen Jia Xin [
25]. 66] và [
-8-
và 75 ngày, với kích thước trung bình ban đầu lần lượt là 45,6; 54,9 và 61,6 mm.
Sau 60 ngày nuôi cá đạt kích thước trung bình theo thứ tự trên là 84,0; 92,0 và 97,9
mm. Tỷ lệ sống tương ứng ở các kích thước là 60,3%; 77,5% và 89,4%. Cá Ngựa có
tốc độ sinh trưởng tương đối nhanh, thời gian nuôi tương đương như những đối
tượng thủy sản khác nên là một đối tượng nuôi rất có triển vọng.
Copepoda Ấu trùng giáp xác
Cá con có chiều dài thân 5 - 15 mm
Palaemonidae Amphipoda
C
á có chiều dài thân lớn hơn 45m
m
Các nhóm khác
-9-
1.1.
5 Tình hình nuôi cá Ngựa
The
o Trương Sỹ Kỳ [
10], việc nuôi cá Ngựa với mục đích kinh tế có lẽ được
bắt đầu từ những năm 50 cho đến năm 1980. Tại Trung Quốc có 7 cơ sở nuôi qui
mô khá lớn ở vùng phía Nam biển Trung Hoa, 2 cơ sở ở Guangxi và 5 cơ sở ở
Guangdong. Có lẽ vì những khó khăn về mặt kỹ thuật và hiệu quả kinh tế cho nên
việc nuôi cá Ngựa bị ngừng lại. Ngày nay, do nhu cầu tiêu thụ cá Ngựa quá lớn nên
vấn đề nuôi
cá Ngựa ở Trung Quốc có thể được nghiên cứu tiếp trong thời gian tới.
Ở Phi-lip-pin, cá Ngựa được nuôi ở đảo Marrunggas vào năm
1988, nhưng bị
thất bại. Phương pháp nuôi như sau: cho cá đẻ trong phòng thí nghiệm và nuôi cá
con trong các lồng nổi đặt ở biển hoặc cửa sông, tỷ lệ sống sót của cá con là 12%
sau một tuần nuôi. Năm 1995 đề án nuôi cá Ngựa lại được lặp lại ở Trường Đại Học
rất có triển vọng.
Bảng 1.
1: Danh mục một số loài cá Ngựa được nuôi trên thế giới.
Loài
Vùng biển Tác giả
Hippocampus abdominalis
Woods [63]
Úc, New Zealand
H. kuda
Trương Sĩ Kỳ [5], [9];
Che
n Jia Xin [66]
Việt Nam, Trung Quốc,
Thái Lan, Indonesia,
H. trimacul
atus,
Việt Nam, Trung Quốc Trương Sĩ Kỳ [7];
H. spinosissimus
She
ng và cs [
48], [49]
H. subel
ongatus
Úc
Payne & Rippingale [42]
H. fuscus, H. kuda, H.
bar
bouri
Anh Wilson
& Vincent [
n suyễn, suy
giảm khả năng tình dục, các bệnh về tim và hệ tuần hoàn, thận, gan và thậm chí cá
Ngựa còn được dùng để trị chứng khó sinh ở phụ nữ. Công dụng của cá Ngựa chủ
yếu được rút tỉa từ kinh nghiệm dân gian. Trước năm 2000, người ta chưa phát hiện
được hợp chất có hoạt tính đặc biệt nào từ cá Ngựa. Ngoại trừ một vài nghiên cứu
-11-
về di truyền học,
hình thái ngoài hay sinh sản của cá Ngựa; cơ chế phân tử của sinh
lý học, dược lý học và miễn dịch học vẫn chưa được nghiên cứu một cách rõ ràng.
Gần đây, các nhà khoa học Trung Quốc đã tiến hành nghiên cứu thành phần
phân tử của các hợp chất trong cá Ngựa ở cấp độ gen và protein. Đây là một hướng
nghiên cứu hiện đại, chứng minh về mặt cơ chế phâ
n tử công dụng y học của loài
sinh vật này trong y học Trung Hoa cổ truyền. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng cá
Ngựa chứa các phân tử miễn dịch có hai nguồn gốc khác nhau: từ yếu tố di truyền
bẩm sinh và từ hệ miễn dịch do quá trình chọn lọc tự nhiên. Dạng miễn dịch từ quá
trình tiến hóa qua chọn lọc tự nhiên bao gồm các peptide kháng lại các vi sinh vật,
các nhân tố làm tăng cường khả năng tiêu diệt tế bào ngoại lai, các protein chống
oxy hoá, các phân tử có khả năng giải độc, các lectin và protei
n có liên quan đến
quá trình tạo máu… Các phân tử miễn dịch được di truyền ở cá Ngựa xây dựng hệ
thống chống oxy hóa là một trong những hệ thống tự bảo vệ quan trọng nhất của
sinh vật, bao gồm hàng loạt các enzyme glutathione S-transferase, protein chống
ôxy hóa, enzyme chống ôxy hóa B16, metallothionine A và nhiều hợp chất có hoạt
tính sinh học khác. Các chất này có thể cùng tác dụng trong quá trình chống oxy
hóa và chống lã
o hóa. Điều thú vị là đã phát hiện được rằng cá Ngựa có chứa ít nhất
5 gene kháng khối u, điều này đã mở ra một cách nhìn mới trong lĩnh vực nghiên
cứu cơ chế của khả năng chống ung thư từ cá Ngựa cũng như khả năng sử dụng
Threonin, Phenylalanin, Valin, Methionin, Lơxin, Isolơxin đều có trong cá Ngựa.
Hàm lượng các axít amin cần thiết cho sự tăng trưởng của trẻ em như Histidin,
Arginin và Methionin đều cao ở cá Ngựa đen.
Các nghiên cứu khoa học về sinh lý, sinh t
hái học cùng với nghiên cứu hoá
sinh học, tác động dược lý học của cá Ngựa giúp con người có được hiểu biết đúng
đắn về cách sử dụng l
oài sinh vật này. Ở Trung Quốc cá Ngựa được dùng làm thuốc
và ghi nhận lần đầu tiên ỏ bộ sách Bản Thảo Cương mục Thập Di của Triệu Học
Mẫn (1765). Ở Việt Nam, Đỗ Tất Lợi [
11] đã ghi nhận cá Ngựa là một vị thuốc bổ
có tác dụng kích thích về sinh dục. Thường dùng cho người già yếu, phụ nữ vô sinh
hoặc thai ra khó. Trong nhiều trường hợp có thể chữa được bệnh hen suyển, hói
đầu.
Chế biến cá Ngựa có thể theo nhiều cách như ngâm
cá (3 cặp gồm 3 cá cái và
3 cá đực) vào rượu có hồi, quế và một số dược liệu có tinh dầu; sấy cá Ngựa rồi
đem tán nhỏ, uống dưới dạng bột hoặc viên,
ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 – 3 gam.
Trên thị trường cá Ngựa thường được tiêu thụ ở dạng khô. Cá được rửa sạch bằng
nước ngọt, phơi khô 2 – 3 ngày là có thể đem bán hoặc sử dụng.
-13-
Hình 1.
5: Cá Ngựa khô bán trên thị trường
Chí
nh vì công dụng chữa bệnh hữu hiệu nên hiện nay nguồn lợi cá Ngựa đang
bị suy giảm nghiêm trọng do bị đánh bắt quá nhiều cho mục đích thương mại.
Ngoài ra cá Ngựa có hình dạng kỳ lạ nên còn được nuôi làm cảnh ở nhiều nước trên
Ngựa với các mục đích khác nhau. Nhu cầu sử dụng cá Ngựa ước tính tăng 5% mỗi
năm (Cawthron Report, 2002).
Hình 1.
6. Cá Ngựa nuôi cảnh.
Hình 1.
7. Cá Ngựa ngâm rượu dùng trong y học cổ truyền.
-15-
1.4 KINH DOANH CÁ NGỰA Ở VIỆT NAM
1.4.
1 Kích thước khai thác
Trước đây kích thước thương phẩm của cá Ngựa thường lớn hơn 120 mm,
nhưng hiện nay do số lượng cá khai thác có kích thước lớn càng ngày càng giảm
nên cá có chiều dài trên 60 mm đã được mua bán trên thị trường. Do nhu cầu tiêu
thụ cá Ngựa ngày càng lớn, nên dẫn đến tình trạng nguồn lợi một số loài cá Ngựa
ngoài tự nhiên ngày càng giảm, thể hiện qua việc giảm cả về kích thước cá khai thác
lẫn sản lượng đánh bắt trên đơn vị cường lực theo thời gian (CP
UE: catch per unit
effort). Cho nên cá Ngựa là đối tượng được nhiều nhà nghiên cứu Bảo tồn thiên
nhiên quan tâm chú ý và thực hiện nhiều nghiên cứu nhằm phục hồi nguồn lợi loài
cá quí hiếm này.
Cá Ngựa đen là loài cá có kích thước khai thác khá nhỏ, chúng chỉ dao động từ
58mm đến 166mm và không có sự biến động lớn về các nhóm chiều dài qua các
tháng. Kích thước trung bình của cá Ngựa khai thác năm 1991 là 112,8 23 mm,
năm
1995 là 117 20,5 mm.
1.4.2 Sản lượng khai thác
Meeuwig và cộng sự [