Lớp : 1201SMGM1011
Nhóm : 2
Họ và tên sinh viên :
-Nguyễn Thị Chung
-Nguyễn Thị Dinh
-Lê Xuân Đô
-Phùng Xuân Đức
-Dương Trung Dũng
-Nguyễn Văn Dương
-Nguyễn Thị Duyên
-Mạc Thị Hà
-Nguyễn Thị Hải Hà
-Phạm Thanh Hà
PHIẾU PHÂN TÍCH CHIẾN LƯỢC
CỦA CÔNG TY KINH DOANH QUỐC TẾ
Chương 1 : Giới thiệu về công ty Cổ phần Việt An
1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty cổ phần Việt An
Tên đầy đủ DN : Công ty Cổ phần Việt An
Tên giao dịch : Anvifish Joint-Stock Company
Tên viết tắt DN : Anvifish Co
Trụ sở : Quốc lộ 91, khóm Thạnh An, phường Mỹ Thới, thành phố Long Xuyên, tỉnh An
Giang
Ngày tháng năm thành lập : Tiền thân là “Công ty TNHH ANGIANG – BASA” thành lập
vào tháng 08 năm 2004, đến tháng 12 năm 2004 đổi tên thành “Công ty TNHH Việt An” và
1
tháng 02 năm 2007, chính thức được chuyển đổi từ công ty trách nhiệm hữu hạn sang Công ty
Cổ phần Việt An.
Loại hình doanh nghiệp : công ty cổ phần
Điện thoại : (0763) 932 545
Fax : (0763) 932 554
Website: www.anvifish.com
Anvifish tăng từ 32 triệu USD năm 2007 lên 47 triệu USD năm 2008, rồi 57,9 triệu USD năm
2009; với lợi nhuận sau thuế năm 2009 là hơn 74 tỷ đồng.
3
4
CHƯƠNG 2:PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI :
2.1. Ngành kinh doanh của doanh nghiệp :
Đến tháng 02 năm 2007, Công ty chính thức được chuyển đổi từ công ty trách nhiệm hữu
hạn sang công ty cổ phần.
Năm 2008, Anvifish thành công trong vụ kiện chống phá giá tại thị trường Mỹ, được công
nhận không bán chống phá giá mặt hàng cá Tra vào thị trường này và được áp mức thuế là 0%,
tạo cho Anvifish có lợi thế rất lớn so với các Doanh nghiệp trong ngành, trong khi đó các
Doanh nghiệp khác tại Việt Nam phải chịu mức thuế là 63,88%.
Kết quả năm 2009 của Anvifish nằm trong vị trí dẫn đầu các công ty xuất khẩu cá tra ở
Việt Nam. Thực tế, kim ngạch xuất khẩu của Anvifish tăng từ 32 triệu USD năm 2007 lên 47
triệu USD năm 2008, rồi 57,9 triệu USD năm 2009; với lợi nhuận sau thuế năm 2009 là hơn
74 tỷ đồng.
Với nổ lực không ngừng suốt thời gian qua, Anvifish đã đưa sản phẩm fillet cá tra, basa
đến khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là các thị trường truyền thống như châu Âu, Mỹ và Nga.
Để thâm nhập vững chắc vào các thị trường này, Anvifish đã liên kết thành lập các công ty
Anvifish- Australia, Anvifish-Europe để hình thành nên mạng phân phối rộng lớn và đa dạng
với trên 100 khách hàng lớn thường xuyên - gắn bó lâu dài; đặc biệt là các khách hàng đang sở
hữu hệ thống đại lý, siêu thị ở châu Âu và châu Mỹ.
2.2. Giai đoạn trong chu kỳ phát triển của ngành :
Từ sau năm 1954, xác định được khả năng đóng góp mà nghề cá có thể mang lại cho nền
kinh tế quốc dân, cùng với quá trình khôi phục và bước đầu phát triển kinh tế ở miền Bắc,
Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng phát triển nghề cá.
Năm 1976, sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, Bộ Hải sản
được thành lập. Năm 1995, Việt Nam gia nhập các nước ASEAN và ngành thuỷ sản Việt
Nam trở thành thành viên của tổ chức nghề cá Đông NamÁ SEAFDEC, cùng với việc mở
rộng thị trường xuất khẩu đã tạo điều kiện cho ngành công nghiệp chế biến thuỷ sản có chiều
Nhân tố
kinh tế
Nhân tố
văn hóa – xã hội
Nhân tố
công nghệ
Nhân tố
mối trường
sinh thái
Nhân tố
pháp luật
yếu đi so với các đồng ngoại tệ khác. Điều này có lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu khi
quy đổi doanh thu sang Việt Nam đồng.
Việt Nam có 1 bộ phận đông đảo lao động trong nông nghiệp nông thôn, tay nghề không
cao, không có kỹ năng nhưng chi phí tiền công rẻ, là yếu tố góp phần làm tăng sức cạnh tranh
của hàng thủy sản Việt Nam.
Thách thức
Cuộc khủng hoảng nợ công tại châu Âu được đánh giá sẽ tác động tiêu cực đến xuất khẩu
của Việt Nam, đặc biệt là cá tra.
Việc kiểm soát chất lượng nguyên liệu của các DN gặp nhiều khó khăn do chưa tự
chủ được nguồn nguyên liệu, việc xây dựng vùng nuôi để đảm bảo yêu cầu truy xuất nguồn
gốc đòi hỏi vốn lớn.
b. Môi trường chính trị- pháp luật
Cơ hội
Mặt hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam không thuộc nhóm 5 mặt hàng bị đánh thuế
chống bán phá giá tại EU.
EU đang có xu hướng nới lỏng cơ chế quản lý xuất nhập khẩu, cải cách về chính sách do
đó trong những năm tới thủy sản Việt Nam sẽ phải cạnh tranh hết sức khốc liệt với sản phẩm
thủy sản của các nước khác như Trung Quốc.
Thách thức
Việt Nam luôn trong tình trạng thiếu thông tin thị trường, năng lực quản lý yếu kém, kinh
nghiệm và kiến thức, cách tiếp cận thị trường cũng như khả năng phát triển hệ thống kinh
doanh và phản ứng với sự thay đổi chính sách còn chậm.
d. Môi trường công nghệ
Cơ hội:
Tại Việt Nam , một số doanh nghiệp thủy sản đã được tiếp cận khung giải pháp truy xuất
thực phẩm bằng cách ứng dụng công nghệ thông tin tạo ra chuỗi cung ứng thủy sản an toàn.
Khung giải pháp này giúp doanh nghiệp tiếp cận một cách tổng thể với chuỗi cung ứng thực
phẩm dựa trên công nghệ số, vì mỗi thành tố của chuỗi cung ứng sẽ được gắn một thiết bị theo
dõi duy nhất. Đó có thể là một thẻ nhận dạng bằng tần số vô tuyến (RFID) gắn với một con cá,
một mã vạch gán cho một bao bì sản phẩm, hay một số hiệu đặt riêng cho một ao tôm. Sản
phẩm thủy sản sau đó có thể được đưa vào máy quét và chuyển dữ liệu cho đơn vị yêu cầu
thông tin, từ nhà phân phối cho đến người nhập khẩu và người tiêu dùng. Giải pháp này giúp
các cơ sở hạ tầng của chuỗi cung ứng được kết nối chặt chẽ với nhau hơn nhờ có sự trao đổi
thông tin thông suốt giữa những người cung cấp dịch vụ và người yêu cầu dịch vụ
Thách thức
Hạ tầng thủy lợi phục vụ cho nuôi trồng thủy sản; hệ thống cầu, cảng, khu neo đậu, tránh
trú bão còn nhiều hạn chế; công tác quy hoạch còn nhiều bất cập.
Đối với ngành chế biến thì hầu như chưa có quá trình tự động hóa trong sản xuất.
2.4. Đánh giá cường độ cạnh tranh
Tồn tại các rào cản ra nhập ngành :
Yêu cầu đáp ứng tốt những quy định kỹ thuật của thị trường xuất khẩu và quản lý hệ
thống từ nuôi trồng đến chế biến thủy sản
Công nghệ chế biến, đánh bắt thủy sản
Nhu cầu vốn đầu tư ban đầu lớn
Quyền lực thương lượng từ phía các nhà cung ứng : CAO
Hiện, người dân nuôi trồng thuỷ sản phải vay vốn ngân hàng với lãi suất cao (trên
1%/tháng), thậm chí nếu vay ở ngoài có lúc lên tới 2%/tháng, bối cảnh do không tiếp cận được
nguồn vốn vay ngân hàng cho nên vùng ĐBSCL tiếp tục có nguy cơ tái diễn hiện tượng treo
8
• Sản phẩm thủy sản của Việt Nam chưa có lợi thế cạnh tranh nổi trội so với các sản
phẩm thủy sản của các nước khác và giá thành lại ở mức loại trung nên mức độ thay thế sản
phẩm là rất cao.
Đe dọa từ các ra nhập mới : CAO
Đặc thù của ngành thủy sản là bán hàng trả chậm làm cho các doanh nghiệp không thu
hồi vốn nhanh để phục vụ sản xuất tiếp, nên các doanh nghiệp này đa số huy động vốn lưu
động từ các ngân hàng, chính vì thế nên tài sản ngắn hạn chiếm tỷ lệ lớn trong nguồn vốn.
Chi phí tài chính, đặc biệt là chi phí lãi vay chiếm tỷ lệ lớn trong chi phí sau giá vốn
hàng bán
Đánh giá : ngành xuất khẩu thủy sản là một ngành hấp dẫn và có cường độ cạnh tranh
trung bình.
2.5. Xác định các nhân tố thành công chủ yểu trong ngành (KFS) :
Những kỹ năng và tài sản cần thiết mà tất cả các doanh nghiệp trong ngành này phải sở
hữu nhằm đứng vững trước những tác động của môi trường bên ngoài là:
Kỹ thuật chế biến nuôi trồng thủy sản.
Quản lý tốt các hoạt động từ khâu nuôi trồng, đánh bắt đến việc sơ chế hoặc chế biến xuất
khẩu.
Vốn đầu tư ban đầu.
10
CHƯƠNG 3 :
PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG BÊN TRONG
3.1. Sản phẩm chủ yếu :
Các sản phẩm chính là cá tra fillet, cá tra cắt khúc, cá tra nguyên con cấp đông các loại.
Trong đó, riêng sản phẩm cá tra fillet cũng khá đa dạng và được phân loại theo nhiều tiêu
chuẩn khác nhau như màu sắc, kích cỡ, trọng lượng theo yêu cầu của khách hàng và thị
trường xuất khẩu. Sản phẩm hiện đáp ứng được các tiêu chuẩn chất lượng của những thị
trường khó tính nhất. Các sản phẩm khác như cá cắt, portion, cá cuộn… chỉ chiếm tỷ trọng
nhỏ trong doanh thu. Trong quá trình chế biến còn có một số phụ phẩm khác như đầu cá, mỡ
cá, xương, da cá Doanh thu từ các phụ phẩm này thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng
doanh thu.
+ Lươn nguyên con.
…………….
* Một số hình ảnh về sản phẩm của công ty :
Fillet cắt miếng xiên que
Cá tra cắt miếng tẩm bột xù vàng chiên sơ.
12
Ớt đỏ nhân Basa.
3.2. Thị trường :
Nhìn chung sản phẩm của công ty đều có mặt ở hầu hết các thị trường trường lớn trên thế
giới như : thị trường Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Đại Dương.
* Thị trường Châu Á.
Tỷ lệ xuất khẩu các sản phẩm vào thị trường này là 11%, gồm các quốc gia như: Taiwan,
Korea, Singapore, Lebanon…Châu Á là thị trường đầy tiềm năng, nếu so với thị trường Châu
Âu thì thị trường Châu Á dễ hoạt động hơn vì có vị trí địa lý gần nhau, nền văn hóa gần giống
nhau và không bị nhiều rào cản kỹ thuật như Châu Âu.Do đó chi phí sản xuất và bán sản phẩm
trên thị trường này không như ở thị trường Châu Âu.Sản phẩm của công ty đã đạt chứng nhận
HALAL và các chứng nhận về công nghệ, chất lượng.Vì vậy công ty nên tận dụng những lợi
thế trên để xâm nhập vào các quốc gia còn lại ở Châu Á nhằm tăng doanh thu.
* Thị trường Châu Âu.
Châu Âu là thị trường rộng lớn gồm 48 quốc gia với trên 700 triệu dân, là thị trường có nhu
cầu rất đa dạng và phong phú về hàng hóa.Người Châu Âu có thu nhập và mức sống rất cao do
đó chất lượng và đảm bảo về an toàn thực phẩm là tiêu chuẩn hàng đầu.Châu Âu được xem là
thị trường hấp dẫn đối với hầu hết các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản của Việt Nam.
Tỷ lệ xuất khẩu vào thị trường này là 78%, gồm các quốc gia như: Poland, Germany, Spain,
France, Belgium, Italy, Holland, Malta.Trong đó Germany là một thị trường đầy triển vọng và
có thể phát triển mạnh hơn nữa.Bên cạnh đó Belgium, Italy, Holland, Malta…là những nhà
nhập khẩu lớn nhưng không đều đặn.Do đó công ty phải mất nhiều thời gian để mở rộng đầu
tư và giữ vững các thị trường này.
* Một số thị trường khác như : Châu Mỹ, Châu Đại Dương.
+ Thị trường Châu Mỹ.
Global Gap. Nhờ đó, sản phẩm cá tra của Anvifish đã đáp ứng tốt hơn các yêu cầu khắt khe về
chất lượng VS ATTP của nhiều thị trường nhập khẩu khó tính, tăng thêm 20% mức thặng dư
về giá trị xuất khẩu, khẳng định “Sạch từ con giống, vùng nuôi, sản xuất chế biến đến bàn ăn
của mọi người”.
14
Anvifish chủ động tạo dựng mối quan hệ thân thiết, gắn bó lâu dài với các chủ ao thông
qua việc thành lập câu lạc bộ nuôi cá. Qua đó, Anvifish được ưu tiên mua gom nguyên liệu cá
và kiểm soát nguồn nguyên liệu đầu vào. Hệ quả là, Anvifish vẫn kiểm soát tốt nguyên liệu
đầu vào bên cạnh vùng nguyên liệu hiện có, góp phần giảm đáng kể sự biến động thường
xuyên về sản lượng và giá trong thời gian qua.
LỢI THẾ CẠNH TRANH CỦA ANVIFISH.
3.3.2. Sản xuất
Về công suất chế biến: Hai nhà máy của Anvifish có công suất chế biến thuộc loại trung
bình ngành. Tuy nhiên, để kiểm soát tốt vấn đề VS ATTP trong tất cả các khâu từ nuôi trồng
cho tới xuất khẩu, đáp ứng các chuẩn mực quốc tế và yêu cầu của các thị trường tiêu thụ,
Anvifish là đơn vị đầu tiên phát triển phòng thí nghiệm kiểm dịch vi sinh, kháng sinh đạt tiêu
chuẩn quốc tế ISO/EIC 17025 : 2005 (Mã số VILAS 241).
15
16
Dây chuyền sản xuất của công ty Anvifish
17
Các sản phẩm được chế biến từ cá tra, basa của Anvifish được sản xuất theo quy trình khép
kín, đảm bảo ATVSTP theo tiêu chuẩn quốc tế, tại thị trường nội địa cũng thu hút thị hiếu
người tiêu dùng, bởi tính thẩm mỹ, hiệu quả dinh dưỡng: “Món ăn phù hợp cho mọi đối tượng
từ bình dân đến cao cấp, các sản phẩm, thực phẩm GTGT tiện dụng tiêu tốn ít thời gian chế
biến, chính là hướng phát triển của ngành chế biến thực phẩm trong thời đại công nghiệp hóa”.
Công ty tập trung nâng cao chất lượng các dòng sản phẩm cốt lõi là Fillet T1 và T2 nhằm đáp
ứng yêu cầu khắt khe của các thị trường khó tính là Mỹ và EU, đồng thời tăng giá trị xuất
khẩu. Theo đó, giá xuất khẩu bình quân sản phẩm fillet T1 và T2 của công ty vào thị trường
chung và Việt An nói riêng vì điều kiện thâm nhập tương đối dễ hơn, nhu cầu cao, tỷ suất lợi
nhuận tốt và ổn định. Nếu tính theo giá trị thì năm 2007, tỷ trọng Công ty xuất vào thị trường
18
này chiếm khoảng 84%; đến năm 2008 chỉ còn khoảng 63%; và đến năm 2009 chỉ còn khoảng
41%.
- Thị trường Nga: là thị trường mới đối với Việt An trong 2 năm gần đây vì điều kiện
thâm nhập khó khăn, nhu cầu cao, nhưng tỷ suất lợi nhuận tương đối cao. Đặc biệt Việt An
nằm trong Ban điều hành các doanh nghiệp thủy sản xuất sang Nga. Nếu tính theo giá trị thì
năm 2008 và 2009 thì tỷ trọng xuất sang Nga khoảng 20-22%.
- Thị trường Mỹ: là thị trường rất khó thâm nhập với chính sách thuế chống bán phá giá
và các yêu cầu kỹ thuật khác. Năm 2007 và 2008 thì giá trị Công ty xuất sang Mỹ chỉ khoảng
3-4%. Đặc biệt, từ tháng 8/2008 thì Công ty được áp dụng mức thuế chống bán phá giá là
0,52%. Đây được xem là một lợi thế và là đòn bẩy để Công ty thâm nhập thị trường rộng lớn
này. Hơn nữa, cùng với các hoạt động marketing, bán hàng năng động, sáng tạo, giá trị Công
ty đã xuất sang Mỹ năm 2009 chiếm khoảng 34%.
- Thị trường Úc: là một thị trường còn khá mới và có nhiều tiềm năng phát triển. Hiện
nay, Việt An xuất sang thị trường này chiếm khoảng 1% giá trị.
- Ngoài ra, một tỷ lệ nhỏ của thị trường nội địa, chủ yếu ở các thị trường TP. Hồ Chí
Minh và các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long (Tiền Giang, Đồng Tháp, Trà Vinh, . . .) và các
tỉnh Nam Trung bộ từ Khánh Hòa trở vào
- Ngoài các thị trường trọng điểm hiện tại, Anvifish đang đa dạng hóa các thị trường xuất
khẩu sang khu vực châu Á, châu Úc… Riêng Úc sẽ là thị trường trọng điểm tiềm năng và sẽ
thay thế thị trường Nga và một số thị trường các nước trong khu vực EU. Với bề dày hoạt
động trong môi trường xuất khẩu thủy sản đông lạnh, quy mô, năng lực và tự đánh giá thị phần
như trên, với khả năng Công ty có thể sản xuất và xuất khẩu từ 40.000 đến 50.000 tấn thành
phẩm /năm; thời gian tới Công ty vẫn sẽ tiếp tục tập trung xuất khẩu vào 4 thị trường truyền
thống là EU, Australia, Nga và Mỹ. Ngoài ra, hiện nay Công ty cũng đang cố gắng mở rộng
xuất khẩu vào thị trường tiềm năng là Braxin và một số nước châu Phi, châu Á
3.3.4. Chính sách marketing
Vấn đề xúc tiến thương mại đối với Công ty luôn được xác định là công việc thường
Về năng lực sản xuất của các xí nghiệp:
- Xí Nghiệp Chế biến An Thịnh có công suất chế biến: 100 tấn cá nguyên liệu/ngày, hệ
thống cấp đông với 04 băng chuyền cấp đông siêu tốc IQF 500kg/h/1; 04 tủ đông tiếp xúc
công suất 2.000kg/h/1;
- Xí Nghiệp Chế biến Việt Thắng có công suất chế biến: 150 tấn cá nguyên liệu/ngày, hệ
thống cấp đông với 04 băng chuyền cấp đông siêu tốc IQF 500kg/h/1; 06 tủ đông tiếp xúc
công suất 2.000kg/h/1.
- Xí Nghiệp Kho vận có sức chứa 3.500 tấn thành phẩm. Công ty đã đầu tư dầy chuyền sản
xuất tiên tiến nhất cho quá trình sản xuất sản phẩm như: băng chuyền cấp đông, tủ cấp đông,
máy nén do Mycom (Nhật Bản) sản xuất, máy phân cỡ của Đan Mạch và một số thiết bị phụ
trợ khác do Châu Âu sản xuất.
Trong các xí nghiệp chế biến, đã sử dụng băng chuyền cá thay cho hệ thống thủy lực nên
tiết kiệm nước sạch, hạn chế nước thải, giảm chi phí xử lý môi trường. Cải tiến, thay đổi các
máy nén piston bằng sử dụng máy nén trục vít mà công suất cấp đông không đổi, tiết kiệm
30% điện năng và giảm chi phí vận hành.
Anvifish là doanh nghiệp đầu tiên sở hữu phòng thí nghiệp đạt tiêu chuẩn quốc tế
ISO/EIC 17025: 2005 (Mã sốVILAS 241).
Trung tâm Kiểm dịch chất lượng sản phẩm thực hiện kiểm soát chặt chẽ hàm lượng vi sinh
và dư lượng kháng sinh trong tất cả các khâu từ con giống - nuôi - khai thác - chế biến - thành
phẩm của Anvifish và thậm chí còn thực hiện kiểm dịch cho các đơn vị khác trên địa bàn.
Trung tâm đã thực hiện hai thử nghiệm quan trọng là Phương pháp kiểm Malachit green-
Leucomalachit theo tài liệu của FDA và Enrofloxacine - Ciprofloxacine theo tài liệu của
AOAC, qua đó Anvifish tiết kiệm được thời gian, đơn giản quy trình thử nghiệm và giảm chi
phí kiểm dịch trên từng mẫu sản phẩm.
20
3.3.6. Cơ sở hạ tầng của tổ chức
• Nhà máy của Công ty nằm trong vùng nguyên liệu cá tra lớn, nơi tiếp nhận cá tra
nguyên liệu sản xuất của nhà máy tiếp giáp với sông lớn có cầu cảng. Vì vậy Công ty có thể
giảm được đáng kể chi phí vận chuyển so với các nhà máy khác.
• Công ty có hệ thống quản lý chất lượng cho toàn bộ quá trình hoạt động sản xuất kinh
thông luôn ở tình trạng không
ổn định
W2: Doanh nghiệp phải phụ
thuộc nhiều vào chính sách tiền
tệ và chính sách vĩ mô khác.
W3: Lưu chuyển tiền tệ
thuần từ hoạt động kinh doanh
chưa cải thiện so với mức bình
21
lượng bảo đảm sản phẩm đáp
ứng được các tiêu chuẩn chất
lượng.
S5: Thương hiệu và uy tín
ngày một phát triển
S6: Được hưởng mức thuế
suất thuế chống phá giá vào thị
trường Mỹ thấp, gần như bằng 0.
S7: Tài chính lành mạnh,
nhiều năm liền hoạt động sản
xuất kinh doanh có hiệu quả, các
chỉ số tài chính liên tục được cải
thiện nâng cao.
S8: Cơ cấu cổ đông và bộ
máy tổ chức ổn định, Ban lãnh
đạo có năng lực, kinh nghiệm;
đội ngũ cán bộ đoàn kết, thực
hiện nhất quán các mục tiêu đưa
ra.
quân Ngành.
OPPORTUNITIES
khắt khe
T2: Sự tiến bộ của
khoa học kỹ thuật sẽ đẩy
nhanh quá trình lỗi thời
của máy móc thiết bị
Anvifish đã đầu tư.
T3: Sự cạnh tranh
không lành mạnh, thiếu sự
phối hợp giữa các doanh
nghiệp chế biến, xuất khẩu
và thương mại thuần túy.
ST Strategies
S1, S5, S7, S8 + T1, T3 : chiến
lược tích hợp phía trước
S3, S4, S7 + T2: chiến lược phát
triển sản phẩm
WT Strategies
W1+ T2,3: chiến lược tích hợp
hàng ngang (liên minh liên kết)
W2,3 + T1,3: chiến lược tích
hợp phía trước
23
CHƯƠNG 4:
CHIẾN LƯỢC CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN VIỆT AN
LỰA CHỌN CHIẾN LƯỢC KINH DOANH QUỐC TẾ CỦA DOANH NGHIỆP:
1.1. Chiến lược kinh doanh quốc tế + Phương thức triển khai quốc tế của doanh
nghiệp
Căn cứ vào các tiêu chuẩn đánh giá và các điều kiện để thực hiện các chiến lược, hiện tại
công ty mới đang dừng lại ở chiến lược xuất khẩu các mặt hàng thủy sản ra thế giới.
Trong tương lai sẽ mở rộng hơn ra các chiến lược khác nhằm nâng cao vị thế cạnh tranh
Hiện nay, Công ty đã có nhà xưởng sản xuất bột cá tỷ lệ 58% đạm, tách mỡ cá… và sắp tới sẽ
phối hợp với một tập đoàn nước ngoài nhằm xuất khẩu cho thị trường Châu Á Thái Bình Dương.
Ngày 24/11 tới đây Công ty cũng sẽ ký kết với một tập đoàn tại Phần Lan hợp tác về phần mỡ cá để
chế biến ra dầu cung cấp cho thị trường…
1.2. Chiến lược điển hình + Các chính sách triển khai
1.2.1. Chiến lược điển hình
4.2.1.1 Phát triển thị trường
Chiến lược vùng nuôi để tăng sự chủ động nguồn nguyên liệu, áp dụng các tiêu chuẩn tiên tiến
như: Global GAP và SQF 1000CM đã giúp Anvifish kiểm soát tốt các loại chi phí cũng như đảm
bảo chất lượng và uy tín đối với khách hàng. Việc xây dựng và phát triển thị trường hợp lý cũng tạo
cho Anvifish một lợi thế lớn so với các công ty trong ngành.
Công ty đã có những điều chỉnh phù hợp với từng thời điểm và có sự chuyển dịch mạnh về cơ
cấu thị trường, từ 2 thị trường chính là EU và Nga (chiếm hơn 85% sản lượng và giá trị xuất khẩu)
thời điểm năm 2008 thì đến nay 2 thị trường chính là Châu Mỹ (chiếm khoảng 66%) và Châu Âu
(chiếm hơn 20%). Ngoài ra, thị trường Châu Úc mới được khai thác nhưng cũng rất tiềm năng, với
mức đóng góp gần 6%.
Năm 2011, Anvifish đạt doanh thu thuần 1.863 tỷ đồng, tăng 17,52% so với năm 2010 và vượt
2,17% so với kế hoạch, trong điều kiện thị trường thế giới đầy khó khăn và biến động. Qua đó cho
thấy, có 2 yếu tố đóng góp vào sự tăng trưởng, đó là tỉ giá và giá bán bình quân tăng. Thế nhưng,
nguyên nhân chính của sự phát triển được xem là sự “đúng đắn trong chiến lược kinh doanh” là
công ty đã “chú trọng chất lượng hàng hóa và thỏa mãn nhu cầu khách hàng”, tạo được lòng tin của
khách hàng và làm nổi bật thương hiệu “Anvifish”. Khách hàng gắn bó, ngày càng phát triển và ổn
định với 12 khách hàng lớn nhất, gồm: Mekong Seafoods, Amanda, Metro, DKSH, Sundance, JSC,
Galac’Sea, HMF, Clama, All Fish, Gourmet, Mazzetta chiếm hơn 87% sản lượng và 88,9% giá trị
xuất khẩu.
Anvifish đã phát triển thêm vùng nuôi thứ 6 là Phú Thuận và áp dụng các tiêu chuẩn chất lượng
Global GAP, SQF 1000CM, đồng thời sẽ nâng mức chủ động nguồn nguyên liệu từ 40% lên 60%
và hướng tới chủ động 80% cho những năm tiếp theo. Năm qua, cá nuôi từ vùng chất lượng được
xuất khẩu trị giá trên 3,7 triệu USD, chỉ đóng góp khoảng 12% sản lượng và khoảng 4,62% về giá
trị xuất khẩu, nhưng nó lại là “tấm giấy thông hành” quan trọng để sản phẩm của Anvifish đến được