I. Mở đầu :
1. Khái quát về biển Đông:
Biển Đông là vùng biển được bao quanh bởi nhiều quốc gia có tốc độ công
nghiệp hóa rất cao như: Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Indonesia, Malaysia,
Philippin, Brunây, Campuchia. Biển Đông có một hệ sinh thái độc nhất vô nhị
kho tài nguyên quý giá. Biển Đông được người Trung Quốc gọi là biển Nam
Trung Hoa. Biển Đông đứng thứ hai trong các biển ven Thái Bình Dương và
đứng hàng thứ ba trên thế giới. Biển có diện tích khoảng 3.447.000 Km
2
, thể tích
3.928.000 Km
3
. Theo tổng cục thủy văn quốc tế đây là vùng biển nửa kín kéo dài
khoảng 1.900 hải lí, ranh giới phía nam ở vĩ tuyến 3
0
Nam giữa nam Sumatra và
Kalimanta, phía bắc eo Đài Loan đến bờ biển Phúc Kiến Trung Quốc, với hai
đảo lớn Hải Nam 34.000 Km
2
và Đài Loan 36.000 Km
2
. Độ sâu trung bình của
biển 1060m, độ sâu lớn nhất 5016m. Biển có chế độ gió mùa( Đông Bắc từ
tháng 12 – tháng 2 năm sau, gió mùa hạ từ tháng 6 đến tháng 8), quanh năm độ
ẩm, khí áp, vũ lượng đều cao. Nhờ có Biển Đông tính chất hải dương của tự
nhiên Việt Nam rõ rệt và phong phú. Biển rất giàu về tài nguyên, thềm lục địa
rộng và nông là nơi tập trung nhiều khoáng sản, nước biển là một kho muối vô
tận, là nơi sinh sống của nhiều loài sinh vật biển …Có nhiều bến cảng đóng vai
trò to lớn trong nền kinh tế của các nước ven bờ.
Đối với Việt Nam vấn đề giữ gìn an ninh và chủ quyền Biển Đông là yếu tố
quyết định cho sự phát triển kinh tế xã hội và sự tồn vong của đất nước.
- Khu vực phía Bắc: Hải Phòng, Cái Lân…
- Khu vực miền Trung: Đà Nẵng, Dung Quất…
- Khu vực miền Nam: Cảng Sài Gòn, Vũng Tàu, các cảng trên sông Thị
Vải – Cái Mép…
Trong tương lai phát triển và nâng cao trọng tải của các cảng có giá trị kinh
tế, đặc biệt là cảng Cái Cui ở Cần Thơ.
• Phát triển ngành đóng tàu: tiềm năng kinh tế Biển Đông rất lớn, tương
lai tăng cường các loại tàu đành bắt xa bờ, tàu chở hàng hóa, đội tàu chở
container, chở dầu thô…Phải tăng cường đầu tư đóng nhiều tàu trọng tải
lớn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội trong tương lai.
Cải tạo và nâng cấp nhà máy đóng tàu liên doanh liên kết với nước ngoài
có trình độ quản lí tiên tiến tăng sức cạnh tranh trong nước và quốc tế. Hình
thành 3 trung tâm đóng tàu Bắc – Trung – Nam có khả năng được tàu có trong
tải từ 100.000 DWT, sửa chữa tàu từ 400.000 DWT. Trong tương lai đóng tàu
trọng tải từ 10.000 DWT chở dầu thô, 100.000 chở dầu thành phẩm, tàu chở
container từ 1000 – 1500 TEU…
2. Định hướng phát triển ngành dầu khí ở Việt Nam
Bước vào thời kỳ toàn cầu hóa nhu cầu năng lượng rất lớn. Năm 2001 tổng
công ty dầu khí Việt Nam đã khai thác gần 100 triệu tấn dầu thô đòng vai trò quan
trọng trong việc tăng nguồn thu ngoại tệ cho ngân sách nhà nước. Trong những
năm tới tăng cường khai thác bên cạnh đó phải đổi mới công nghệ và bảo vệ môi
trường.
Một số mỏ dầu đang khai thác và đã phát hiện, tại thềm lục địa Việt Nam
qui tụ thành 4 khu vực:
- Bể cửu Long, thềm lục địa Tây Nam, bể nam Côn Sơn, khu vực Bắc bể
sông Hồng. Trong tương lai cần phải khai thác hợp lí bảo vệ môi trường,
tăng cường kiếm thêm nhiều mỏ mới để phát triển kinh tế xã hội
3. Định hướng phát triển ngành thủy sản :
Thủy sản được Đảng và nước ta định hướng phát triển thành ngành kinh tế
mũi nhọn.
hòa bình, xây dựng các quan hệ hợp tác trong khai thác và kiểm soát ở biển
Đông sẽ đem lại lợi ích cho các nước liên quan góp phần hòa dịu các vấn đề khu
vực.
III. Kết luân:
Do tính chất quan trọng về kinh tế và quốc phòng nên việc định hướng phát
triển kinh tế xã hội Biển Đông ở Việt Nam có một ý nghĩa sâu sắc đến tiến trình
phát triển kinh tế của nước ta. Định hướng ở đây phải có những chính sách, kế
hoạch cho phù hợp từng miền biển trong cả nước.
Sau Đại hội Đảng lần thứ IX kinh tế biển Đông có những bước phát triển
nhảy vọt, đã giải quyết nhiều công ăn việc làm cho nhân dân. Kinh tế của các
ngành hàng hải, thủy sản, du lịch, năng lượng,… đều có sự tăng trưởng đồng bộ
góp phần rất lớn cho bước tiến công nghiệp hóa hiện đại hóa của nước ta.
3
Hình 1 - Biển Đông
Hình 2 - Du lịch biển Đông
4
Hình 3 - Khai thác hải sản.
Hình 4 – Khai thác dầu khí
5