Về gia đình truyền thống Việt Nam với ảnh hưởng của Nho giáo - Pdf 21

Về gia đình truyền thống Việt Nam với ảnh hưởng của
Nho giáo
Sau nhiều năm hầu như mọi suy nghĩ đều hướng vào quốc hữu hóa, tập thể hóa, xã hội
hóa, gần đây vấn đề gia đình dần dần nổi lên, thu hút sự chú ý của nhiều người. Có lý do
trước mắt là nhiều hiện tượng tích cực trong xã hội liên quan đến thanh thiếu niên, nếu
cuộc sống gia đình yên vui hơn thì đã có thể ngăn chặn bớt. Việc phát triển kinh tế gia
đình trong nền kinh tế nhiều thành nhân cũng thúc đẩy mọi người quan tâm đến gia đình,
lo tổ chức lại gia đình để thích ứng với sự đổi mới cách làm ăn trong xã hội. Sự quan tâm
của nhiều người cũng còn vì một lý do nhằm mục đích lâu dài hơn. Chế độ xã hội chủ
nghĩa đã hình thành đến ba thập kỷ nhưng tổ chức xã hội chưa thành nề nếp hài hòa, ổn
định. Một khâu yếu trong đó là gia đình bị xáo trộn, thành tạm bợ, các thành viên không
tìm được ở đó một tổ ấm để nghỉ ngơi, để có thêm sự thư thái, sự phấn chấn, điều mà gia
đình truyền thống trước đây đã đưa lại.
Nghiên cứu kỹ gia đình truyền thống để suy nghĩ về gia đình mới là một hướng cần quan
tâm trong nghiên cứu xã hội học. Gia đình truyền thống trước đây chịu ảnh hưởng nhiều
ở Nho giáo, một số trong đó – loại gia đình nề nếp hay gia đình lễ nghĩa – được xây dựng
theo tinh thần Nho giáo. Vì lẽ đó nói đến gia đình truyềnthống Việt Nam không thể bỏ
qua ảnh hưởng Nho giáo trong đó.

I. GIA ĐÌNH VIỆT NAM VÀ ẢNH HƯỞNG NHO GIÁO
Gia đình là một tổ chức rất xa xưa, bắt nguồn từ quan hệ nam nữ, từ việc sinh đẻ con cái
rất tự nhiên, về sau trong lịch sử mới thay đổi thích ứng với phương thức sản xuất, với cơ
chế chính trị-xã hội, với nền văn hóa… Cho nên Việt Nam là vùng đất Đông Nam Á, từ
trước đã là vùng sông hồ, cấy lúa nước chịu ảnh hưởng văn minh Nam Á. Văn minh
Trung Hoa mà phần tiêu biểu là tư tưởng Nho giáo là cái đến sau. Tuy đến sau nhưng
sớm thành chính thống. Nho giáo gây ảnh hưởng theo cách toàn bộ từ trên xuống tức là
bằng con đường Nhà nước đi vào xã hội mà đi vào từng gia đình. Ảnh hưởng rất sâu sắc
vì không chỉ thông qua việc du nhập một thể chế chính trị, những hình thức văn hóa mà
qua cả một cơ chế kinh tế, một quan hệ sản xuất. Trải qua một ngàn năm Bắc thuộc và cả
mười thế kỷ độc lập, nhất là từ thế kỷ XV về sau cho mãi đến thế kỷ XIX. Nho giáo được
truyền bá liên tục, ngày càng thấm sâu vào cuộc sống càng ảnh hưởng nhiều đến tổ chức

cai trị dựa vào bộ máy quan lai đã ra đời sớm, không đợi trải qua một quá trình dài từ chế
độ chiếm hữu nô lệ và phong kiến phân quyền. Thân phận “thần dân”, nghĩa vụ cống nạp
tô thuế cho chính quyền thống nhất không đề cao thành nguyên tắc quyền tư hữu, không
làm yếu cuộc sống cộng đồng, và ý thức về sở hữu công cộng.

Làng đã từ là một công xã chuyển thành đơn vị hành chính của nhà nước nhưng lại giữ
trong mình nó sở hữu công cộng, thiết chế và tập tục cũ thành một thế giới riêng. Tuy đã
gia nhập vào cuộc sống chung của cả nước nhưng làng xã vẫn là những thực thể riêng,
tạo thành biên giới cho hoạt động của những gia đình, những con người trong đó. Làng
xã vẫn là đơn vị tổ chức đời sống xã hội.
Nho giáo là học thuyết chuộng gốc, nhớ nguồn rất coi trọng việc lấy lòng hiếu thảo
phụng dưỡng cha mẹ và thờ cúng tổ tiên, coi trọng giòng giống, họ hàng. Giữa những
người thân thuộc họ nội và họ ngoại không chỉ có quan hệ tình cảm mà còn có trách
nhiệm với nhau, có những nhiệm vụ chung, có những trách nhiệm liên đới với nhau nữa.
Mỗi người không chỉ có quan hệ với những người trong gia đình: ông bà, cha mẹ, anh chị
em, vợ chồng, con cái mà còn có những quan hệ với những người trong họ: chú, bác, cô,
cậu, dì và con cháu của họ. Họ được sắp xếp có thứ bậc trên dưới đến chín đời: từ bản
thân cho đến bốn đời ở phía trên là cha, ông, cố, can và bốn đời ở phía dưới là con, cháu
chắt, chít. Đó là thể chế cửu tộc chú ý phân biệt cả ngành trưởng, ngành thứ, ngành trên,
ngành dưới, tức là con cháu của người anh hay người em trong những đời trước. Với
những bà con gần gũi “trong nội thân” như vậy có những qui định theo lễ hay những nề
nếp theo tục lệ về đi lại thăm viếng vào những dịp nhất định, về thời gian để tang, trách
nhiệm dự cúng tế, giỗ chạp và kèm theo là những trách nhiệm quan tâm đến nhau, giúp
đỡ lẫn nhau. Trách nhiệm như vậy không chỉ là với những người trong họ nội mà cả với
những người họ ngoại: họ đằng vợ, họ đằng mẹ, họ đằng bà…Thế làm mỗi người đều
nằm trong một màng lưới rất phức tạp về họ hàng; không nắm vững phổ hệ đằng nội,
đằng ngoại thì không thể xưng hô và cư xử cho đúng phép tắc được. Vì nhiệm vụ thờ
cúng tổ tiên, giữ gìn phần mộ, vì cùng nhau cầy cấy ruộng hương hỏa, tự điền, vì phải tìm
kiếm sự tương trợ của bà con, họ hàng nên người cùng họ thường sống quây quần với
nhau và giữa họ cùng hình thành một thứ tổ chức không chỉ có ý nghĩa đối nội mà còn có

yêu, nuôi nấng và dạy dỗ mà dưới phải “hiếu” tức là nghe lời, phụng dưỡng và biết ơn.
Người cầm quyền phải coi trách nhiệm hàng đầu là giáo hóa, trước hết là làm cho mọi
người biết hiểu dễ. Như thế là đòn nhân luân, hậu phong tục, làmcho con người từ chỗ
trong gia đình biết kính nhường cha anh mà vào xã hội cũng biết kính trên nhường dưới
giữ hòa mục, không tranh giành, không ngộ nghịch. Đó là cách tề gia để trị quốc. Biện
pháp đó không chỉ nhằm làm cho mọi gia đình êm ấm để xã hội thanh bình mà còn nhằm
xây dựng một xã hội bình trị theo mẫu của gia đình êm ấm.
Nho giáo là một học thuyết căn cứ vào gia đình để hình dung thế giới, theo mô hình gia
đình êm ấm để xây dựng xã hội lý tưởng, Con người do đó nhìn chung là con người của
gia đình. Từ thiên tử cho đến dân thường, ai ai cũng lấy tu thân làm gốc (Đại học); việc tu
dưỡng đạo đức của mọi người căn bản là rèn luyện phẩm chất của con người gia đình đó.
Gia đình được Nho giáo đặc biệt chú ý không chỉ vì nó quan tâm đến việc xây dựng gia
đình, đề cao vai trò của gia đình trong đời sống xã hội mà còn vì nó chủ trương tổ chức
nhà nước và xã hội theo mẫu gia đình.

Gia đình truyền thống ở Việt Nam chịu ảnh hưởng Nho giáo sâu sắc, nhưng tìm ảnh
hưởng đó không nên chỉ căn cứ vào lý thuyết Nho giáo mà nên nhìn gia đình trong thể
chế chính trị-kinh tê xã hội tổ chức và quản lý theo Nho giáo, bị điều kiện hóa trong thể
chế đó mà vận động phát triển. Theo chúng tôi những điều kiện đó là:
- Chế độ chuyên chế với quyền vương hữu, quyền thần dân hóa toàn thể với nền kinh tế
cống nạp.
- Trật tự trên dưới theo phận vị.
- Tổ chức làng-họ
- Cuộc sống nông thôn và cung đình.
Sự giáo hóa sâu rộng về trách nhiệm với vua với nước, về tình nghĩa gia đình họ hàng, về
lý tưởng sống êm ấm trên kính dưới nhường, về quyền người đàn ông người cha, người
chồng.
Những điều kiện thực tế đó qui định việc hình thành các loại gia đình, quan niệm về vị trí
và chức năng xã hội, về các quan hệ, về cách làm ăn, cách sống, cách xây dựng các loại
gia đình.

về quyền làm dân làng, dân nước không phải là dân lang thang, du thủ du thực, ngụ cư
không có quê hương.
Nhà nước không coi mỗi người dân là độc lập mà coi nó là người của làng này làng nọ,
gánh vác việc chung theo làng. Cho nên vào làng – ghi tên vào sổ hộ khẩu của làng –
nhận phần đất của làng là việc quan trọng. Nhiều người phải cạy cục, chịu tốn kém để
giành giật được quyền đóng góp với làng nước đó. Công điền chi phối việc tổ chức gia
đình thành hộ sản xuất và gắn bó họ với làng xã. Con người phụ thuộc vào hộ, vào
làngxã. Quan hệ giữa gia đình và láng xã không đơn giản chỉ là quan hệ với nơi cư trú,
với một đơn vị hành chánh.
Sản phẩm làm ra một phần để lại cho người cày ruộng, một phần cho làng xã và một
phần nộp thuế. Thuế cho nhà nước cũng là tô cho nhà vua. Nhà vua dùng một phần phân
phối cho quan lại và binh lính. Như thế là người sản xuất hưởng theo lao động còn quan
lại và binh lính hưởng ơn vua lộc nước. Đó là nội dung “dân được cấp ruộng, quan được
cấp lộc” theo trách nhiệm nuôi dưỡng thần dân của ông vua “lấy thiên hạ làm nhà”. Sự
phân biệt quan dân về mặt nhà nước dẫn đến sự phân biệt hộ nhà quan, hộ nhà dân, gia
đình nhà quan, gia đình nhà dân, phân biệt không chỉ trong nguồn thu nhập, trong hưởng
thụ. Trong xã hội phận vị do trên sắp đặt, trật tự trên dưới không căn cứ vào sở hữu của
cải mà vào danh vị. Theo danh, theo vị mà mọi người có lợi, được phân chia ruộng đất
hay bổng lộc như trên đã nói. Ngoài ra, cũng căn cứ vào danh vào vị mà mọi người có
quyền được chọn kiểu nhà, được dùng mầu quần áo, được đi đứng, ăn nói, giữ chỗ ngồi
nơi công cộng với những nghi trượng với những điệu thức khác biệt nhau. Gia đình nhà
quan và gia đình nhà dân do đó tổ chức khác nhau, sống khác nhau vì “quan dân lễ cách”.
Trong xã hội trước đây thuộc hộ nhà dân không chỉ có những gia đình nông dân, thợ thủ
công. Bộ máy quan lại được tuyển theo khoa cử. Trong xã hội có một tầng lớp người
không chọn con đường sản xuất làm ăn mà chọn con đường công danh: suốt đời đi học
mong thi đỗ để làm quan. Đó là tầng lớp sĩ phu. Sĩ phu chưa phải là quan để được phân
phối tô thuế, hưởng bổng lộc. Nhưng đó là lớp dân được ưu đãi. Triều đình đã có chính
sách nuôi kẻ sĩ, trọng kẻ sĩ Họ được tổ chức sĩ hội, cày học điền, tế Khổng Tử; học điền
được miễn tô thuế và bản thân họ được miễn dao dịch, tức là đi phu, đi xâu. Khi đã thi
đỗ, nếu không làm quan, làng xã cũng trích ruộng công làm ruộng biếu không phải nộp

Hiến, Hội An, Gia Định, nhưng thực tế đó hình như cũng chưa tác động sâu đến tận gia
đình truyền thống.
Từ thực tế phân tích ở trên ta có thể phân biệt gia đình truyền thống Việt Nam thành hai
loại lớn: quan hộ và dân hộ. Quan hộ là những gia đình có phận vị cao sống bằng danh vị,
bổng lộc. Tiêu biểu cho loại đó là gia đình quan lại, Hoàng gia và gia đình quí tộc đã là
loại đặc biệt. Dân hộ là những người thuộc phận vị thấp song theo các nghề khác nhau.
Trong xã hội trước đây nông dân và nhà nho có vai trò xã hội lớn nhất, gia đình nông dân
và gia đình nhà nho cũng là tiểu biểu nhất. Gia đình nông dân đặc biệt là gia đình trung
nông tiêu biểu cho cách tổ chức làm ăn sản xuất nông nghiệp nhằm tự túc và đóng góp
cho làng nước. Gia đình nhà nho tiêu biểu cho cách dùng lễ nghĩa xây dựng nề nếp trong
nhà và ăn ở với họ hàng làng xóm.
Gia đình nông dân
Ruộng đất từng làng xã chỉ có ít, công điền lại càng ít; quân cấp – chia đều cho mọi dân
làng (thực ra là có phân biệt giữa các hạng dân, nhưng cách biệt không thật nhiều) – làm
cho mọi người dính đến sản xuất nông nghiệp mà thiếu ruộng cày. Trong làng xã tuyệt
đại bộ phận là những hộ nông dân nghèo. Mỗi hộ để tự nuôi sống và đóng góp cho làng
nước, thực hiện nhiệm vụ cống nạp tô thuế, đều phải làm thêm công việc khác. Hoặc là
chăn nuôi, làm vườn, hoặc là làm thủ công nghiệp như dệt vải, đan lát.Cũng có người
buôn vặt thêm ở chợ, có người phải làm thuê hay săn bắt, hái lượm ở núi rừng hay sông
hồ. Đời sống của những gia đình đó hết sức gieo neo, nhà cửa rách nát, ăn mặc thiếu
thốn. Có đời sống khá giả trong làng xã là những địa chủ, phú nông và trung nông. Loại
này chỉ chiếm rất ít trong dân làng. Ngoài phần ruộng công họ có thêm ruộng tư, hoặc do
cha ông để lại hoặc họ tự khai khẩn hoặc họ mua được. Pháp luật cho phép khai khẩn đất
hoang và mua bán ruộng đất (trừ công điền) nhưng ruộng đất trong làng ít nên giá đắt và
ít người chịu bán nên có thêm 1000 mét vuông là rất khó khăn. Ba loại gia đình vừa kể có
ruộng đất đủ cày cấy hay thừa một ít thuê người làm hay cho người làm thuê nộp tô. Dầu
là trung nông, phú nông hay địa chủ kể cả những địa chủ có nhiều ruộng đất, thì sản xuất
nông nghiệp của họ cũng mang tính chất riêng lẻ chứ không hợp tác, tự túc chứ không
sản xuất hàng hóa trao đổi. Trong việc làm vườn, trồng cây, chăn nuôi, nuôi tằm dệt
vải… họ đều nhắm trước họ cung cấp đủ cho gia đình, thừa mới đem bán. Các gia đình

nhập từ nhiều nguồn mà sung túc.
Công việc của một hộ nông dân, một gia đình trung nông nhiều nhưng tương đối giản
đơn. Nhiệm vụ chính là sắp xếp lực lượng lao động trong gia đình để sản xuất. Trong xã
hội gia đình đó không cần đến nhiều quan hệ phức tạp. Họ có thể tự túc tự lực, không có
nhu cầu được họ hàng làng xóm đùm bọc tương trợ như các gia đình thiếu thốn. Cho nên
đối ngoại họ chỉ cần đóng góp đầy đủ vào việc làng việc nước và cư xử biết điều không
gây xích mích ác cảm là được. Làng xóm đối với những gia đình làm ăn chăm chỉ cũng
chỉ có quý mến. Họ chưa là giàu, chưa có thể lực để có nhiều khả năng giúp đỡ bà con
xóm giềng để có những quan hệ rộng rãi phức tạp. Điều kiện phải có ở loại gia đình “cần
kiệm khởi gia” – lấy siêng năng và tiết kiệm mà làm cho nhà nên nổi – như vậy chủ yếu
là ở nội bộ: cả nhà hòa thuận, mọi người nghe theo người chủ gia đình, gắn bó với nhau
để làm việc. Thành viên ở các gia đình đó là những nông dân lao động chất phác nên
thường cũng không có đòi hỏi gì cao xa đặc biệt nên cũng dễ hòa hợp trong quan hệ cha-
con, anh-em, vợ-chồng nếu có va chạm thì cũng thường chỉ do tị nạnh về công việc nặng
nhẹ về hưởng thụ ít nhiều là những điều mà người gia trưởng gương mẫu và công minh
thường tránh được và biết cách giải quyết không khó khăn. Làm chủ gia đình điều hành
việc làm ăn ở một hộ như vậy người gia trưởng tất phải tích cực tháo vát, nhưng phần lớn
làm nghề cổ truyền dựa vào kinh nghiệm, sức khỏe, sự khéo tay nên không đòi hỏi tài
kinh doanh năng động mà đòi hỏi sự am hiểu công việc, giàu kinh nghiệm và tài sắp xếp.
Cái chính để làm ăn nên nổi vẫn là cần kiệm nên người gia trưởng gương mẫu và thúc ép
con cháu làm việc cật lực và ăn tiêu dè xẻn. Nhiều gia đình phú nông, địa chủ làm điều
đó đến mức độc ác.
Gia đình nhà nho
Trong thực tế của nền kinh tế cống nạp (quân cấp công điền nộp tô thuế, phân phối bao
cấp theo phận vị) có loại gia đình sản xuất tự túc, cống nạp như loại gia đình nông dân
vừa nói ở trên mà cũng có loại gia đình sống trông chờ vào sự phân phối bao cấp số tô
thuế đã nộp cho nhà vua. Đó là gia đình quan lại. Gia đình nhà nho chưa được hưởng
bổng lộc vua ban nhưng cũng sống bằng danh vị. Nói cho đúng thì họ sống dựa vào sự ưu
đãi trong trật tự phận vị và chỉ mới ở phạm vi làng xã. Quan lại đã được cấp bổng lộc, tổ
chức gia đình chủ yếu theo hướng để hưởng ơn vua lộc nước, một thứ ân huệ thấm nhuần

hơn vẫn cố làm ra phong lưu để giữ thể thống gia đình.
Nếu gia đình nông dân là tổ chức để thích ứng với kinh tế tự túc, cống nạp thì gia đình
nhà nho là để thích ứng với xã hội phận vị. Tục ngữ nói: “Ruộng bề bề không bằng nghề
cầm tay”: sở hữu không quan trọng bằng nghề nghiệp nhưng nghề nghiệp cũng không
quan trọng bằng danh vị. Gia đình nhà nho là loại không chọn hướng sở hữu, hướng nghề
nghiệp mà chọn hướng danh vị. Nhà nho trong thực tế có thể thành thầy, thành thân sĩ,
thành quan. Gia đình nhà nho vừa mô tả, theo tôi là có ý nghĩa tiêu biểu. Không phải tất
cả nhà nho đều thuộc loại thân sĩ, quan lại sống bằng danh vị bổng lộc; nhưng gia đình
nhà nho với hai loại gia đình vừa kể cũng có nét tương đồng là xây dựng theo tinh thần
Nho giáo. Nho giáo ảnh hưởng sâu đến loại gia đình nhà nho nhưng cũng thấm vào toàn
bộ xã hội, tức là ảnh hưởng đến cả gia đình nông dân ở một số mặt. Cả hai loại gia đình
đó cho ta thấy hình ảnh chung của gia đình truyền thống Việt Nam.
III. GIA ĐÌNH NỀ NẾP VÀ VIỆC DÙNG LỄ NGHĨA ĐỂ LÀM CHO GIA ĐÌNH
HÒA THUẬN
Nho giáo coi trọng nguồn gốc, dòng giống coi gia đình gắn chặt với họ hàng, coi tuyệt tự,
mất dòng giống là tội lỗi với tổ tiên, là sự bất hạnh lớn nhất. Xây dựng gia đình êm ấm
không chỉ là để cho bản thân và các thành viên khác có hạnh phúc mà còn là việc quan
trọng để xây dựng xã hội. Nhà nho nghĩ nếu mình không giúp được gì cho dân cho nước
thì ít nhất cũng giữ được gia đình mình có nề nếp, không “tề gia” được, để cho gia đình
lộn xộn, lục đục là một sự nhục nhã.
Gia đình tập hợp những người cùng giòng máu, cái quý là được đông đúc, đông con,
nhiều cháu. Nhưng gia đình cũng quý ở chỗ có thanh thế cho nên trong nhà cũng tính cả
con nuôi, tôi tớ. Khi là một hộ trong quan hệ với làng nước thì khái niệm gia đình có mở
rộng ra bao gồm cả những quan hệ không máu mủ như vậy. Không chỉ người lao bộc
sống đến hết đời mà cả những người đầy tớ lấy vợ, lấy chồng ra ở riêng vẫn có tình nghĩa
gắn bó với chủ theo một quan hệ gia đình. Gia đình muốn là thịnh vượng thì thường thích
sống quây quần, sống chung nhiều thế hệ. Cho nên trước đây người ta rất tự hào gia đình
đông đúc, bữa ăn nấu bằng nồi to, mâm cơm đông người nhà đông con cháu mà sống hòa
thuận. Xây dựng một gia đình như vậy không chỉ tính đến cuộc sống trước mắt mà còn
phải nghĩ qua năm đời thì con cháu thành một họ nhỏ (tiểu tôn) cần có nhà thờ, ruộng

là ở buồng bếp. Những người phụ nữ thuộc nhà gia giáo thường tránh đứng ngồi ở nhà
thờ, nhà khách. Có tiễn khách thì cũng chỉ ra đến cửa. Tuy thế trong những gia đình như
thế, tay hòm chìa khóa lại ở người đàn bà người chồng giao tất cả tiền nong cho vợ và
không bao giờ kiểm soát sự chi tiêu của vợ. Người đàn bà được coi là nội tướng, là chủ
phụ, tuy về danh nghĩa là làm theo lời chồng, giúp chồng nhưng thực tế thì là người chủ
trì việc nhà. Không ít gia đình người chồng hèn kém thậm chí vô trách nhiệm bỏ mặc mọi
việc cho vợ, nhưng nếu người vợ tỏ ra quyền hành trong tay mình, lấn át chống thì bị chê
cười là không có nề nếp. Đó là tư tưởng nam tôn nữ ty, nam nữ không bình đẳng. Nhưng
quan hệ giữa nam nữ phải hình dung theo quan hệ giữa âm và dương, có chủ có tùng
nhưng không thể thiếu nhau mà phải dựa vào nhau. Một bên sinh một bên dưỡng, một
bên bắt đầu, khởi xướng một bên hoàn thành hỗ trợ cho nhau. Cho nên trong nhà đàn ông
là chủ đàn bà phải thuận tùng nhưng đàn ông phải yêu thương và kính nể vợ. Bên cạnh
người chủ gia đình là đàn ông thì có người chủ phụ (mẹ, vợ hay dâu trưởng) có quyền
hành trong gia đình, quyền hành chủ trì việc giúp đỡ gia trưởng trong công việc bên
trong. Người đàn ông phải kính nể vợ nhưng lại có trách nhiệm dạy vợ mà người dạy thì
có thể mắng chửi, đánh đập và đuổi ra khỏi nhà nữa!
Ba quan hệ cơ bản trong gia đình là cha-con, anh-em và vợ-chồng. Nhưng vì gia đình ở
chung nhiều thế hệ nên quan hệ phức tạp hơn từ cha-con mà có ông cháu và hai ba lớp
cha-con. Vì là đa thê nên từ vợ chồng còn có vợ cả, vợ lẽ, con vợ cả, con vợ lẽ. Con vợ lẽ
không gọi người đẻ ra mình là mẹ mà lại gọi người vợ cả của bố là mẹ. Con vợ lẽ đầu
nhiều tuổi hơn vẫn là em không ngang quyền với con vợ cả. Vì đẻ nhiều nên quan hệ
anh-em thành quan hệ chú, bác với cháu, quan hệ giữa anh em con chú con bác, phân biệt
anh em ruột với anh em con chú con bác, anh em trong họ… Việc quy định trên dưới rõ
ràng và đặt ra nghĩa vụ người dưới phải nghe theo người trên làm cho gia đình có trật tự
và thành tổ chức chặt chẽ. Người trong gia đình phải ăn ở với nhau theo tình ruột thịt quy
định thành những cái nghĩa thiêng liêng: nghĩa cha-con, nghĩa anh-em, nghĩa vợ-chồng
trong đó lại đặc biệt nhấn mạnh hiếu để tức là về quan hệ cha con và anh em. Trong
nhiều sách vở kinh điển và gia huấn người ta cũng nói nhiều về nghĩa vợ chồng, nhất là
vợ đối với chồng nhưng nhiều sách gia huấn lại nhắc nhở người đàn ông phải coi trọng
anh em hơn vợ “Vợ có thể thay đổi được chứ anh em không thể thay đổi được”. Có lẽ đó

hệ xưa nay vẫn được coi là khó khăn: quan hệ mẹ chồng-nàng dâu, quan hệ với em trai và
em gái và quan hệ chị em dâu. Giữa em gái với chị dâu, chị dâu với em dâu thường phát
sinh ra những xung đột nhiều khi dẫn đến cãi cọ, lôi kéo theo cả những người đàn ông
trong gia đình. Người con gái từ khi về nhà chồng cho đến khi thoát khỏi cảnh làm dâu là
một đoạn đời phải chịu đựng, nín nhịn mất tự do.
2. Dùng Tình, Nghĩa và Lễ để xây dựng gia đình
Gia đình nhất là gia đình nhiều thế hệ có lắm quan hệ nên giữ được hòa thuận như mong
muốn tề gia để trị quốc theo lý tưởng Nho giáo là việc rất khó. Trong gia đình, nhiều
chuyện nhỏ nhặt cũng dễ dẫn đến xích mích, xung đột, dễ cãi vã, bất hòa. Cách tề gia
chính là sắp xếp và giải quyết các quan hệ để tránh xung đột bất hòa.
Cách thực hiện là làm cho gia đình có chủ, là trật tự trên dưới phân minh, người dưới
phải nghe theo người trên, không có tình trạng “cá đối bằng đầu”, khòng ai chịu nghe ai.
Nhưng quan hệ trên dưới đó lại là một quan hệ theo tình, nảy sinh từ công ơn sinh thành,
dưỡng dục. Đó là tình cha con, tình anh em. Đó là thứ tình cảm tự nhiên, con người sinh
ra đã có. Mạnh Tử nơi sinh ra ai chẳng yêu cha mẹ, ai chẳng kính anh, theo anh và đó là
mầm mống của cái Thiện trong mọi người. Người ta yêu cha mẹ và kính anh không phải
mưu cầu một việc lợi lộc gì cả. Giữa cha con, anh em yêu thương nhau, giúp đỡ nhau
không những không tính toán mà cũng không suy xét theo sự vừa phải, sự tương ứng.
Giữa cha con, anh em chỉ có thương yêu và không bao giờ là quá cả. Ở đây là tình chứ
không phải là lý, không phải là chỗ của công bằng, sòng phẳng. Vì một lý do nào đó cha
có thể ghét con, đối xử không công bằng với con nhưng con không phải vì thế mà không
yêu cha mẹ. Theo tình cha con, theo đạo hiếu, người con không phán xét hành vi cha mẹ
theo lẽ phải, khi cha mẹ làm sai cũng không đứng về phía lẽ phải để lên án, để chống lại.
Trong trường hợp đó người con phải hết sức khuyên ngăn, nhưng nếu cha mẹ không chịu
nghe thì con phải làm theo ý cha mẹ. Đối với cha mẹ, người con phải hiếu tức là hết lòng
kính yêu, chiều chuộng, vì lòng biết ơn sinh thành mà săn sóc tỉ mỉ chu đáo. Còn đối với
con, cha mẹ phải từ, tức là yêu thương, chăm sóc, dạy dỗ. Đó là quan hệ trên dưới nhưng
vì hai bên hết lòng vì nhau và ân tình sâu nặng nên sự cách biệt trên dưới không lộ ra. Từ
và hiếu cũng là mẫu mực cho tình cảm trên dưới giữa anh và em, giữa chồng và vợ.
Người trong nhà có điều sai thì “đóng cửa bảo nhau” chứ không đem ra nói với người

dung, công, ngôn, hạnh. Nữ dung là dạy trau dồi vẻ đẹp từ dáng đi đứng, cách ăn mặc
đến cách trang điểm làm sao cho gọn gàng, sạch sẽ, nghiêm chỉnh đi đứng khoan thai, vẻ
mặt dịu dàng, tươi cười, ăn mặc trang nhã… Nữ công dạy cách vá may, làm các công
việc nội trợ, làm cỗ bàn cúng tế, tiếp khách… Nữ ngôn dạy cách ăn nói, ứng xử với mọi
người, tránh những lời thô tục, chua ngoa, đanh đá làm bà con, làng nước khó chịu, biết
thưa gửi, ứng đối lịch sự, khôn khéo. Nữ hạnh nói về đạo đức, trước hết là đức tính hiền
từ, rộng rãi, biết thương người, giúp đỡ người, không cay nghiệt, độc ác, không kiêu sa,
ghen tuông. Phẩm chất quan trọng của người đàn bà, theo các nhà nho đó, trước hết là
hiền hòa, tế nhị. Cho nên cả những phẩm chất rất quý ở người đàn ông như sắc sảo,
cương trực thì ở đàn bà cũng không phải là tốt. Đó là công phu chuẩn bị cho con gái làm
vợ, làm mẹ lo việc gia đình. “Đức hiền tại mẫu” con gái hiền đức là do người mẹ. Người
ta nhìn người mẹ mà đánh giá con gái, mà khi chọn dâu người ta cũng chọn người con gái
có khả năng làm mẹ tốt. Trong hôn nhân người ta thường quan tâm “môn đăng hộ đối”
tức là gia thế hai bên ngang nhau. Nhưng tất nhiên người ta quan tâm hơn đến bản thân
người con gái. Người ta cũng cân nhắc về danh giá, tài sản, sắc đẹp nhưng những cái đó
không quan trọng bằng “phúc” và “đức” tức là những người có đức hạnh con nhà hiền
lành, cha ông trước không độc ác, không gây ra tội ác vì tin rằng người hiền lành sẽ có
phúc, người độc ác sẽ có tội, mà phúc hay tội để lại cho con cháu. Người ta cũng không
thích những người vụng; những người chậm làm ăn kém nhanh nhẹn khéo léo nhưng
người ta lại ngại ngần hơn đối với những người kiêu kỳ, hay ghen tuông, khắc nghiệt, ăn
nói đanh đá, chua ngoa. Con dâu là người sẽ sinh con đẻ cháu nối dài giòng giống nên
ảnh hưởng quyết định đến việc làm cho gia đình tốt hay xấu về sau. Được coi là gia đình
tốt hay có phúc là những gia đình đông con cháu, có của, có danh vọng, nhiều người sống
lâu, trong nhà hòa thuận và sống hiền lành phúc đức, con cháu học hành nên người.
Những hiện tượng xấu bị coi là dấu hiệu gia đình suy vong là trong nhà có người cờ bạc
rượu chè, độc ác, phải tù tội, có đàn bà ngoại tình, có con bất hiếu, anh em bất hòa cãi
lộn nhau… Có con dâu hư, con dâu đoảng, không biết làm ăn, không biết cư xử làm mất
lòng bà con láng giềng cũng coi là nguy cơ suy thoái.

Nguyên tắc xây dựng gia đình nề nếp là nam tôn nữ ty nhưng trong thực tế thì cả trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status