Phân tích chức năng du lịch. Cho ví dụ thực tế vào Việt Nam? - Pdf 20

Câu 1: Phân tích chức năng du lịch. Cho ví dụ thực tế vào Việt
Nam?
Phần thảo luận nhóm:
Với câu hỏi này nhóm đã có những thảo luận như sau: Du lịch có 4
chức năng chính: chức năng xã hội, chức năng kinh tế, chức năng sinh thái,
chức năng chính trị.
 Chức năng xã hội:
Theo ý kiến của bạn Út thì du lịch làm con người thân thiện hiểu nhau
hơn, chất lượng cuộc sống được nâng cao, tăng tính đoàn kết cộng đồng, là
dịp giao lưu các nền văn hóa, mở rộng kiến thức của con người. Khơi nguồn
những giấc mơ đẹp, ước muốn bảo vệ và yêu thiên nhiên.
Theo bạn Văn thì mối quan hệ giữa các cá nhân trong xã hội và giữa các
cá nhân với thiên nhiên được cải thiện hơn nhờ vào đi du lịch. Từ đó hoàn
thiện nhân cách mỗi con người.
Theo bạn An và Xuân thì du lịch còn là phương tiện giáo dục lòng yêu
nước, giữ gìn và nâng cao truyền thống dân tộc. Thông qua các chuyến đi
tham quan, nghỉ mát, vãn cảnh, tham quan các lịch sử văn hóa dân tộc để
thêm yêu đất nước mình.
Theo bạn An thì đến thăm Địa đạo Củ Chi hay đến với Cố đô Huế là
một ví dụ.
 Chức năng kinh tế
Theo ý kiến của Xuyên và Hạnh thì du lịch giải quyết việc làm, đem
lại thu nhập cho người dân, lợi ích cho địa phương. Người du lịch sẽ có tinh
thần lạc quan làm việc hiệu quả hơn, nâng cao hiệu suất lao động. Qua du
lịch các sản phẩm và làng nghề truyền thống được bảo tồn và ngày càng phát
triển hơn.
Theo ý kiến của An và Văn du lịch làm thay đổi cán cân thu chi khu
vực, đất nước thúc đẩy ngoại thương phát triển. Đưa nền sản suất xã hội đi
lên. Phục vụ cho các mục đích kinh tế từ đó phát triển các ngành kinh tế như
công nghệ thực phẩm, nông nghiệp, chế biến, ngoại thương …
 Chức năng sinh thái

lịch thì đầu óc họ sẽ được nghĩ ngơi và thư giãn, nhờ được “thay đổi không
khí” trong cuộc sống, chẳng hạn như được hòa nhập vào thiên nhiên trong
lành, êm ả hay những nét văn hóa mới lạ, những khám phá thú vị và được
chăm sóc. Như vậy sẽ giúp phục hồi thể lực và còn tăng cường sức khỏe.
Chính vì lẽ đó mà các công ty, doanh nghiệp tại các khu công nghiệp hay khu
chế xuất, trong điều kiện có thể sẽ tổ chức cho công nhân đi du lịch.
Hình 1: Du khách tham quan Việt Nam
Nguồn: www.tuoitre.com.vn
Bên cạnh đó qua các chuyến du lịch, đông đảo quần chúng sẽ tăng
thêm lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết quốc tế, hình thành những phẩm chất
đạo đức tốt đẹp như yêu lao động, tình bạn…Nhờ tiếp xúc với những thành
tựu văn hoá phong phú và lâu đời của các dân tộc.
Ví dụ: Các chuyến du lịch đi thăm địa đạo Củ Chi – Tp. Hồ Chí Minh,
chứng kiến công trình vĩ đại ấy chúng ta càng “thấm” hơn bao nhiêu xương
máu và nước mắt mà ông cha ta đã đổ xuống: chỉ với những công cụ đơn sơ
2
nhất, địa đạo dài 200km đã được xây dựng nên. Từ đây, đồng bào, chiến sĩ
của ta đã đương đầu với những cuộc chiến tranh hủy diệt tàn khốc nhất của
đế quốc Mỹ. Thật đáng tự hào, hãnh diện và sâu sắc.
 Chức năng kinh tế:
Thông qua hoạt động nghỉ ngơi, đi du lịch, tỷ lệ tử ốm đau trong khi
làm việc giảm đi, tỷ lệ tử vong ở trong độ tuổi lao động giảm xuống, rút ngắn
thời gian chữa bệnh, giảm số lần đi khám bệnh ở các bệnh viện. Hơn nữa,
dịch vụ du lịch là một ngành kinh tế độc đáo, được mệnh danh là “ngành
công nghiệp không khói”. Nhờ nằm trong nhóm ngành dịch vụ nên du lịch
càng phát triển thì cơ cấu nền kinh tế càng có thêm chuyển biến tích cực.
Chuyển dịch kinh tế sẽ thu hút lao động sang các ngành dịch vụ. Và đây là
một nguồn thu ngoại tệ lớn của nhiều nước.
Ví dụ: Doanh thu du lịch của nước ta 1950 đạt 2,1 tỷ đô la thì đến
năm 2005 tăng lên gần 680 tỷ. Ở Việt Nam hiện nay có khoảng 250.000 lao

cảm nhận được sự thân thiện của con người với thiên nhiên và sinh vật ở nơi
đây, họ sẽ thấy gần gũi với thiên nhiên hơn, yêu thiên nhiên hơn và có ý thức
bảo vệ môi trường.
 Chức năng chính trị:
Du lịch như là một nhân tố cũng cố hòa bình, đẩy mạnh các mối quan
hệ giao lưu quốc tế, mở rộng sự hiểu giữa các dân tộc. Du lịch quốc tế làm
cho con người sống ở các khu vực khác nhau hiểu biết và xích lại gần nhau.
Bởi vậy khi đến tham quan du lịch tại một vùng hay một quốc gia nào đó,
khách du lịch sẽ được tận mắt nhìn thấy, được tiếp xúc trực tiếp với nền văn
hóa, phong tục và con người nơi ấy. Chính nhờ thông qua sự tiếp xúc trực
tiếp ấy mà các dân tộc càng thấu hiểu nhau hơn và các quốc gia ngày nay
càng thắt chặt tình hữu nghị.
Hình 3: Cuộc thi hoa hậu hoàn vũ 2008 – Việt Nam.
Nguồn: www.vi.wikipedia.org
Ví dụ: Cuộc thi hoa hậu hoàn vũ năm 2008 ở Nha Trang - Việt Nam
vừa qua. Có tác dụng tích cực về nhiều phương diện, nổi trội hơn cả là việc
4
quảng bá hình ảnh đất nước con người Việt Nam cho các nước bạn. Qua đây
trong mắt bạn bè quốc tế Việt Nam là quốc gia có tình hình chính trị ổn định,
cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, con người thân thiện….Là điểm đến hấp dẫn
cho du khách.
Câu 2: Phân tích một số tài nguyên du lịch tự nhiên – cho ví dụ
cụ thể ở Việt Nam để chứng minh?
Phần thảo luận nhóm:
Với nội dung câu hỏi này nhóm đã chọn hai tài nguyên du lịch tự
nhiên để phân tích là tài nguyên địa hình và tài nguyên khí hậu để phân tích:
 Tài nguyên địa hình:
Theo ý kiến của bạn An địa hình là một nhân tố có vai trò rất to lớn trong
hoạt động du lịch.
Theo ý kiến của Hạnh địa hình có nhiều đơn vị hình thái như địa hình

những di tích lịch sử và văn hóa… và những yếu tố này đã ảnh hưởng gián
tiếp đến du lịch.
5
Địa hình vùng đồi thường tạo ra một không gian thoáng đãng, bao la.
Do sự phân cắt của địa hình nên tác động mạnh đến tâm lý du lịch dã ngoại,
rất thích hợp với các loại hình cắm trại, tham quan. Vùng đồi là nơi tập trung
dân cư tương đối đông đúc, lại là nơi có những di tích khảo cổ và tài nguyên
văn hóa, lịch sử độc đáo, tạo khả năng phát triển loại hình du lịch, tham quan
theo chuyên đề.
Trong các dạng địa hình thì miền núi có ý nghĩa lớn nhất đối với du
lịch, đặt biệt là các khu vực thuận lợi cho việc tổ chức thể thao mùa đông,
các nhà an dưỡng, các trạm nghỉ, các cơ sở du lịch, các khu vực tiện cho
chuyển tiếp lộ trình, các đỉnh núi cao có thể nhìn thấy toàn cảnh và thích hợp
với môn thể thao leo núi… Trong tài nguyên du lịch miền núi, cùng với địa
hình, khí hậu và các thực động vật tạo nên tài nguyên du lịch tổng hợp có khả
năng tổ chức ác loại hình du lịch ngắn ngày cũng như dài ngày. Ngoài những
địa hình chính, ta cần chú ý đến những dạng địa hình đặc biệt có giá trị rất
lớn cho tổ chức du lịch – kiểu địa hình karsto và địa hình bờ biển. Karstơ thì
có karstơ hang động và karstơ ngập nước, được hình thành do sự lưu thông
của nước trong cát đá dể hòa tan (đá vôi, đôlômit, đá phấn…), ở Việt Nam
thì chủ yếu là đá vôi. Trong đó, Kartơ kiểu Karstơ hang động là kiểu được
quan tâm nhất đới với du lịch. Những cảnh quan thiên nhiên và văn hóa của
hang động karstơ rất hấp dẫn khách du lịch, chiều dài, độ sâu, những hình
ảnh huyền ảo, bí ẩn trong những hang động karstơ làm lôi cuốn người xem.
Ở nước ta thì có động Phong Nha, được coi là hang nước đẹp nhất thế giới,
“Phong Nha Đệ nhất động”.
Hình 4: Dạng địa hình Karstơ – Động Phong Nha
Nguồn: www.vietnamopentuor.com.vn
Ngoài hang động karstơ, các kiểu địa hình karstơ khác cũng có giá trị lớn đối
với du lịch, chẳng hạn như karstơ ngập nước. Việt Nam có kiểu địa hình

7
Khí hậu là môi trường tự nhiên đối với hoạt động du lịch. Nó thu hút
người tham gia và người tổ chức du lịch qua khí hậu sinh học. Do đó nó đòi
hỏi khí hậu điểm du lịch phải đạt được những chỉ tiêu nhất định, chủ yếu là
về nhiệt độ và độ ẩm không khí. Ngoài ra còn có một số chỉ tiêu khác nữa
như gió, lượng mưa, thành phần lý hóa của không khí, áp suất khí quyển, số
giờ nắng và các hiện tượng thời tiết đặc biệt. Nhìn chung, khí hậu điều hòa
thường được khách du lịch ưa thích. Chẳng ai mà dại gì bỏ tiền ra để đi du
lịch ở những vùng có khí hậu nóng như thiêu đốt, hay là lạnh giá như băng
tuyết Nam cực. Chính vì thế mà khí hậu ảnh hưởng không nhỏ đến các
chuyến đi du lịch, hoặc hoạt động dịch vụ về du lịch.
Hình 6: Bãi biển Nha Trang – Khánh Hòa
Nguồn: www. nhatrangbluesatravel.com.vn
Khí hậu có tính phân mùa rõ rệt, do đó nó sẽ tạo tính mùa của du lịch.
Do sự phân hóa của khí hậu (theo quy luật địa đới, phi địa đới…) mà mỗi
vùng khác nhau sẽ có tính mua du lịch khác nhau.
- Mùa du lịch cả năm (liên tục) thích hợp với loại hình du lịch chữa
bệnh suối khoáng, du lịch trên núi cả mùa đông và mùa hè. Tất nhiên trong
thực tế rất hiếm khi có sự phân phối đồng điều các dòng du lịch theo mùa vì
chịu ảnh hưởng của các nguyên nhân khí hậu, tự nhiên, xã hội, kinh tế - kỹ
thuật.
- Mùa đông – là mùa lịch trên núi. Sự kép dài của mùa đông có ảnh
hưởng tới khả năng phát triển du lịch thể thao mùa đông và các loại hình du
lịch mùa đông khác.
- Mùa hè là mùa du lịch quan trọng nhất vì lượng ánh sáng nhiều, ấm
áp. Do đó có thể phát triển nhiều loại hình du lịch như du lịch biển, các loại
40
- Hình du lịch trên núi và ở khu vực đồng bằng – đồi. Khả năng du lịch
ngoài trời về mùa hè rất phong phú và đa dạng.
8

hóa và thu nhập nhất định thì mới thích và đến tìm hiểu về văn hóa. Họ hiểu
biết và lại có thu nhập cao, chịu “bỏ tiền ra” nên yêu cầu, đòi hỏi của họ sẽ
cao hơn. Nhưng cũng chính vì thế mà ta có thể đầu tư nhiều dịch vụ cao cấp
để tăng doanh thu.
Theo bạn Văn đại bộ phận tài nguyên du lịch nhân văn không có tính
mùa do ít tổ chức ngoài trời và đối tượng tài nguyên này ít phụ thuộc vào
điều kiện tự nhiên. Do đó có thể khai thác quanh năm và sẽ là lựa chọn lý
tưởng cho những ngày thời tiết không được tốt. Ví dụ đến Kinh thành Huế
chẳng hạn.
Theo bạn Xuân thì tài nguyên này có tác dụng nhận thức là nhiều, tác
dụng giải trí không điển hình. Nên khai thác một số loại hình giải trí khám
phá về văn hóa tại nơi này.
Theo bạn Út thì thăm tài nguyên du lịch nhân văn cần rất ít thời gian, vì
đa phần là nhận thức bên ngoài bằng sự quan sát. Do đó nên tổ chức hoạt
động nhận thức theo lộ trình.
Theo bạn Xuyên thì tài nguyên du lịch nhân văn thường tập trung ở các
nơi đông dân và thành phố lớn do đó là “sản phẩm của cả một cộng đồng dân
tộc”, kết tinh văn hóa lâu đời. Do đó có thể tận dụng cơ sở hạ tầng của dân
cư cho du lịch luôn.
Theo bạn Hạnh thì tài nguyên này thường được đánh giá bằng trực
cảm, xúc cảm tùy thuộc vào tâm lý khách du lịch. Vì thế phải nghiên cứu kỹ
về tâm lý của khách.
Kết luận:
Nhóm tài nguyên du lịch nhân văn là do con người tạo ra, hay nói cách
khác, nó là đối tượng và hiện tượng được tạo ra một cách nhân tạo. Đây cũng
chính là nguyên nhân khiến cho tài nguyên du lịch nhân tạo có những đặc
điểm rất khác biệt so với nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên.
9
 Tài nguyên du lịch nhân tạo có tác dụng nhận thức nhiều hơn. Tác
dụng giải trí không điển hình hoặc có ý nghĩa thứ yếu. Bởi vì tài nguyên nhân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status