Khóa luận thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng của cán bộ công chức - Pdf 14

MỞ ĐẦU
Cải cách hành chính nhà nước Việt Nam đang là một chủ đề thời sự được
nhiều người quan tâm và đặc biệt sau những vụ án làm sai nguyên tắc quản lý ,
nhận hối lộ, "rút ruột" các công trình xây dựng cơ bản, . . . của một bộ phận cán
bộ có chức, có quyền thoái hóa, biến chất được phanh phui trước ánh sáng của
pháp luật. Những sự thật đau lòng đó đang "gióng lên những hồi chuông cảnh
tỉnh" cho nhà nước ta, đã đến lúc chúng ta cần phải nhìn nhận lại vấn đề chất
lượng cán bộ, công chức trong điều kiện hiện nay, từ đó tìm ra những giải pháp
hạn chế những điểm yếu và nâng cao những điểm mạnh của họ để cho nền hành
chính của nước ta thực sự trong sạch và vững mạnh hơn, để nhà nước thực sự là
nhà nước của dân, do dân, vì dân. Đề án này ra đời nhằm mục đích giúp cho
chúng ta có một cái nhìn sơ lược về cán bộ, công chức của Việt Nam. Ngoài
phần mở đầu và kết luận Đề án được chia làm 3 chương
Chương 1 Cơ sở lý luận
Chương 2 Thực trạng chất lượng cán bộ, công chức Việt Nam và bài học
kinh nghiệm nâng cao chất lượng cán bộ, công chức của các nước
Chương 3 Một số giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ công chức.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
Đến nay đã có khá nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu đưa ra các khái
niệm , định nghĩa về nguồn nhân lực của một quốc gia. Tuy không hoàn toàn
giống nhau, nhưng có thể hiểu một cách nôm na là nguồn nhân lực chính là
nguồn lao động. Tuỳ thuộc vào môi trường kinh tế xã hội, nguồn lao động sẽ
được phân bổ khác nhau trong bốn lĩnh vực hoạt động sau:
-Hoạt động trong lĩnh vực quản lý hành chính công bao gồm từ nhân viên
đến nhà lãnh đạo.
-Hoạt động trong lĩnh vực quản lý doanh nghiệp từ sơ cấp, trung cấp đến
cao cấp.
-Hoạt động trong lĩnh vực khoa học công nghệ ở công tác nghiên cứu lẫn
triển khai ứng dụng.
-Lao động trong các nghành nghề khác nhau như sản xuất kinh doanh và
dịch vụ.

đoạn nhập tỉnh đến chỗ chia lại dân cư, đơn vị và lãnh thổ hành chính; từ chỗ
xoá bỏ chức vụ trưởng thôn (hình như xem nó giống như mô hình lý trưởng, xã
trưởng ngày xưa chăng), lấy bộ máy hợp tác xã vốn là thể chế kinh tế làm luôn
chức năng quản lý xã hội (chủ nhiệm hợp tác thu tiền làm đường, sửa chùa,
dựng đội văn nghệ vì không có bộ máy tự quản hành chính ở thôn (làng, ấp,
bản) đến chỗ các đơn vị cộng đồng thôn làng cần có cơ chế tự quản hành chính
phân biệt với bộ máy điều hành sản xuất.
Công việc vì vậy cần có sự phân định rõ: hợp tác là bộ máy điều hành sản
xuất, trưởng thôn là cơ cấu tự quản hành chính ở nông thôn. ở đó có sự cải cách
thể chế.
Cũng không mấy ngạc nhiên khi mà, hiện nay vấn đề cấp hành chính
đãđược hiến pháp qui định, nhưng hẳn sự bất cập về tầng nấc các cấp chính
quyền ở đô thị vẫn còn không ít sự tranh luận. Mấu chốt pháp lý xuất phát từ
hiến pháp. Nhưng hiến pháp là sản phẩm tư duy có tính ổn định tương đối, còn
sự vận động, nhất là trong giai đoạn chuyển đổi cơ chế của xã hội có khi diễn ra
hàng ngày, hàng tháng, hàng năm. Hiến pháp năm 1992 ban hành vào thời điểm
bản lề của sự thay đổi cơ chế (có thể nói giai đoạn bản lề bắt đầu từ năm 1986
3
cho đến hiện nay). Vì vậy trong khi hiến pháp qui định một số cấp ở nông thôn
và thành thị có vị thế pháp lý tương đương thì ở nông thôn sự vận động thay đổi
chậm hơn nhiều so với các hoạt động đô thị.
Giữa thành thị và nông thôn còn chứa đựng sự khác biệt giữa hai loại cơ
cấu hành chính tổng thể và các yếu tố bên trong của các cấp đó. ít nhất ta nhìn
thấy những đặc trưng về đối tượng quản lý khác hẳn: qui mô lãnh thổ, đặc điểm
dân cư, phương thức cư trú và lao động sản xuất giữa nông thôn và thành thị.
Nếu ở nông thôn mỗi gia đình có một giếng nước thì ở thành thị cả thành phố
chỉ có "một giếng nước" ? Nếu ở nông thôn người ở địa phương này không thể
có quyền sử dụng ruộng đất sản xuất ở địa phương khác thì ở đô thị gần như
hoàn toàn ngược lại: người ta ở chỗ này nhưng đi làm, kiếm sống, công tác lại ở
nơi khác.v.v. . . Vậy nên yếu tố tầng nấc hành chính phiền hà do thiết kế cấp

giao thông gia tăng thì những máy bắn tốc độ, giấy phép lái xe máy cũng như là
vật thừa; nạn mãi lộ trên đường liên quan đến vi phạm luật giao thông không có
môi trường phát sinh; số người tai nạn và tử vong lên tới mấy chục người mỗi
ngày cũng không có trong các số liệu thống kê. Nhưng bây giờ thì mọi sự hình
như quay ngược 180 độ? Nói cách khác xã hội thay đổi thì quản lý hành chính
phải thích ứng. Cái gì trì trệ nhất thiết phải đổi mới; đổi mới một cách tự phát
chưa đáp ứng thì nhất thiết nó phải là động lực của ý chí trong nhận thức nói
chung và tư duy của người quản lý nói riêng của người công chức. Vì thế cải
cách hành chính phải được coi là quyết sách của Nhà nước nói chung và Chính
phủ nói riêng.
Cải cách hành chính cần tới cải sự đồng bộ của hệ thống pháp luật thực
định Với vị trí là cơ quan thực thi pháp luật, hành chính tự đặt nó vào mối quan
hệ với lập pháp. Nghĩa là, muốn thực thi hiệu quả pháp luật trong xã hội thì phải
có những đạo luật chặt chẽ, cụ thể, dễ hiểu và có tính khả thi cao (nếu là điều
ngược lại, như qui định trừu tượng, khó hiểu thì đương nhiên ảnh hưởng đến
hoạt động quản lý điều hành của quản lý hành chính).
Hành chính cũng tự đặt nó vào nhiệm vụ cụ thể của chính nó thông qua
năng lực trình độ và bản lĩnh của đội ngũ đông đảo nguồn nhân của chính mình.
5
Nói cách khác, giả thiết như chúng ta có hệ thống pháp luật thực định có tính
khả thi cao nhưng trao cho những cán bộ thiếu năng lực, thiếu mẫn cán hoặc
tham Ô trục lợi thì tính khả thi của luật pháp cũng trở thành “bất khả thi".
Hành chính phiền hà mất thời gian và vật chất của người dân do qua nhiều
tầng nấc mới nẩy ra tư tưởng cải cách một cửa" (theo tôi, bản chất của một cửa
là làm mọi thủ tục nhanh hơn, chất lượng hơn, tín nhiệm hơn với người dân chứ
không phải nó hơn ở con số một hay là hơn một. Thí như nếu "một cửa!' mà mất
ba ngày và một triệu đồng trong khi ba cửa mất một buổi sáng và 500 nghìn
đồng thì con số một cửa chẳng có ích gì). Và muốn một cửa cũng hợp pháp thì
hệ thống văn bản liên quan đến con dấu hợp pháp từ chỗ của nhiều bộ phận nay
chỉ còn một cũng phải qui định rõ, nghĩa là cũng cần tới ban hành văn bản.

Vì vậy vấn đề nâng cao chất lượng cán bộ công chức là một vấn đề then
chốt trong công cuộc cải cách hành chính nước ta hiện nay.
1.2 Cán bộ, công chức
1.2.1 Các khái niêm cơ bản
1
Khái niệm cán bộ
-Khái niệm cán bộ xuất hiện trong đời sống xã hội nước ta vào những năm 30
của thế kỷ XX, để chỉ một lớp người, những chiến sĩ cách mạng đã hy sinh, gian
khổ đấu tranh giành độc lập dân tộc, và sau này, trong thời kỳ kháng chiến
chống pháp, được dùng phổ biến để chỉ tất cả những người thoát ly tham gia
hoạt động kháng chiến, để phân biệt với nhân dân. Theo cách hiểu thông
thường, cán bộ được coi là tất cả những người thoát ly, làm việc trong bộ máy
chính quyền, Đảng, đoàn thể, quân đội; Dưới góc độ hành chính, cán bộ được
coi là những người có mức lương từ cán sự trở lên, để phân biệt với nhân viên
có mức lương thấp hơn cán sự. Hiện nay, ở nước ta khái niệm cán bộ được dùng
với nhiều nghĩa khác nhau:
Trong tổ chức Đảng và đoàn thể thường được dùng với hai nghĩa: một là,
chỉ những người được bầu vào các cấp lãnh đạo, chỉ huy từ cơ sở đến trung ư-
ơng( cán bộ lãnh đạo) để phân biệt với đảng viên thường, đoàn viên, hôi viên;
1
TS. Thang Văn Phúc, TS. Nguyễn Minh Phương, Cơ sở lý luận v thà ực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ công
chức, NXB Chính Trị Quốc Gia.
7
hai là, những người làm công tác chuyên trách hưởng lương trong các tổ chức
Đảng, đoàn thể. Trong quân đội là những người giữ cương vị chỉ huy từ tiểu đội
trưởng trở lên ( cán bộ tiểu đội, trung đội, đại đội, cán bộ tiểu đoàn, trung đoàn,
sư đoàn, . . .) hoặc sĩ quan từ cấp úy trở lên. Trong bộ máy nhà nước, khái niệm
cán bộ về cơ bản được hiểu với nghĩa trùng với nghĩa trùng với khái niệm công
chức, chỉ những người làm việc trong cơ quan nhà nước thuộc ngạch hành
chính, tư pháp, lập pháp, kinh tế, văn hóa xã hội. Đồng thời, cán bộ cũng được

giới. Đây là một bước chuyển quan trọng để tiến tới xây dựng chế độ công chức
trong thời kỳ đổi mới. Tuy nhiên khi quy định những đối tượng là công chức và
không phải là công chức ( tại điều 2 của nghị định này) thì lại bộc lộ một số hạn
chế sau:
Một số đối tượng như cảnh sát, những người làm công tác nghiên cứu
khoa học, giáo viên, nhà báo, nghệ sĩ. . . chưa được xếp vào loại nào. Ở điều 2
của Nghị định này đã qui định "tất cả những người làm việc trong các cơ quan,
tổ chức nhà nước" là công chức nhà nước, nhưng trên thực tế không thể đồng
nhất khái niệm "cơ quan nhà nước" với "công sở nhà nước" vì không phải mọi
cơ quan, tổ chức nhà nước đều là công sở nhà nước ( ví dụ: Quốc hội là cơ quan
nhà nước nhưng không phải là công sở nhà nước).
Khái niệm viên chức. Theo nghị định 1 1 6/2003/NĐ-CP ngày 1 0- 1 0-
2003, Viên chức là công dân Việt Nam, trong biên chế, được tuyển dụng, bổ
nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên
trong các đơn vị sự nghiệp của nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã
hội, hưởng lương từ ngân sách nhà nước và nguồn thu sự nghiệp theo quy định
của pháp luật. Như vậy, Viên chức là những nhân viên làm việc trong các cơ
quan y tế, giáo dục, khoa học- công nghệ, văn hóa thông tin, thể dục thể thao,
. . . của Đảng, nhà nước và của các đoàn thể nhân dân, các hội nghề nghiệp, mà
lâu nay vẫn được gọi là công chức sự nghiệp.
- Công chức dự bị. Theo pháp lệnh công chức sửa đổi, bổ sung năm 2003
và nghị định số 1 1 5/2003/NĐ-CP ngày 1 0- 10-2003 của chính phủ về chế độ
công chức dự bị, " công chức dự bị là công dân Việt Nam, trong biên chế, hưởng
lương từ ngân sách nhà nước, được tuyển dụng để bổ sung cho đội ngũ cán bộ,
9
công chức quy định tại điểm b, điểm c khoản 1 điều 1 của Pháp lệnh sửa đổi bổ
sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức ngày 29-4-2003"
Công chức dự bị được phân công làm việc có thời hạn tại các cơ quan, tổ
chức sau:
+ Văn phòng Quốc Hội; .

hướng dẫn, chỉ bảo của cấp trên.
b. Theo trình độ đào tạo.
Đây là căn cứ cơ bản để xét mức lương, phân công sắp xếp các vị trí công
việc cho cán bộ, công chức. Theo điều 4 nghị định 1 17/2003/ NĐ-CP ngày
10/10/2003 của chính phủ, công chức được chia thành các loại A, B, C Công
chức loại A là những người được bổ nhiệm vào ngạch yêu cầu trình độ đào tạo
chuyên môn giáo dục đại học và sau đại học; công chức loại B là những người
được bổ nhiệm vào ngạch yêu cầu trình độ đào tạo chuyên môn giáo dục nghề
nghiệp; công chức loại C là những người được bổ nhiệm vào ngạch yêu cầu
trình độ đào tạo chuyên môn dưới giáo dục nghề nghiệp.
c. Theo ngạch bậc.
Ngạch công chức dùng để chỉ trình độ, năng lực, khả năng chuyên môn
và ngành nghề của công chức. Mỗi ngạch thể hiện một trình độ chuyên môn
nghiệp vụ và có những tiêu chuẩn riêng . Theo quyết định 414/TCCP ngày
29/5/1993 của Bộ trưởng, trưởng ban Tổ chức-cán bộ chính phủ, công chức
hành chính có 11 ngạch:
1 . Chuyên viên cao cấp
2. Chuyên viên chính
3 . Chuyên viên
4. Cán sự
5 . Kỹ thuật viên đánh máy
6. Nhân viên đánh máy
7 . Nhân viên kỹ thuật
8. Nhân viên văn th
9. Nhân viên phục vụ
11
1 0 . Lái xe cơ quan
1 1 Nhân viên bảo vệ
1.3 Tính tất yếu khách quan của việc xây dựng và nâng cao chất
lượng cán bộ, công chức

luật của nhà nước, những yêu cầu, kiến nghị của nhân dân, phản ánh lại cho
Đảng và nhà nước để có thể điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung cho đúng và phù hợp
với tình hình thực tế.
b. Vai trò (thể hiện qua 4 mối quan hệ).
- Quan hệ với đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước.
- Quan hệ với bộ máy(các cơ quan tổ chức lãnh đạo quản lý).
- Với công việc. . .
- Với quần chúng nhân dân.
1.3.2 Sự cần thiết phải xây dựng, nâng cao chất lượng cán bộ, công chức.
Vai trò của nhà nước có sự thay đổi căn bản trong điều kiện chuyển đổi
nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang kinh tế thị trường có sự quản lý
của nhà nước. Chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước phải được chuyển đổi cho
phù hợp với những thay đổi của nền kinh tế - xã hội. Cần phải tách công việc
hành chính nhà nước với phục vụ, cung cấp dịch vụ cho xã hội; tách chức năng
hoạch định chính sách với tổ chức thực thi cụ thể; tách quản lý hành chính nhà
nước với sản xuất, kinh doanh; tách hành chính với sự nghiệp dịch vụ. Nhà nước
cần tập trung sức vào các hoạt động công cộng cốt lõi, có tầm quan trọng then
chết đối với sự phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động .
- Sự phân cấp, phân quyền trong quá trình quản lý là một điều không thể
thiếu khi quản lý một tổ chức. Nhà nước là một tổ chức lớn, có rất nhiều mảng
công việc, để thực hiện những công việc này thì nhất thiết chia ra cho các tổ
chức, cá nhân đảm nhiệm. Nhà nước sẽ chuyển giao một số cho các cơ quan
hành chính địa phương và các tổ chức xã hội dưới các hình thức da dạng như ủy
quyền, phân cấp, xã hội hóa, . . . Sự phân cấp và ủy quyền này sẽ làm quá trình
thực hiện các công việc nhanh hơn, tránh được hiện tượng trùng lặp, chồng chéo
công việc.
13
- Sự thay đổi chức năng, nhiệm vụ của nhà nước nói chung, phân công,
phân cấp quản lý của nền hành chính nói riêng đòi hỏi đội ngũ cán bộ phải có
những thay đổi tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, có đủ trình

trong việc ban hành thể chế. Quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn của từng cấp,
từng tổ chức, từng cá nhân.
Đề cao trách nhiệm cá nhân, khen thưởng, kỷ luật nghiêm minh. Khắc
phục tình trạng trùng chéo, đùn đẩy trách nhiệm, gây khó khăn, chậm trễ trong
công việc và giải quyết khiếu kiện của dân. Nâng cao vai trò của tòa hành chính
trong việc giải quyết khiếu kiện hành chính. Tách cơ quan hành chính công
quyền với tổ chức sự nghiệp. Khuyến khích và hỗ trợ các tổ chức hoạt động
không vì lợi nhuận mà vì nhu cầu và lợi ích của nhân dân; tạo điều kiện thuận
lợi cho các tổ chức thực hiện một số dịch vụ công với sự giám sát của cộng đồng
như vệ sinh môi trường, tham gia giữ gìn trật tự trị an xóm, phường . . .
Xúc tiến nhanh và có hiệu quả việc hiện đại hóa công tác hành chính, dặc
biệt là ứng dụng công nghệ thông tin. Kiện toàn bộ máy và tinh giản biên chế
một cách cơ bản. Có chính sách giải quyết thỏa đáng số người dôi ra.
Thứ ba, Nâng cao phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức.
Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức với chơng trình, nội dung sát
hợp; chú trọng đội ngũ cán bộ xã, phường. Đổi mới và đa vào nền nếp việc thực
hiện quy chế tuyển chọn, đề bạt, khen thởng, kỷ luật, nghỉ hưu.
Thực hiện nguyên tắc người phụ trách công việc có quyền hạn và trách
nhiệm trong việc tuyển chọn, sử dụng cán bộ, công chức dưới quyền. Thanh lọc
những kẻ tham nhũng, vô trách nhiệm; chuyển đổi công tác những người không
đủ năng lực.
Thực hiện tốt quy chế dân chủ, mở rộng dân chủ trực tiếp ở cơ sở,
bảođảm cho dân tiếp xúc dễ dàng các cơ quan công quyền, có điều kiện kiểm tra
cán bộ, công chức, nhất là những người trực tiếp làm việc với dân.Thứ tư, ngăn
chặn và đẩy lùi tham nhũng, quan liêu. Nghiêm trị những kẻ tham nhũng, vô
trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng; người lãnh đạo cơ quan để xảy ra tham
nhũng cũng phải bị xử lý về trách nhiệm. Bảo vệ những người kiên quyết đấu
15
tranh chống tham nhũng; khen thởng người phát hiện đúng những vụ tham
nhũng. Thực hiện các biện pháp ngăn chặn tham nhũng, quan liêu:

nước, sâu sắc, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
1.3.3 Những khó khăn và thách thức.
- Những vấn đề có tính lý luận trong việc tổ chức bộ máy nhà nước và
xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức vẫn chưa được làm rõ.
- Tình trạng thấp kém của nền kinh tế và ngân sách nhà nước còn rất hạn
hẹp. Đây là thách thức lớn nhất của đối với việc xây dựng và phát triển đội ngũ
cán bộ, công chức hiện nay.Tình trạng kém phát triển kinh tế của đất nước là
nguồn gốc và là cơ sở cho việc duy trì tình trạng bảo thủ, trì trệ, kém năng động,
thiếu tinh thần hợp tác trong công việc, chính những điều đó là những nhân tố
ảnh hưởng không nhỏ tới việc xây dựng, quản lý, phát triển và nâng cao chất
lượng cán bộ, công chức. Trình độ thấp kém về năng xuất lao động xã hội và
chậm phát triển của nền kinh tế không cho phép có một ngân sách, tài chính dồi
dào để có thể thực hiện triệt để các biện pháp như: tăng mức tiền lương để có thể
đáp ứng được những nhu cầu cơ bản, giảm biên chế, đào tạo lại, tuyển mới để
nhanh chóng đổi mới đội ngũ cán bộ, công chức, cũng như thực hiện các chế độ
đãi ngộ thỏa đáng hay việc dùng các biện pháp kinh tế để khuyến khích cán bộ,
công chức nâng cao trình độ, tận tâm với công việc và thu hút nhân tài trong xã
hội cho nền công vụ.
Điều 8 Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992
quy định: " Các cơ quan nhà nước, cán bộ, viên chức nhà nước phải tôn trọng
nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý
kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng,
lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền". Điều 2 pháp lệnh
cán bộ công chức sửa đổi bổ sung năm 2003 quy định: " Cán bộ, công chức là
công bộc của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, phải không ngừng rèn
luyện phẩm chất đạo đức, học tập nâng cao trình độ và năng lực công tác để thực
hiện tết nhiệm vụ, công vụ được giao". Trong khi đó Cán bộ, công chức không
được hưởng bất cứ một đặc quyền, đặc lợi nào. Để tạo điều kiện tết nhất cho cán
bộ làm việc và cống hiến, chúng ta thường có những chính sách ưu đãi nhất định
17

18
Nam năm 2006 đã cho thấy Việt Nam là một điểm đến của các nhà đầu tư trong
tương lai. Khi đầu tư nước ngoài vào Việt Nam được mở rộng thì số người làm
việc trong các dự án, các cơ sở liên doanh, hoặc các xí nghiệp nước ngoài tăng
lên đã tạo ra một đội ngũ làm công ăn lương mới có trình độ, phong cách mới và
có điều kiện, mức thu nhập cao hơn nhiều so với khu vực hành chính. Năm 1999
nhà nước đã quy định mức lương tối thiểu từ 487.000 đồng/tháng đến 626.000
đồng/tháng áp dụng đối với các doanh nghiệp hoạt động theo luật đầu tư nước
ngoài, trong khi mức lương tối thiểu chung là 180.000 đồng/tháng và sau đó
tăng lên 210.000 đồng/tháng rồi 290.000 đồng/tháng, từ tháng 10/2005 là
350.000 đồng/tháng
2
. Trên thực tế, những chuyên gia, người lao động có trình
độ cao làm việc trong các khu vực tư nhân và các khu vực có vốn đầu tư nước
ngoài có mức thu nhập cao hơn nhiều so với cán bộ, công chức nhà nước. Từ
chênh lệch về thu nhập, dẫn đến tình trạng " Chảy máu chất xám" của nguồn
nhân lực khu vực nhà nước.
1.3.4 Những yêu cầu về chất lượng cán bộ, công chức trong công cuộc
cải cách hành chính ở Việt Nam
a. Các đặc trưng cơ bản của cán bộ, công chức Việt nam.
Cán bộ, công chức là chủ thể của nền công vụ, lao động của họ là một dạng của
lao động quyền lực, lao động thực thi pháp luật. Họ có quyền giải quyết mọi
công việc theo đúng cương vị, quyền hạn theo luật định, đồng thời có nghĩa vụ
thực thi mọi nhiệm vụ theo đúng chức trách được giao trong cơ quan, tổ chức
nhà nước nhất định. Xét dưới góc độ xã hội -chính trị, người cán bộ, công chức
nhà nước có vai trò to lớn trong việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Còn xét dưới góc độ xã
hội - dân sự thì người cán bộ, công chức đảm nhận vai trò lao động sáng tạo
trong một lĩnh vực lao động đặcthù là lao động quyền lực, khác với lao động sản
xuất, kinh doanh và các dạng lao động xã hội khác, sản phẩm lao động của họ là

chính qui hiện đại. Để thực hiện và hoàn thành tết công việc của mình và để
thực sự trở thành công bộc của dân, cán bộ, công chức, ngoài tài năng và trình
độ chuyên môn, nghiệp vụ cần phải có đầy đủ các chuẩn mực đạo đức " cần
kiệm, liêm chính, chí công vô tư”. - Trung thành với Đảng, chính phủ, với tổ
20
quốc và nhân dân. Trong bối cảnh mới của nền kinh tế đòi hỏi đội ngũ cán bộ,
công chức phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành với Đảng, Chính
phủ, Tổ quốc và nhân dân, phải có kiến thức và năng lực thực tiễn quản lý kinh
tế xã hội, có phẩm chất đạo đức và lối sống lành mạnh, tận tụy, tận trí phục vụ
sự nghiệp
chung của đất nước.
Cán bộ, công chức là nòng cốt, tiên phong trong việc bảo vệ kỷ cương
phép nước và các quyền tự do, quyền con người. Yêu cầu của nhà nước pháp
quyền là đặt con người vào vị trí trung tâm, là mục tiêu, là giá trị cao nhất, vì thế
đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức trong thực thi công vụ phải đề cao trách
nhiệm pháp lý trong bảo vệ quyền tự do, lợi ích chính đáng của công dân, không
được vi phạm đến tự do và bất cứ quyền lợi và lợi ích hợp pháp nào của công
dân; phải tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân, không được quan liêu, cửa
quyền và vô trách nhiệm.
- Đội ngũ cán bộ, công chức là lực lượng đi đầu trong đấu tranh chống
quan liêu, tham nhũng và các biểu hiện tiêu cực khác của bộ máy nhà nước.Với
địa vị pháp lý và bổn phận của mình, đội ngũ cán bộ, công chức phải gương mẫu
trong công cuộc đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng và các tiêu cực khác
trong bộ máy nhà nước. Nếu đội ngũ cán bộ, công chức không phải là lực lượng
tiên phong trong cuộc đấu tranh này thì khó có thể có được bộ máy nhà nước
trong sạch và vững mạnh.
b. Yêu cầu về chất lượng của cán bộ, công chức Việt nam trong thời
kỳ mới.
- Yêu cầu về phẩm chất chính trị, đạo đức. Yêu cầu về phẩm chất chính trị
là yêu cầu cơ bản của người cán bộ, công chức. Đó là sự trung thành và bản lĩnh

nghiệp mạnh sẽ làm cho thơng hiệu và uy tín của doanh nghiệp tăng lên từ đó
nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường. Ngày nay người
tiêu dùng khi mua một sản phẩm họ không chỉ coi trọng chất lượng sản phẩm
mà họ còn quan tâm đến bao bì của sản phẩm, chất lượng và dịch vụ của nhà
cung c.ấp sản phẩm. Các giá trị đó chính là văn hóa của doanh nghiệp, ai thực
hiện được các yêu cầu đó một cách tốt nhất thì người đó sẽ dành chiến thắng
22
trên thị trường. Yêu cầu về văn hóa đòi hỏi người cán bộ, công chức phải có
kiến thức liên ngành cần thiết, có kiến thức sâu rộng về các vấn đề kinh tế chính
trị, có hiểu biết sâu sắc về lịch sử và truyền thống văn hóa của dân tộc để giữ gìn
và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
Yêu cầu về trí tuệ. Ngày nay với sự tăng trưởng nhanh của nền kinh tế
đời sống con người trong xã hội được cải thiện và đặc biệt mặt bằng dân trí được
tăng lên cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật đòi hỏi người
cán bộ, công chức phải có trình độ kiến thức và năng lực tư duy khoa học sáng
tạo.
Trong một số ngành, lĩnh vực và đối với ngạch chuyên viên trở lên thì
trình độ đại học là bắt buộc và tối thiểu. Một số ngành và lĩnh vực khác phải là
trên đại học. Yêu cầu trí tuệ hóa đội ngũ cán bộ, công chức buộc người cán bộ,
công chức phải không ngừng học tập để nâng cao trình độ kiến thức và năng lực
trí tuệ của mình, đồng thời nhà nước cần phải có chính sách, chế độ và tạo điều
kiện để cán bộ, công chức được đào tạo, bồi dưỡng và bổ xung kiến thức để
phục vụ công tác thực thi đạt hiệu quả cao nhất.
- Cán bộ, công chức phải có ý thức pháp luật, am hiểu, tôn trọng luật pháp
và thông lệ quốc tế. ý thức pháp luật của cán bộ, công chức có những đặc thù so
với ý thức pháp luật của các đối tượng khác trong xã hội, thể hiện ở chỗ ý thức
pháp luật của cán bộ, công chức trực tiếp ảnh hưởng đến hoạt động xây dựng và
ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật, áp dụng
pháp luật, kiểm tra, giám sát thực hiện pháp luật ý thức pháp luật của cán bộ,
công chức ảnh hởng đến hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, đời

VIỆT NAM VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CỦA CÁC NƯỚC
2.1 Thực trạng chất lượng cán bộ, công chức Việt Nam hiện nay.
2.1.1 Thực trạng qua các số liệu thống kê.
Nhìn gần hai mươi năm qua khi đất nước ta ở thời kỳ đầu đổi mới, chuyển
đổi từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường, công tác cán bộ
nói chung, đội ngũ cán bộ, công chức nước ta nói riêng, đứng trước nhiều thử
thách trong đó có những thử thách trực tiếp đặt ra cho công tác đào tạo, bồi dư-
ỡng đó là: Mặt bằng trình độ, kiến thức của cán bộ, công chức thấp, lại không
đồng đều, bất cập với những yêu cầu của công cuộc đổi mới. Do được đào tạo
và hoạt động trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp nên rất lúng túng và bỡ
ngỡ trước bước chuyển đổi cơ chế quản lý và hội nhập kinh tế quốc tế, khu vực
Khi xếp vào các ngạch bậc công chức đại bộ phận cán bộ, công chức thiếu, nợ
các tiêu chuẩn về trình độ (lý luận chính trị, quản lý nhà nước, chuyên môn,
ngoại ngữ và sau này là tin học). Có những cán bộ, công chức khi xếp vào
ngạch, hoặc bổ nhiệm vào các chức vụ thiếu tới 3 đến 4 tiêu chuẩn về trình độ
và từ đó vấn đề trả nợ về tiêu chuẩn trình độ được đặt ra bồi dưỡng cán bộ, công
chức. Thấy rõ sự bất cập ấy, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức đã
được Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm và xác định là nhiệm vụ quan trọng
trong công tác cán bộ, xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước và cải cách hành
chính nhà nước. Nghị quyết Trung ương 3 khóa 8 về Chiến lược cán bộ thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã xác định đào tạo, bồi d-
ưỡng cán bộ là một trong những giải pháp lớn xây dựng đội ngũ cán bộ và công
tác cán bộ. Ngày 20/1 1/1996 Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số
874/TTG về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức. Tại quyết định này
mục tiêu, đối tượng, nội dung công tác đào tạo, bồi dỡng cán bộ, công chức
được xác định rõ ràng. Hai hệ thống cơ quan quản lý nhà nước và hệ thống cơ sở
tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức đã được xác định từ Trung ơng
đến địa phương. Tiếp theo là quyết định 74/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status