GVHD :Th.S BÙI THỊ LUẬN Khoá luận tốt nghiệp
CHƯƠNG I
LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
ĐỊA CHẤT VÙNG
Bồn trũng Cửu Long nằm phía Đông Bắc thềm lục đòa Nam Việt Nam,
với tọa độ đòa lý : nằm giữa 9
0
-11
0
vó độ Bắc, 106
0
30’-109
0
kinh độ Đông, kéo
dài theo phương Đông Bắc – Tây Nam. Bồn trũng Cửu Long có diện tích
56.000 km
2
, phía Đông Nam được ngăn cách với trũng Nam Côn Sơn bởi khối
nâng Côn Sơn, phía Tây Nam được ngăn cách với bồn trũng vònh Thái Lan bởi
khối nâng Korat, phía Tây Bắc nằm trên phần rìa của đòa khối Kontum.
Bồn trũng Cửu Long được các nhà đòa chất nghiên cứu từ lâu. Công tác
nghiên cứu đòa chất, đòa vật lý ở đây khá tỉ mỉ và thu được nhiều kết quả tốt,
cùng với việc tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí được tiến hành mạnh mẽ
ở các mỏ Bạch Hổ, mỏ Rồng và đã đạt được kết quả có giá trò kinh tế lớn lao.
(HÌNH 1)
Nhìn chung lòch sử nghiên cứu bồn trũng Cửu Long có thể chia làm ba
giai đoạn :
I.GIAI ĐOẠN TRƯỚC NĂM 1975.
Vào đầu những năm 60 đã có những dự đoán về tiềm năng dầu khí ở
bồn trũng, nó trở thàng đối tượng tìm kiếm dầu khí của một số công ty nước
ngoài.
Năm 1984, Liên Đoàn Đòa Vật Lý Thái Bình Dương của Liên Xô đã
tiến hành khảo sát khu vực một cách chi tiết với các mạng lưới sau:
Mạng lưới tuyến 2km 2km ở các cấu tạo Bạch Hổ, Rồng, Tam Đảo.
Trang2
GVHD :Th.S BÙI THỊ LUẬN Khoá luận tốt nghiệp
Mạng lưới tuyến 1km 1km ở các cấu tạo Rồng, Tam Đảo, khu vực lô
15.
Mạng lưới tuyến 0,5km 0,5km ở cấu tạo Bạch Hổ.
Năm 1991 công ty Geco thực hiện công tác khảo sát đòa chấn 3D ở mỏ
Bạch Hổ.
Từ tháng 9/1991 công ty Petronas Carigali(Việt Nam)Snd.Bhd khoan
thăm dò các lô 01, 02 với các giếng Ruby-1, Jade-1, Emerald-1, Diamon-1,
Topaz-1…
Cho đến nay có tất cả khoảng trên 70.000 km tuyến đòa chấn 2 chiều, 3
chiều đã thực hiện trên diện tích bồn trũng với mật độ trung bình 1,5km /
1km
2
, đã khoan hơn 100 giếng tìm kiếm, thăm dò khai thác trên 7 cấu tạo với
hàng trăm nghìn m khoan, phát hiện nhiều mỏ dầu khí với các đối tượng sản
phẩm là trầm tích Mioxen, Oligoxen và đặc biệt là đá móng kết tinh (granit,
granodiorit). Khai thác dầu được thực hiện đầu tiên ở mỏ Bạch Hổ từ
26/06/1996, cho đến nay đã có thêm 3 mỏ dầu được đưa vào khai thác là mỏ
Rồng(12/1994), Rạng Đông(08/1998), Ruby(10/1998). Tổng sản lượng đã khai
thác tới ngày 31/12/1999 là 78,3 triệu tấn và đưa khí đồng hành mỏ Bạch Hổ
vào bờ sử dụng cho phát điện khoảng 3,5 tỷ m
3
.
Với khoảng 100 giếng khai thác dầu từ đá móng mỏ Bạch Hổ, Rồng,
Rạng Đông và Ruby cho lưu lượng hàng trăm tấn ngày đêm, có giếng đạt tới
trên 1000 tấn /ngày đêm đã và đang khẳng đònh đá móng phong hoá nứt nẻ có
một số các đứt gãy và nứt nẻ Anđezit, Bazan. Tùy theo từng khu vực khác
nhau mà các đá bò nứt nẻ, phong hóa ở các mức độ khác nhau.
Đá móng cũng bò biến đổi bởi các quá trình biến đổi thứ sinh ở những
mức độ khác nhau. Trong số những khoáng vật biến đổi thứ sinh thì phát triển
nhất là Canxit, Zeolit và Kaolinit.
Tới nay các thành tạo móng được khoan với chiều dày hơn1600m (GK
404 mỏ Bạch Hổ) và mức độ biến đổi của đá có xu thế giảm theo chiều sâu,
đặc biệt ở chiều sâu hơn 4500m thì quá trình biến đổi giảm rõ rệt.
Trang4
GVHD :Th.S BÙI THỊ LUẬN Khoá luận tốt nghiệp
2. Các trầm tích Kainozoi :
Theo tài liệu của Vietsovpetro “Thống nhất đòa tầng trầm tích Kainozoi
trũng Cửu Long” – 1987, các thành tạo trầm tích Kainozoi có những đặc điểm
chính như sau :
- Các thành tạo trầm tích theo bình đồ cũng như theo mặt cắt khá phức
tạp, bao gồm các loại đá lục nguyên tướng châu thổ và ven biển.
- Trầm tích Kainozoi phủ bất chỉnh hợp trên móng trước Kainozoi với
độ dày từ 3-8 km, càng đi về trung tâm bồn trũng độ dày càng tăng, chỗ sâu
nhất lớn hơn 8 km.
- Các trầm tích Kainozoi ở bồn Cửu Long có mặt các phân vò đòa tầng
có các hóa thạch đặc trưng được xác đònh bởi các bào tử phấn và vi cổ sinh.
Từ dưới lên bao gồm :
Các thành tạo trầm tích Paleogen
♦ Trầm tích Eoxen P2:
Cho đến nay trầm tích cổ nhất ở trũng Cửu Long được coi là tương ứng
với tầng cuội, sạn sỏi, cát, xen lẫn với những lớp sét dày được thấy ở giếng
khoan Cửu Long 1 (Phụng Hiệp_ Cần Thơ), ở độ sâu 550m_2110m cuội có
kích thước lớn hơn 10cm. Thành phần của cuội bao gồm: granit, andersit,
gabro, tẩm sét đen, màu xanh , nâu , đỏ thẩm. Chúng đặc trưng cho trầm tích
molas, được tích tụ trong điều kiện dòng chảy mạnh, đôi chỗ rất cần nguồn
+ Trầm tích Oligocen thượng – điệp Trà Tân (P
3
2
tt) :
Gồm các trầm tích sông hồ, đầm lầy và trầm tích biển nông. Ngoài ra
trầm tích Oligocen thượng còn chòu ảnh hưởng của các pha hoạt động magma
vì thế còn tìm thấy ở đây các thân đá phun trào như Bazan, Anđezit, … Trầm
tích Oligocen thượng có thể chia thành hai phần theo đặc trưng thạch học của
chúng. Phần dưới bao gồm xen kẽ các lớp cát kết hạt mòn – trung, các lớp sét
và các tập đá phun trào. Phần trên đặc trưng bằng các lớp sét đen dày. Ở khu
vực đới nâng Côn Sơn, phần trên của mặt cắt tỉ lệ cát nhiều hơn. Ở một vài
nơi tầng trầm tích Oligocen thượng có dò thường áp suất cao. Chiều dày của
điệp thay đổi từ 100 _1000m.
Trang6
GVHD :Th.S BÙI THỊ LUẬN Khoá luận tốt nghiệp
Các thành tạo trầm tích Neogen :
♦ Trầm tích Miocen hạ – điệp Bạch Hổ (N
1
1
bh) :
Trầm tích điệp Bạch Hổ bắt gặp ở hầu hết các giếng khoan đã được
khoan ở bồn trũng Cửu Long. Trầm tích điệp này nằm bất chỉnh hợp trên các
trầm tích dưới, bề mặt của bất chỉnh hợp được phản xạ khá tốt trên mặt cắt
đòa chấn. Đây là bề mặt chỉnh hợp quan trọng nhất trong đòa tầng Kainozoi.
Dựa trên tài liệu thạch học, cổ sinh, đòa vật lý, điệp này được chia thành hai
phụ điệp :
• Phụ điệp Bạch Hổ dưới (N
1
1
bh
xanh thẫm, đôi chỗ gặp các lớp than.
♦ Trầm tích Miocen thượng – điệp Đồng Nai (N
1
3
đn) :
Trầm tích được phân bố rộng rãi trên toàn bộ bồn trũng Cửu Long và
một phần của đồng bằng sông Cửu Long trong giếng khoan Cửu Long 1. Trầm
tích của điệp này nằm chỉnh hợp trên trầm tích điệp Côn Sơn. Trầm tích phần
dưới gồm những lớp cát xen lẫn những lớp sét mỏng, đôi chỗ lẫn với cuội, sạn
kích thước nhỏ, Các thành phần chủ yếu là thạch anh, một ít những mảnh đá
biến chất, tuff. Trong sét đôi chỗ gặp than nâu hoặc bột màu xám sáng. Phần
trên là cát thạch anh với kích thước lớn, độ lựa chọn kém, hạt sắc cạnh. Trong
cát gặp nhiều mảnh hóa thạch sinh vật, glauconit, than và đôi khi cả tuff.
♦ Trầm tích Pliocen – Đệ Tứ – điệp Biển Đông (N
2
-Qbđ) :
Trầm tích của điệp này phủ bất chỉnh hợp lên trầm tích Miocen. Trầm
tích của điệp này đánh dấu một giai đoạn mới của một sự phát triển trên toàn
bộ trũng Cửu Long, tất cả bồn trũng được bao phủ bởi biển. Điệp này được
đặc trưng chủ yếu là cát màu xanh, trắng, có độ mài tròn trung bình, độ lựa
chọn kém, có nhiều glauconit. Trong cát có cuội thạch anh hạt nhỏ. Phần trên
các hóa thạch giảm, cát trở nên thô hơn, trong cát có lẫn bột, cát có màu hồng
chứa glauconit.
Trang8
GVHD :Th.S BÙI THỊ LUẬN Khoá luận tốt nghiệp
CHƯƠNG 3
KIẾN TẠO
Ởû bồn trũng Cửu Long, các tầng phản xạ đòa chấn chính đã được liên
kết và vẽ bản đồ, đặc điểm cấu trúc khu vực của bồn trũng được thể hiện rõ
trên các bản đồ này đặc biệt là bản đồ nóc mặt móng. Có thể phân chia các
Ở vùng trung tâm bồn trũng hệ thống đứt gãy theo hướng Bắc Đông
Bắc _Nam Tây Nam với góc lệch 20
0
về phía đông so với cực Bắc.
Ởû vùng Đông Bắc bồn trũng : hệ thống đứt gãy theo hướng Đông Bắc _
Tây Nam.
Ngoài ra còn có hệ thống đứt gãy theo hướng Tây Bắc _Đông Nam và
Bắc Nam.
1.Hệ thống đứt gãy theo hướng Đông Bắc _Tây Nam
_ Phân bố tập trung ở lô 15 và đới nâng Rồng _ Bạch Hổ, ở rìa Nam và
Đông Nam của bồn trũng.
_Trong thời kì của loạt E biên độ dòch chuyển đứng của chúng thay đổi
trong khoảng 200 _ 1000 m, cá biệt có đứt gãy ở rìa Nam và Đông Nam bồn
trũng biên độ đứt gãy đạt tới 2000m.
_Trong thời kì của loạt D biên độ đứt gãy có tăng đôi chút, phổ biến từ
600 _ 800 m, có nơi đạt đến 1600m.
_Trong thời kì của loạt C biên độ đứt gãy giảm xuống rõ rệt trong
khoảng 100 _ 200 m.
2.Hệ thống đứt gãy theo hướng Đông Tây và Á Đông Tây
_Phát triển ở khu vực lô 16, 17 vùng các cấu tạo Tam Đảo, Bà Đen, Ba
Vì và một số phân bố ở phía Nam cấu tạo Cửu Long và cấu tạo 15G.
_Trong thời kì loạt E biên độ đứt gãy đạt từ 1000 _ 1200 m (phía Nam
cấu tạo Cửu Long) phổ biến là các đứt gãy có biên độ từ 200 _ 400 m.
_Trong thời kì loạt D biên độ đứt gãy tăng lên đến 1600 m, đứt gãy có
biên độ phổ biến từ 400 _ 600 m.
_Trong thời kì của loạt C cũng có nhiều đứt gãy biên độ lớn đạt từ 800
_ 1000m, phổ biến từ 200 _ 400 m.
_Trong thời kì loạt R hệ thống đứt gãy giảm nhiều, chỉ còn một số biểu
hiện hoạt động của hệ này ở khu vực Bắc Bạch Hổ _ Nam Cửu Long.
Trang10
Đông Bắc _ Tây Nam phát triển tập trung ở lô 15 đới nâng Rồng, Bạch Hổ.
Các đứt gãy khác hướng phân bố tản mạn, chiều dài và biên độ không lớn.
Tóm lại qua nghiên cứu hoạt động của các hệ thống đứt gãy trong bồn
trũng Cửu Long thấy có những đặc điểm nổi bật sau:
Một số đứt gãy hoạt động trong thời kì của loạt E có biên độ trung bình
sau đó tắt dần trong thời kì của loạt D đến loạt C thì chính những đứt gãy này
tạo nên những hố sụt hẹp. Các trầm tích trong thời kì đầu tiên đã lấp đầy đòa
hình có sẵn này. Sau đó một số đứt gãy này hoạt động đồng trầm tích với loạt
trầm tích trẻ hơn, chủ yếu là loạt D. Làm cho biên độ của đứt gãy rất lớn,
nhiều nơi đạt đến 1200m như hệ thống đứt gãy số 1,4 trên cấu tạo Bạch Hổ
(theo kí hiệu Vietsopetro) hoặc ở Đông Bắc bồn trũng Cửu Long.
Hệ thống đứt gãy hướng Đông Bắc _ Tây Nam có thể tồn tại và phát
triển trước hệ thống đứt gãy Đông Tây.
Trong thời kì đầu của loạt E là thời kì lấp đầy đại hình sẵn có của trầm
tích. Sau đó nữa phần Đông _ Đông Bắc của bồn trũng Cửu Long (bao gồm
vòm Bắc cấu tạo Bạch Hổ) lún chìm rất nhanh để trầm đọng các trầm tích của
phần trên của loạt E (phần này không có mặt hoặc có khá mỏng ở vòm Nam
Bạch Hổ). Cuối thời kì của loạt E có vài chỗ nâng đòa phương và bóc mòn của
loạt E. Sau đó hầu như bồn trũng lún chìm tương đối mạnh hoặc do mực nước
biển dâng cao, tạo môi trường biển trong thời kì của loạt D với đặc trưng là
sét Oligocen (của loạt C). Phần Đông Bắc bồn trũng nâng lên mạnh (với độ
dày trầm tích 50m) trong khi đó phần Tây Nam bồn trũng giữa cấu tạo Bạch
Hổ, Tam Đảo, Ba Vì lún chìm tạo nên trầm tích dày hơn (1200m). Như vậy
vào cuối thời kì Oligocen tâm bồn trũng đã bò dòch chuyển về phía Tây Nam.
Trong thời kì Miocen trung và Miocen thượng bồn trũng oằn võng là chủ yếu,
sau đó toàn bồn trũng nghiêng về phía Đông tạo ra các tập trầm tích có tướng
thềm lục đòa.
Trang12
GVHD :Th.S BÙI THỊ LUẬN Khoá luận tốt nghiệp
II. HOẠT ĐỘNG UỐN NẾP
Theo Nguyễn Tiến Long và Sung Jin Chang, lòch sử kiến tạo từ Jura-
Hiện tại chia làm 3 giai đoạn:
Giai đoạn hút chìm từ Jura muộn_ Kreta sớm
Giai đoạn chuyển tiếp từ Kreta muộn _ Paleoxen.
Giai đoạn căng giãn khu vực từ Eoxen tới hiện tại.
A.GIAI ĐOẠN HÚT CHÌM TỪ JURA MUỘN – KRETA SỚM
Giai đoạn này được đánh dấu bằng xâm nhập chủ yếu diorit th6c
phức hệ Đònh Quán trong miền vỏ lục đòa Paleo-Việt Nam. Thành phần hoá
học vôi kiềm của các xâm nhập này là điển hình cho đới hút chìm có liên
quan đến các quá trình nóng chảy vỏ.Với sự phân bố rộng khắp các đá phun
trào hệ tầng Bảo Lộc, vùng đèo Bảo Lộc là biểu hiện bề mặt đặc trưng của
đới hút chìm. Hệ thống cấu trúc này có thể đối sánh với hệ thống Andes Nam
Mỹ hiện tại thuộc kiểu hút chìm andean (Taylor và Hayes, 1983; Sanders
1999).Vành đai núi cực lớn được hình thành chủ yếu từ các phức hệ xâm nhập
và phun trào hoạt động trong thời kì lâu dài. Các cấu trúc nén ép thường được
phát triển cùng đứt gãy, khe nứt (hệ thống đứt gãy hướng Bắc-Nam và Đông
–Tây cũng có thể được thành tạo trong pha này).
B.GIAI ĐOẠN CHUYỂN TIẾP KERTA MUỘN-PALEOXEN.
B.1Kreta muộn
Các đá Granit, Microgranit và Granit poocphia giàu Kali của phức hệ
Đèo Cả, granit 2 Mica của phức hệ Cà Ná cùng với các đai mạch, phun trào
Riolit của hệ tầng Đơn Dương và hệ tầng Nha Trang đã phát triển rộng rãi.
Hoạt động macma thành phần kiềm chiếm ưu thế, cùng với sự giảm đáng kể
hoạt động macma vôi-kiềm chứng tỏ hoạt động hút chìm đã ngừng. Vào cuối
pha này, do vỏ trái đất có sức bền kém nên phần trung tâm đai núi bắt đầu sụt
Trang14
GVHD :Th.S BÙI THỊ LUẬN Khoá luận tốt nghiệp
lún mạnh với sự thành tạo các đứt gãy căng giãn và các đứt gãy trượt bằng và
tạo nên các cao nguyên trong đai núi. Hướng của các hệ thống đứt gãy này
khó có thể dự đoán được (Sanders, 1999).
Độ với lục đòa u_Á (Tapponnier và nnk,1982). Các quá trình này gợi ý rằng
các hệ thống đứt gãy trong các bể trầm tích có hướng giữa Đông Bắc và
Đông-Tây. Các đứt gãy trượt bằng thường đồng hành với kiến tạo căng giãn
và chúng có thể hoạt động như những đứt gãy biến dạng được đònh hướng
vuông góc với các đứt gãy căng giãn.
C2.Oligoxen
Trong thời kì Oligoxen, đới hút chìm phía Nam biển Đông cổ tiếp tục
hoạt động. Ứng suất căng giãn ở phía trước đới hút chìm làm đáy biển ở bể
biển Đông cổ tách giãn theo hướng Bắc-Nam và tạo nên biển Đông (bắt đầu
từ 32tr.n trước). Trục tách giãn đáy biển lấn dần về phía Tây Nam và thay đổi
hướng từ Đông-Tây sang Tây Nam – Đông Bắc. Khối Đông Nam Á tiếp tục bò
đẩy trụt xuống Đông Nam và tiếp tục xoay phải. Các quá trình này đã làm
tăng cường các hoạt động tách giãn và đứt gãy ở bồn trũng Cửu Long.
Vào cuối Oligoxen, phần Bắc của bồn trũng bò nén ép và gây nên
nghòch đảo đòa phương trong các trầm tích Oligoxen cùng với một số cấu tạo
lồi hình hoa. Nguyên nhân của các quá trình này còn chưa được làm sáng tỏ
nhưng có lẽ do sự phát triển lấn xuống Tây Nam của trục tách giãn đáy biển
Đông vào thời gian này.
C3.Mioxen sớm
Quá trình tách giãn đáy biển tiếp tục tạo nên lớp vỏ mới ở biển Đông.
Trong khi đó phần vỏ biển Đông ở phía Nam lại bò hút chìm dưới cung đảo
Kalimantan. Quá trình tách giãn đáy biển theo phương Tây Bắc – Đông Nam
đã nhanh chóng mở rộng xuống Tây Nam và chấm dứt vào cuối Mioxen sớm
do bể biển Đông cổ ngừng hoạt động. Các quá trình này đã gây ra các hoạt
Trang16
GVHD :Th.S BÙI THỊ LUẬN Khoá luận tốt nghiệp
động núi lửa ở một số nơi, tái căng giãn, lún chìm ở bồn trũng Cửu Long làm
cho biển tiến mạnh.
C4.Mioxen giữa
Lún chìm khu vực tăng cường và biển đã ảnh hưởng rộng lớn tới các
kích thước hạt thay đổi từ 0.1 0.2_3.6 4.2mm. Hầu hết các hạt Plagioclas
đều có cấu tạo song tinh đa hợp nhưng số hiệu Plagioclas chỉ có thể đo được ở
một, hai tiết diện vì hầu hết các hạt bò biến đổi mạnh(xerixit hóa khoảng
60_70%) (xem ảnh 1), có hạt bò biến đổi gần như hoàn toàn. Thành phần
Plagioclas được xác đònh theo luật song tinh anbit trên tiết diện thẳng góc với
mặt (010) với góc tắt đối xứng cực đại Np^(010)=16
0
số hiệu Plagioclas
N
0
=
Trang18
GVHD :Th.S BÙI THỊ LUẬN Khoá luận tốt nghiệp
28_là Oligoclas. Ngoài ra một số hạt Plagioclas vừa bò Xerixit hóa còn bò
Muscovit hoá và bò nứt nẻ nhiều (xem ảnh 2).
Một số hạt Plagioclas bò thạch anh thế hệ hai thay thế ở phần trung
tâm hạt. Các hạt Plagioclas, Fenpat, Thạch Anh mọc xen vào nhau tạo nên
kiến trúc cài răng lược. Hầu hết Plagioclas trong các mẫu đều bò nứt nẻ nhiều.
Ở một số mẫu thì Plagioclas có mạch Canxit cắt ngang qua.(xem ảnh 3)
nh 1 : đá Granit_biotit
Plagioclas bò biến đổi Xerixit, Kaolanh hoá
Số hiệu lát mỏng: 3803_ chụp dưới 2N+_ 3,34
Trang19
GVHD :Th.S BÙI THỊ LUẬN Khoá luận tốt nghiệp
nh 2 : đá Granit_biotit
Plagioclas bò muscovit hóa, nứt nẻ
Số hiệu lát mỏng: 3803_ chụp dưới 2N+_3,34
nh 3: đá Granit_biotit
Mạch Canxit xuyên cắt Plagioclas
mó, ranh giới các hạt không rõ ràng. Kích thước các hạt này nhỏ hơn nhiều so
với thạch anh thế hệ một. Hầu hết thạch anh thế hệ hai đều được hình thành ở
trung tâm các hạt Plagioclas bằng cách thay thế Plagioclas.
Trang22
GVHD :Th.S BÙI THỊ LUẬN Khoá luận tốt nghiệp
nh 6 : Granit
Mạch thạch anh xuyên cắt Plagioclas
Số hiệu lát mỏng : 3687,9_ chụp dưới 2N+ 3,34
BIOTIT(4_8%)
Biotit có dạng hình tấm, que, các hạt bò uốn cong một cách mạnh mẽ.
Có hạt bò răng cưa hai đầu. Có hạt bò nứt do hoạt động kiến tạo của khu vực
xảy ra rất mạnh mẽ (xem hình 9 và 10). Kích thước hạt trung bình từ 0.1 0.2_
3.3 3.5mm. Hầu hết các hạt biotit bò biến đổi thứ sinh mạnh : bò Clorit hóa
khoảng 30_40%, bên cạnh đó còn bò epidot hoá (xem ảnh 7 và 8).
Các hạt biotit có màu nâu đỏ dưới một nicol và có đa sắc khá mạnh với
công thức đa sắc Ng (nâu đậm) >Np (nâu nhạt). Hầu hết các hạt biotit đều có
khoáng vật quặng phân bố kèm theo.
Trang23
GVHD :Th.S BÙI THỊ LUẬN Khoá luận tốt nghiệp
nh 7 : Granit
Biotit bò epidot hóa, clorit hóa
Số hiệu lát mỏng : 3687,9_ chụp dưới 2N+ 3,34
nh 8: Granit
Biotit bò epidot hoá, granit hóa
Số hiệu lát mỏng : 3687,9_ chụp dưới 1N- 3,34
Trang24
GVHD :Th.S BÙI THỊ LUẬN Khoá luận tốt nghiệp
nh 9 : Granit_Biotit
Cụm biotit bò nứt đi cùng với tập hợp quặng sphen kém tự hình