Tiểu luận: Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng xuất khẩu tôm - Pdf 21


TRƯỜNG ………………….
KHOA……………………….

[\[\
TIỂU LUẬN
Đề tài: Thực trạng và giải pháp nâng cao
chất lượng xuất khẩu tôm
Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng
xuất khẩu tôm
PHẦN I
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGÀNH THỦY SẢN VÀ MẶT HÀNG
TÔM XUẤT KHẨU
I. Vai trò của ngành thủy sản trong nền kinh tế quốc dân.
1. Trớc đây
Trong quá trình gần nửa thế kỉ từ ngày thành lập 1/4/1960 , Ngành thủy sản đã trải qua
nhiều chặng đuờng với những chủ trơng thích hợp với từng thời kì phát triển của đất nớc.
Sau những năm

nhanh tay lới, chắc tay súng

cùng toàn dân tộc vừa xây dựng miền Bắc
Xã Hội Chủ Nghĩa, vừa đấu tranh chống Mỹ cứu nớc, giành độc lập thống nhất tổ quốc;
rồi vợt qua thời kì suy thoái nghiêm trọng, tởng nh đến bờ vực phá sản của những năm
cuối 1970 của thế kỷ truớc, ngành đã có những bớc chuyển mình mạnh mẽ, là một trong

đổi mới cơ chế quản lí kinh tế, hình thành cơ chế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa ở
nớc ta; Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế; Hội nhập ngày càng sâu vào các quan hệ
kinh tế quốc tế…
Thứ hai: Đã đa nghề cá từ một lĩnh vực sản xuất thứ yếu thành một ngành sản xuất
hàng hóa với lực lợng sản xuất tiên tiến, phát huy đợc sức mạnh sáng tạo của nhiều thành
phần kinh tế, đặc biệt là bà con nông ng dân và các doanh nghiệp, hớng mạnh vào Công
nghiệp hóa, Hiện đại hóa. Biến tiềm năng thiên nhiên thành của cải vật chất, phát huy lợi
thế về xuất khẩu, đa nớc ta từ chỗ cha có tên trong danh sách đến vị trí 10 nớc xuất khẩu
thủy sản lớn nhất thế giới, với nhng sản phẩm đứng ở vị trí số một thị truờng nh tôm sú,
cá tra…
Thứ ba: Đóng góp quan trọng trong sự nghiệp xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an ninh
luơng thực, tạo lập công bằng xã hội, nhất là đối với các vùng nông thôn nghèo, vùng sâu,
vùng xa .Tại nhiều địa phơng, thủy sản , đặc biệt là nuôi trồng thủy sản, đã đợc xác định
và mở hớng để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, đảm bảo nguồn sinh
kế và đảm bảo thực phẩm cho dân c, cải thiện vai trò ngời phụ nữ.…
II. Đóng góp của mặt hàng tôm xuất khẩu :
1.Trong thị trờng nội địa:
Trong những năm qua giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản tăng mạnh. Hàng thủy
sản đã xuất khẩu tới 105 nớc và vùng lãnh thổ. Chính nhờ sự tăng trởng mạnh mẽ của
các mặt hàng thủy sản xuất khẩu đã góp phần làm thị trờng nội địa có bớc chuyển dịch.
Mặc dù mức tiêu thụ thủy sản nội địa thấp, song vấn đề tổ chức quản lí thị trờng
thủy sản nội địa; vệ sinh an toàn thực phẩm, chất lợng sản phẩn, bao gói nhãn mác, xuất
sứ hàng hóa đợc thực hiện tốt sẽ là thứ thuốc “kháng sinh” mạnh đảm bảo tính cạnh tranh
hiệu quả của hàng hóa xuất khẩu.
Vì vậy để tăng doanh số xuất khẩu thì thủy sản nội địa là vấn đề cần đợc quan tâm,
thông qua việc tìm hiểu và phân tích nhu cầu trong nớc. Với mỗi mức nhu cầu khác nhau
sẽ có qui mô phát triển, loại hình nuôi trồng thủy sản cho thích hợp.
Hiện nay ở nớc ta tôm là loại thủy sản rất đợc quan tâm cả về cách thức nuôi trồng,
khai thác, chế biến, tiêu thụ và xuất khẩu.
Thị trờng tôm tập trung hầu hết ở các tỉnh có nguồn nớc mặn, nớc nợ hay có thị

I.Những thuận lợi và khó khăn của vấn đề đầu vào.
Ngành xuất khẩu thủy sản nói chung và ngành xuất khẩu tôm nói riêng, vấn đề đầu
vào là một điểm quan trọng quyết định đến khối lợng và số lợng xuất khẩu của thủy sản
nớc ta. Nh vậy chúng ta cần phải nhìn nhận những tác động gây ảnh hởng đến nghề nuôi
tôm ở đây là gì? Những thuận lợi và khó khăn? Để từ đó có phơng hớng phát triển và
biện pháp khắc phục kịp thời.
1.Về thuận lợi:
Đợc đánh giá và phân loại thành 7 loại thuận lợi chính nh sau:
Thứ nhất : Nớc ta là một nớc có nhiều tiềm năng phát triển thủy sản: là một quốc gia
biển và giàu đất ngập nớc với 3 kiểu môi trờng nớc đặc trng là ngọt - lợ và mặn. Đây là
chỗ dựa tạo kế sinh nhai cho ng dân dân đặc biệt thuận lợi cho việc nuôi trồng, khai thác
và chế biến các loại tôm.
Tại hội nghị tổng kết ngành thủy sản năm 2004, thủ tớng chính phủ Phan Văn Khải đã
nhấn mạnh : “Việt Nam có nhiều tiềm năng để phát triển thủy sản và cần phải phát triển
thủy sản nhanh hơn , mạnh hơn Mục tiêu cuối cùng của ngành thủy sản là để phục vụ
lợi ích ngời lao động”.
Thứ hai : Lực lợng lao động ngày càng phát triển và có tâm huyết với nghề. Trớc đây số
hộ nuôi tôm rất ítt và tập trung ở một số tỉnh vùng sông nớc, bây giờ nhận thức của mọi
ngời đã đợc nâng cao, mô hình nuôi tôm sú và một số loại tôm có giá trị kinh tế cao
khác đã đợc mọi nguời quan tâm. Vì vậy nghề nuôi tôm phát triển khắp cả nớc với qui
mô to nhỏ tùy thuộc vào từng hình thức nuôi trồng.
Thứ ba: Các địa phơng đã thay bằng việc thả, nuôi trồng hàng loạt, ban đầu đã học tập
việc duy trì thả giống tôm và một số loài cá kinh tế khác để tái tạo, phát triển nguồn lợi
tạo thu nhập cao.
Thứ t: Bớc đầu đã có sự áp dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật vào các hoạt động: Từ
giống tôm đến hoạt động nuôi trồng , khai thác chế biến.
Đánh giá về hoạt động khoa học công nghệ trong phát triển ngành thủy sản phó thủ
tớng Phạm Gia Khiêm trong bài phát biểu truớc hội nghị toàn quốc về khoa học công nghệ
giai đoạn 2001-2005 của ngành thủy sản ngày 28/3/2005 tại Hà Nội đã nhấn mạnh: “ cùng
với việc nuôi trồng thủy sản, ngành ta đã chú y đến việc áp dụng công nghệ mới , sử dụng

Về các hoạt động nghiên cứu và phát triển nuôi tôm chân trắng đã đợc DOF lên kế hoạch
nh sau:
+Tăng cờng công suất sản xuất tôm chân trắng bố mẹ tại địa phơng.
+ Thiết lập chơng trình cấp giấy chứng nhận cho các trại sản xuất giống.
SPF- giống không mang nguồn bệnh đặc trng. Đây là chơng trình tự nguyện, các trại
giống t nhân có thể xin giấy chứng nhận SPF.
+Các trại giống t nhân đợc phép nhập khẩu tôm chân trắng bố mẹ, phải giữ lại 10% tôm
giống tại 1 khu vực riêng để phát triển đàn giống SPF hoặc SPR- giống kháng đợc nguồn
bệnh đặc trng.
+Lập chơng trình nghiên cứu riêng để phát triển đàn giống SPF hoặc SPR.
+Đánh giá và giám sát môi trờng sống của tôm chân trắng tại các vùng duyên hải.
Tôm chân trắng hiện đang đợc phát triển ở Thái Lan , Mỹ và một số nớc khác. ở Việt
Nam giống tôm này mới đang đợc áp dụng nuôi trồng ở một số khu vực. Vì vậy đây sẽ là
vấn đề mà các nhà quản lí cần phải quan tâm.
2.Về khó khăn:
Bên cạnh những thuận lợi trên làm góp phần tăng sản lợng tôm xuất khẩu nhanh qua các
năm, vấn đề đầu vào của tôm xuất khẩu cũng gặp phải những trở ngại sau:
Một là: Điều kiện khí hậu, môi trờng nớc ta diễn biến rất thất thờng ảnh hởng đến sự
sinh trởng, phát triển của các loại tôm. Đặc biệt có thể có nững biến động lớn làm thiệt
hại đến sức ngời, sức của.
Hai là: Vấn đề sử dụng hóa chất, kháng sinh cấm kỵ làm giảm sút chất lợng của mặt
hàng tôm xuất khẩu. Đây là nguyên nhân một măt do nhận thức còn hạn chế của các ng
dân họ chỉ biết cái lợi trớc mắt của việc tăng năng suất mà không quan tâm đến tác hại của
việc sử dụng không hợp lí các hóa chất, kháng sinh cấm kỵ trong nuôi trồng thủy sản. Bên
cạnh đó là việc quản lí lỏng lẻo của các cấp chính quyền về vấn đề này. Do đó cần phải
quan tâm hơn nữa để đảm bảo chất lợng tôm không chỉ cho mặt hàng tiêu dùng trong nớc
mà cho cả mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế lớn.
Ba là: Thiếu nguyên liệu sản xuất ở một số địa phơng là khó khăn lớn nhất mang tính
phổ biến ở các địa phơng. Tình trạng này bộc lộ trầm trọng nhất ở khu vực phía bắc và
duyên hải miền trung.

Mạng lới trên 50 trại giống tôm càng xanh ở Nam Bộ sản xuất khoảng 60 triệu giống
phục vụ đủ nhu cầu giống của khu vực và hỗ trợ cung cấp cho các địa phơng khác. Đảm
bảo chủ động giống lớn, chất lợng đợc cải thiện tạo điều kiện hình thành và phát triển sản
xuất thủy sản tập trung quy mô lớn, nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội, tăng tính cạnh tranh
của sản phẩm trên thị trờng quốc tế góp phần mở rộng thị trờng và nâng cao giá trị sản
lợng xuất khẩu thủy sản.
Thành công lớn trong nuôi trồng thủy sản nữa là đã ứng dụng các tiến bộ kĩ thuật sinh
học phân tử trong phòng và trị bệnh nguy hiểm đối với các loại tôm cá, sử dụng các chế
phẩm sinh học nhằm tăng khả năng chống chịu bệnh và quản lí chất lợng.
Về nuôi tôm nớc lợ, diện tích năm 1999 là 210.448 ha so với năm 2005 là 604.479 ha
với mức tăng trởng bình quân hàng năm là 31,2% đây là tốc độ tăng trởng rất cao do vấn
đề mở rộng diện tích gặp rất nhiều khó khăn và trở ngại. Đối với nuôi tôm nớc lợ – mặn,
sản lợng năm 1999 là 63.644 tấn. Song dới tác dụng của mở rộng diện tích và tăng cờng
đầu t khoa học kĩ thuật và vốn, sản luợng nuôi trông đã đạt 324.680 tấn gấp 5,1 lần đem lại
hiệu quả kinh tế cao. Các tỉnh Nam Trung Bộ thì diện tích nuôi tôm hùm lồng phát triển
mạnh và bớc đầu đợc nuôi tại Quảng Ninh với kết quả đạt đợc là từ 7.290 (1999) với tổng
sản lợng là 425 tấn tăng lên 43.510 lồng với sản lợng là 4.800 tấn và đã chủ động đợc
giống với 3.061 lồng ơm giống, nuôi tôm hùm là hình thức nuôi có vốn đầu t lớn và mang
lại hiệu quả cao nên một số doanh nghiệp và cá nhân nuôi tôm hùm đã thành công nhanh
chóng với mức doanh thu hàng năm hàng tỷ đồng và có những hộ sau khi trừ chi phí vẫn
còn đạt lợi nhuận tiền tỷ – Tôm càng xanh năm 2005 ớc đạt 6.400 tấn trong đó tập trung
tại các tỉnh Tây Nam Bộ, các tỉnh này có sản lợng là 6.612 tấn (93,9%) thu lợi từ 50 – 80
triệu đồng/ha và năng xuất theo khảo sát tại huyện Cao Lãnh, Tam Nông thì năng suất
trung bình đạt từ 1,2 – 2 tấn/ha và cá biệt có những xã năng suất đạt 2,5 tấn/ha và diện
tích nuôi tôm càng xanh trong những năm tiếp theo thì có thể tăng lên nhiều và năng xuất
tiếp tục tăng với tốc độ cao do trình độ ngời nuôi trồng và khả năng áp dụng khoa học kĩ
thuật ngày càng mạnh và có hiệu quả.
Bảng: Sản lợng tôm nuôi trồng so với tổng sản lợng thủy sản nuôi trồng
Chỉ tiêu
Sản lượng (tấn)

về môi trờng”.
Thực tế đã chứng minh đợc ảnh hởng mạnh mẽ của vấn đề chất lợng của thủy sản đến
khả năng cạnh tranh của xuất khẩu thủy sản Việt Nam. Năm 2002 một số lô hàng thủy sản
của Việt Nam xuất khẩu vào EU không đợc an toàn (nhiễm khuẩn, nhiễm bẩn ) và chất
lợng cha ổn định; Vì thế EU đã có qui định mới cho Việt Nam về lợng d hóa chất: từ 1.5
xuống còn 0.3 phần tỉ. Điều nàykhiến các doanh nghiệp Việt Nam điêu đứng, hàng chục lô
hàng xuất khẩu bị hủy. Nhiều đơn vị bị loại khỏi danh sách xuất khẩu thủy sản vào thị
trờng này, 100% lô hàng bị kiểm tra, nếu phát hiện nhiễm quá mức d lợng hóa chất, EU sẽ
đóng cửa ngay hàng thủy sản Việt Nam, nh họ đã từng làm với Trung Quốc.
Ngoài vấn đề về sử dụng lợng hóa chất quá mức cho phép, các loại tôm thờng mắc một
số bệnh gây ảnh huởng không những đến năng suất mà còn ảnh hởng đến chất lợng tôm
xuất khẩu.
Một ví dụ cụ thể là kí sinh trùng trên tôm hùm bông nuôi lồng, bệnh đỏ thân, đen mang ở
vùng biển Phú Yên, Khánh Hòa.
Thống kê năm 2004 của Sở thủy sản Khánh Hòa, Phú Yên cho biết: sản lợng tôm hùm
nuôi lồng của tỉnh Khánh Hòa là 1655 tấn, chiếm 70,36% sản lợng tôm hùm cả nớc; Tỉnh
Phú Yên 647 tấn, chiếm 27,51% .
Tuy nhiên, hiện tợng tôm hùm bị bệnh còn xảy ra ở nhiều vùng nuôi trong đó hai bệnh
có tần suất xuất hiện cao và gây nhiều thiệt hại cho tôm hùm nuôi lồng là bệnh đỏ thân và
đen mang.
Sau khi sử dụng phơng pháp của V.A.Dogiel ( Hà kí bổ sung để định danh, tìm tác nhân
gây bệnh và xác định tỉ lệ, cờng độ nhiễm kí sinh trùng)
Sơ đồ nghiên cứu kí sinh trùng cụ thể nh sau:
Qua phân tích 145 mẫu tôm đỏ thân và 40 mẫu tôm đen mang cho thấy tỉ lệ nhiễm kí
sinh trùng khá cao, chiếm 71% số tôm có dấu hiệu đỏ thân và 75% số tôm có dấu hiêu đen
mang. Thành phần kí sinh trùng trên tôm hùm bệnh khá đa dạng, bao gồm zoothamnium,
vorticella, balamus, nematoda và loại động vật bám Pteria.
Ngoài ra còn một số bệnh khác xuất hiện ở tôm chân trắng nh: bệnh đốm trắng (wssv),
bệnh còi hoại tử (IHHNV), bệnh taura(TSV) và bệnh đầu vàng (YHV).
Vì vậy các nhà quản lí cần có biện pháp tích cực trong việc phát triển nuôi trồng thủy sản,

các doanh nghiệp chế biến thủy sản chỉ đạt 30 – 60% công suất tùy theo khu vực và quy
mô của mỗi doanh nghiệp, tức là d thừa 40- 70% công suất.
Nói tóm lại nóng bỏng nhất của vấn đề đầu vào của xuất khẩu tôm chính là các chủng
loại giống tôm; thực trạng của vấn đề việc sử dụng hóa chất không hợp lí, của vấn đề
nguyên liệu đầu vào đắt và khan hiếm.
Tình hình trên đòi hỏi phải có sự quản lí đồng bộ trên tất cả các mặt của các nhà quản lí
đối với đầu vào tôm xuất khẩu để đảm bảo sự gia tăng số lợng trong điều kiện chất lợng
đảm bảo đúng tiêu chuẩn cho phép.
II- Những thuận lợi và khó khăn của vấn đề đầu ra
1.Những thuận lợi:
Một doanh nghiệp đã nhận định “ Tình hình cung cầu thủy sản thế giới sẽ tiếp tục có lợi
cho Việt Nam, do lợng tôm sú của Thái Lan và Indonexia đang sụt giảm nhiều, sản xuất
tôm của Ân Độ cũng bất lợi vì mức thuế chống bán phá giá cao hơn Việt Nam, trong khi
lợng tôm sú của Việt Nam còn khá lớn, đặc biệt là tôm sú cỡ lớn, một sản phẩm có thế
mạnh cạnh tranh của Việt Nam từ trớc đén nay”.
Vậy cơ hội trên là do những yếu tố thuận lợi trên thị trờng xuất khẩu thế giới đem lại?
Đó chính là những thuận lợi sau:
Thứ nhất: Đối với các hoạt động sản xuất, kinh doanh, thị trờng thủy sản có cơ hội mở
rộng và phát triển. Các sản phẩm thủy sản đảm bảo chất lợng VSATTP và có nguồn gốc
xuất xứ rõ vẫn tiêu thụ tốt trên thị trờng thế giới. Thị trờng nội địa có sức mua ngày càng
tăng. Các công trình, cơ sở hạ tầng đợc nhà nớc tập trung đầu t trong những năm qua cùng
với sự đầu t từ các nguồn ODA , FDI, sự đầu t lớn của các doanh nghiệp, các thành phần
kinh tế t nhân, cơ sơ vật chất kĩ thuật toàn ngành đã tăng đáng kể, là nền tảng thực hiện
quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa nghề cá.
Thứ hai: Thực hiện hiệp định hợp tác nghề cá Vịnh Bắc Bộ- Đã ban hành quy chế hoạt
động của ủy ban liên hợp nghề cá Vịnh Bắc Bộ. Cục khai thác và bảo vệ nguồn lực thủy
sản vầ các cơ sở thủy sản đã tổ chức tập huấn xây dựng và in ấn các nội dung lẫn tuyên
truyền phát đến ng dân, phối hợp các lực lợng biên phòng, cảnh sát biển tổ chức kiểm tra,
kiểm soát hoạt động nghề cá tại các vùng nớc hiệp định. Đã cấp1543 giấy phép khai thác
cho tàu cá Việt Nam cùng 1004 giấy phép cho tàu cá Trung Quốc, trong đó co 810 tàu

cạnh tranh, thử thách của nó cũng khiến ngời ta phải đau đầu.
Điểm hình đó là hàng loạt sự phát triển tôm xuất khẩu Việt Nam đầu năm 2005.
Chúng ta đã thực sự đáp ứng đợc nhng yêu cầu về các tiều chuẩn để nâng cao sức cạnh
tranh của Tôm xuất khẩu hay cha? Đó còn là bài toán lan giải cho các nhà quản lý.
Thứ 7: Nổi bật trong xuất khẩu thủy sản năm 2005 là việc thủy sản Việt Nam vợt qua rào
cản thế quan và thi thuế quan trên hai thị trờng lớn là Mỹ và EU. Đây chính là cơ hội lớn
cho các doanh nghiệp sản xuất thuỷ sản ở Việt Nam. Bởi đây là hai thị trờng tiềm năng
rộng lớn cho hàng xuất khẩu thủy sản Việt Nam. Nhng cơ hội này không phải dễ dàng
nắm bắt mà nó buộc các doanh nghiệp phải khôn khéo tránh những sự hiện nh xuất khẩu
tôm đầu năm 2005. Sự hỗ trợ và chỉ đạo kịp thời của các bộ, nghành, địa phơng sẽ hớng
các doanh nghiệp đi đúng hớng phát triển, khắc phục khó khăn, góp phần làm cho sản xuất
và đời sống ngời nuôi ít bị ảnh hởng, đáp ứng việc hoàn thành vợt mức kế hoạch xuất khẩu
thủy sản.
2. Những khó khăn
Diễn biến của thị trờng xuất khẩu thủy sản ngày càng phức tạp, thị trừơng quốc tế rộng
lớn một mặt đem lại thuận lợi cho xuất khẩu thủy sản nớc ta nhng mặt khác nó gây ra
những khó khăn nhất định, thể hiện rõ rệt qua các sự việc sau:
Đối với thị trờng xuất khẩu vào Mỹ mặt hàng xuất khẩu tôm đang gặp những bất lợi nhất
định.
Hồi đầu năm 2005, các doanh nghiệp xuất khẩu tôm sang Mỹ bị yêu cầu xét mức
thuế. Thông tin từ Vasep cho biết liên minh Tôm Miền Nam Hoa Kỳ (SSA) đã nộp đơn
lên bộ Thơng mại Mỹ (DDC) yêu cầu xem xét lại mức thuế của toàn bộ các doanh ngiệp
xuất khẩu Tôm vào Mỹ của 6 nứơc liên quan đến vụ kiện tôm trong đó có Việt nam , Việt
Nam có 54 doanh nghiệp nằm trong danh sách này, trong đó doanh nghiệp hiện có mức
thuế chống bán phá giá vào Mỹ thấp nhất là 4,3% vào nhất lên tới 26%. Những doanh
ngiệp chịu thuế cao thời gian qua hầu nh không xuất tôm vào Mỹ.
Chính áp lực trên từ Mỹ đã làm cho mặt hàng tôm của ta có biến động trong năm:
+ Khối lợng hàng tồn kho lớn trong khi đó mùa vụ thu hoạch thì không thể rút ngắn.
Vì lí do trên giá tôm đã hạ mạnh, gây bất lợi không những cho các doanh nghiệp xuất khẩu
Tôm sang thị trờng này mà nó còn ảnh hởng trực tiếp tới ngời mua tôm.

- Thị trờng tiêu thụ rộng lớn song lại có nhiều biến động.
- Các doanh nghiệp xuất khẩu Tôm của Viêt Nam còn rất non yếu cá về uy và lực do đó
khó có thể đối phó với những diễn biến bất thờng của thị trừơng xuất - nhập khẩu
Tôm trên thế giới.
3. Thực trạng tôm xuất khẩu:
Thực trạng của vấn đề xuất khẩu thủy sản năm 2005 đợc thể hiện khác đầy đủ qua bảng
số liệu về kết quả thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch năm 2005 và thời thời kỳ 2001 - 2005 nh
sau:
Chỉ tiêu
Năm
2005
So với
2004
So với
2000
Tổng 5 năm
2004 - 2005
Mức tăng trởng (%)
5 năm Từng
năm
1 Tổng sản
lợng (nghìn
tấn)
3.432,8 109,24 152,53 14.516,6 40,99 8,97
2. Giá thị
kinh ngạch
XKTS (100
USD)
2.650.000 110,38 180,27 11.067.782
49,9 10,50

1,2
kg/con
103.000

10.5000
3. Cá tra nuôi hầm thịt vàng (mua xô) 8 – 8.000
4. Tôm su cỡ 20con/kg 140.000
5. Tôm cỡ 30 con/kg 90.000
Mặc dù giá bán các loại thủy sản là khá cao nhng trong năm 2005 xảy ra vụ kiện
Tôm giữa các doanh nghiệp Việt Nam với Mỹ đã làm cho giá thủy sản trong nớc không ổn
định, ngời nuôi lo ngại về giá cả về đầu sa, ảnh hởng đến thị trờng nguyên liệu cho chế
biến xuất khẩu. Ban đầu khi sự kiện trên xảy ra làm các lô hàng thủy sản xuất khẩu của
Việt Nam bị ứ đọng, thêm vào đó là sắp đến mùa vụ thu hoạch của ngời dân nuôi trồng
thuỷ sản điều đó làm cho giá nguyên liệu giảm mạnh. Nhng sau khi doanh nghiệp Việt
Nam phải đóng những khoản tiền “bond” và chịu thuế “chống bán phá giá” do Hải quan
Mỹ đa ra, cộng với việc điều chỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long cấm nuôi nghịch vụ dẫn
đến thiếu nguyên liệu thu mua, điều đó đã làm cho giá nguyên liệu lên cao.
Cụ thể: Tại Cà Mau, Sóc Trăng, Cần Thơ, giá Tôm sú nguyên liệu để chế biến XK
tăng mạnh, từ 10.000

20.000 đồng/kg so với hồi tháng 2. Giá tôm sú nguyên con bán tại
đầm loại 2o

25 con/kg lên đến 160.000

170.000 đồng/kg Tôm cỡ 45

50 con/kg cũng
lên 125.000 – 130.000 đồng/kg (số liệu 2/5/2005).
- Về các vấn đề khác:


97% kế hoạch.
Theo bộ, vài tháng trớc khi phán quyết cuối cùng về vụ kiện chống bán phá giá tại Mỹ
đợc công bố, các nhà nhập khẩu nớc này đã chuẩn bị lợng hàng lớn dự phòng nhằm tránh
rủi ro khi có kết luật chính thức. Đồng thời họ chuyển sang nhập khẩu thế tôm chân trắng
có giá thấp hơn. Thời gian từ nay đến khi các nớc thuế U hiệu lực không còn nhiều. Vì
vậy, hoạt động nhập khẩu tôm của Mỹ đã nghiêng hẳn sang cái thị trờng không bị đánh
thuế chống phá giá.
Lúc này, hầu hết các kho dự chữ của Mỹ bán ra cha hết nên cũng không có nhu cầu
nhập khẩu nhiều. Trong khi đó, Hải qua Mỹ lại đang soạn thảo quy định mới, trong đó yêu
cầu các nhà nhập khẩu phải đăng ký quỹ cho cơ quan Hải quan theo tỉ lệ 10% giá trị nhập
khẩu từ các nớc bị kiện của năm trớc. Vì vậy, hầu hết các nhà nhập khẩu đều ngại mua
tôm của các nớc bị kiện.
Năm bắt đợc khó khăn này, nhiêu doanh nghiệp tôm Việt Nam đã chủ động chuyển
hớng thị trờng xuất khẩu sang Nhật, EU và các nớc khác, nhng theo bộ thủy sản, việc tăng
giá trị xuất khẩu vào các thị trờng này vẫn không bù lại đợc khó khăn của thị trờng Mỹ,
ảnh hởng đến tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản Giá tôm nguyên liệu đầu tháng
11 giảm trên dới 10,000 đồng/kg.
Sau đợt giảm giá gây cho ngời nuôi hồi cuối tháng 10 đến nay, cá tra, basa nguyên liệu
ở Đồng bằng sông Cửu Long bắt đầu lên giá trở lại. Với mức tăng 1.000 – 2.000 đồng/kg.
Sản lợng cá tra, basa hiện nay cơ bản đáp ứng đủ nhu cầu trong các cơ sở chế biến trong
dịp cuối năm.
Thị trờng thủy sản thế giới tiếp tục biến động trong tháng 2/2006. Trên thị trờng
Nhật Bản, giá tôm giảm nhẹ trong tết vì nhu cầu giảm, trong khi đó trên thị trờng Mỹ, giá
tôm tơng đối ổn định khi cán cân đúng/ cầu cân đối.
Sang năm 2006, Mỹ mở cửa thuỷ sản của mình cho sản phẩm chất lợng cao nhập
khẩu từ Châu Phi. Để xuất khẩu sang Mỹ, các công ty thủy sản của châu phi phải tuân thủ
các quy định quản lý chất lợng của Mỹ về đóng gói, chất thuỷ sản và hàm lợng các chất
lây nhiễm. Mực sang, cá ngữ, tôm sẽ là các mặt hàng đợc a chuộng nhất. Đây là cơ hội để
nghành thủy sản châu phi mở rộng thị trờng, ngoài một số hiệp định song phơng đã ký với

dào. Tại Nhật Bản giá đã giảm trên 10% loại 2 – 3 kg/con giảm xuống 11,5 USD/kg trong
khi tại Tây Ban Nha giảm mạnh hơn trên 20 % với loại 1,5 – 2kg/con xuống 7,8 USD/kg.
Tuy nhiên xu hớng giá bắt đầu đổi chiều từ cuối năm 2005 khi tình hình nguồn cung cấp
bạch tuộc trong năm 2006 dự đoán sẽ khó khăn hơn năm trớc. Bạch tuộc cỡ nhỏ sẽ tái
đông tới cả sản lợng xuất khẩu. Trong nửa đầu năm 2006, nguồn cung cấp bạch tuộc sẽ
phải chịu ảnh hởng từ các quy định này. Ngoài ra, các báo cáo ban đầu cho thấy sản lợng
khai thác bạch tuộc của Marốc – nớc xuất khẩu bạch tuộc chính trên thế giới- Trong năm
2006 không thấy khả quan.
Dự báo giá thủy sản thế giới sẽ vững đến tăng trong tháng 3/2006 vì nguồn cung
giảm dần mặc dù nhu cầu không tăng lên.
Trả lời phỏng vấn về tình hình tôm xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn này ông
Trờng Đình Hoè – phó tổng th ký VASEP cho biết:
Trớc hết cần lu ý, việc xem xét chỉ áp dụng các lô hàng đã xuất sang Mỹ trong thời
gian từ 16/7/2006. Nhng lô hàng xuất khẩu không nằm trong thời gian trên thì không bị
xem xét trong đợt này.
Ý nghĩa của việc này là xem lại mức thuế chính thức của những lô hàng đã xuất
sang Mỹ, nếu thuế cao hơn mức đang áp dụng thì nhà nhập khẩu phải đóng thêm phần
thuế này, ngợc lại, nếu thuế thấp hơn thì nhà nhập khẩu đợc truy hoàn phần thuế đã nộp
cao hơn.
Còn với những lô hàng xuất sau 31/1/2006 thì việc xem xét sẽ tiến hành trong năm
2007 (nếu có). Trớc mặt việc xem xét tại mức thuế sẽ không ảnh hởng nhiều lắm đến hoạt
động XK Tôm (hiện, Mỹ là thị trờng tiêu thụ tới 50% Tôm xuất khẩu của Việt Nam). Bởi
sau ít nhất 1 năm (hoặc 1 năm rỡi) nữa mới có kết quả việc xem xét hành chính.
Từ nay đến khi biết hết kết quả đó, mức thuế vẫn áp dụng nh phán quyết và DOC
(đồi với các doanh nghiệp Việt Nam, mức thuế hiện từ 4,3% đến 25%)
Cho nên hoạt động xuất khẩu Tôm trong thời gian này vẫn diễn ra bình thờng. Tuy
nhiên, có thể sắp tới, việc này sẽ khiến cấc nhà nhập khẩu Mỹ hạn chế giao dịch mua bán
tôm với Việt Nam để trách rủi ro và tất nhiên, theo quy luật cung cầu, giá tôm sẽ giảm,
ngời nuôi tôm sẽ khó khăn


sau đầu t.
3. Hệ thống thuỷ lợi
Chỉ đạo thành các dự án đầu t thủy lợi hiện có để đa các dự án vào hoạt động. Tận dụng
tối đa khả năng cải tạo hệ thống thuỷ nông hiện có cho mục đích nuôi NTTS nói chung và
nuôi tôm nói riêng.
4. Giống và đối tợng nuôi
- Triển khai chơng trình phát triển sản xuất giống thuỷ sản đến năm 2010 đã đợc phê duyệt
tại Quyết định số 112/2004/QĐ - TTg.
- Khuyến khích tổ chức, cá nhân có hoạt động nuôi tôm tăng vốn đầu t, áp dụng quy
trình công nghệ sản xuất tôm giống chất lợng tốt để cung cấp giống tôm đúng thời vụ với
giá cả phù hợp, từng bớc đáp ứng tôm giống tại chỗ cho nhu cầu nuôi.

Trích đoạn Phơng hớng phát triển nghành THủy Sản giai đoạn 2006 2010.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status