Bộ môn Quản Trị Chiến Lược-ĐHTM
Mục lục
Giới thiệu công ty 2
Ngành nghề kinh doanh của DN (Theo giấy chứng nhận đăng kí số …) : 2
Xác định các hoạt động kinh doanh chiến lược (SBU) 3
Tầm nhìn, Sứ mạng kinh doanh của DN : 3
Một số chỉ tiêu tài chính cơ bản : tính đến năm 2010 4
PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI : 4
(Các) Ngành kinh doanh của doanh nghiệp : 4
Giai đoạn trong chu kỳ phát triển của ngành : 4
Đánh giá tác động của môi trường vĩ mô (Mô hình PESTEL) 5
Đánh giá cường độ cạnh tranh (Giải thích ngắn gọn các câu trả lời) : 8
II.Đe dọa từ các sản phẩm thay thế: 10
III. Quyền lực thương lượng giữa các nhà cung ứng: 11
IV.Quyền lực thương lượng với khách hàng 12
VI. Quyên lực tương ứng của các bên liên quan 15
Xác định các nhân tố thành công chủ yếu trong ngành (KFS) : 18
PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG BÊN TRONG : 19
Sản phẩm chủ yếu : 19
Thị trường : 19
Đánh giá các nguồn lực, năng lực dựa trên chuỗi giá trị của DN : 20
Xác định các lợi thế cạnh tranh (Giải thích ngắn gọn các câu trả lời) 27
Đánh giá vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp (Giải thích ngắn gọn các câu trả lời) 27
Thiết lập mô thức TOWS (Định hướng chiến lược) 28
LỰA CHỌN CHIẾN LƯỢC KINH DOANH QUỐC TẾ CỦA DOANH NGHIỆP:
31
Chiến lược kinh doanh quốc tế + Phương thức triển khai quốc tế của doanh nghiệp 31
Chiến lược điển hình + Các chính sách triển khai (Giải thích ngắn gọn các câu trả lời)
31
ĐÁNH GIÁ TỔ CHỨC DOANH NGHIỆP : 34
Loại hình cấu trúc tổ chức (Giải thích ngắn gọn các câu trả lời) : 34
Lắp đặt hệ thống cơ điện, thông gió, điều hòa cấp nhiệt
Lắp đặt hệ thống làm lạnh, kho lạnh, điều hòa trung tâm
2
Bộ môn Quản Trị Chiến Lược-ĐHTM
Lắp đặt hệ thống bơm, ống nước, điều hòa không khí
Chế tạo thiết bị cho nghành chế biến thực phẩm, thủy sản
Nuôi thủy sản
Lắp đặt điện trong nhà
Lắp đặt ống cấp nước, thoát nước, bơm nước
San lấp mặt bằng
Xây dựng công trình dân dụng
Xây dựng công trình công nghiệp
Mua bán vật tư thiết bị cấp thoát nước trong nhà
Mua bán vật tư thiết bị, dụng cụ hệ thống điện
Kinh doanh bất động sản với quyền sở hữu hoặc đi thuê
Dịch vụ nhà đất
Sản xuất, chế biến và mua bán dầu Biodiesel từ mỡ cá
Đầu tư xây dựng nhà để bán hoặc cho thuê
Xác định các hoạt động kinh doanh chiến lược (SBU)
Sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực thủy hải sản đông lạnh
Xuất nhập khẩu thủy sản đông lạnh
Kinh doanh các loại vật tư nông nghiệp, thủy sản và bất động sản
Tầm nhìn, Sứ mạng kinh doanh của DN :
Công ty luôn xác định chất lượng sản phẩm là yếu tố chứng minh thành
công cho công ty thời gian qua. Bên cạnh đó giá trị thương hiệu là yếu tố quyết
định cho sự tồn tại và phát triển của công ty. Với tiêu chí lấy chất lượng làm
đầu, công ty luôn phấn đấu để xây dựng thương hiệu này càng vững mạnh theo
phương châm:
«
Năng suất - An toàn - Hiệu quả
Mới xuất hiện
Tăng trưởng
Trưởng thành / Bão hòa
Suy thoái
4
Bộ môn Quản Trị Chiến Lược-ĐHTM
Đánh giá tác động của môi trường vĩ mô (Mô hình PESTEL)
Nhận dạng các nhân tố môi trường có tác động mạnh nhất (Hiện nay và trong
dài hạn) đến DN ?
1. Nhân tố chính trị - pháp luật :
Với vị trí là ngành mũi nhọn của nước ta, Chính phủ đã có nhiều chính sách hỗ
trợ các doanh nghiệp trong ngành thủy sản : thuế (các doanh nghiệp được
hưởng ưu đãi thuế 15%), vốn vay ưu đãi, chuyển đổi ngoại tệ để gia tăng kim
ngạch xuất khẩu.
Tại kỳ họp thứ 4, khóa XI (Từ ngày 21 tháng 10 đến ngày 26 tháng 11 năm
2003), căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm
1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25
tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp
thứ 10, bộ luật thủy sản chính thức có hiệu lực.
Hiện nay, hệ thống tòa án của Việt Nam đã tương đối ổn định. Tình hình chính
trị của Việt Nam được xếp vào hàng đầu về ổn định chính trị. Đồng thời, quan
hệ chính trị của Việt Nam với các quốc gia trên thế giới ngày càng tốt đã tạo
điều kiện cho các ngành xuất khẩu của nước ta ngày càng phát triển.
2. Nhân tố kinh tế :
5
Doanh nghiệp
Nhân tố
chính trị pháp
luật
Nhân tố
Nền kinh tế Việt Nam đang ngày càng được cải thiện rõ rệt, đời sống nhân dân
ngày càng được nâng cao. Theo ước tính, nhu cầu thủy sản trong nước đạt
20kg/người/năm.
Khi Việt Nam gia nhập WTO, đã tạo ra nhiều cơ hội và thách thức cho ngành
thủy sản Việt Nam, đặc biệt là ở các nước công nghiệp phát triển. Với nhu cầu
tiêu dùng thủy sản ngày càng tăng.
3. Nhân tố công nghệ
6
Bộ môn Quản Trị Chiến Lược-ĐHTM
Trên tiến trình gia nhập kinh tế quốc tế, ngành thủy sản Việt Nam đã được tiếp
xúc với những công nghệ nuôi trồng và đánh bắt thủy sản tiên tiến của các
nước công nghiệp phát triển đã góp phần giúp cho ngành thủy sản có những
hướng đi mới.
Để nâng cao chất lượng cũng như tăng sản lượng nhằm góp phần tăng trưởng
kim ngạch xuất khẩu của ngành thủy sản, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn yêu cầu các địa phương xác định những sản phẩm chủ lực quốc gia để
phát triển, kiên quyết chỉ đạo thực hiện theo quy hoạch. Bộ cũng yêu cầu
ngành thủy sản không chú trọng phát triển bề nổi mà phát triển theo chiều sâu,
tạo sản phẩm chất lượng “sạch”, đảm bảo các tiêu chuẩn xuất khẩu. Theo đó,
năm 2011 sẽ là năm khởi đầu cho quá trình đẩy mạnh ứng dụng các quy trình
công nghệ sản xuất theo tiêu chuẩn quốc tế như: Viet GAP, Global GAP…
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết: Theo chiến lược của ngành
thủy sản, giai đoạn 2016 – 2020, sẽ đưa thủy sản trở thành ngành sản xuất hàng
hóa lớn, quản lý theo phương pháp chuỗi để tăng giá trị sản phẩm, đảm bảo sản
phẩm có thương hiệu, uy tín, có khả năng cạnh
tranh trên thị trường quốc tế
Theo đánh giá của các chuyên gia trong lĩnh vực thủy sản, với chỉ tiêu xuất
khẩu 8 tỷ USD vào năm 2020, ngành thủy sản Việt Nam hoàn toàn có thể thực
hiện được nếu quy hoạch được vùng nuôi, thực hiện tốt chuyển giao công
nghệ, đầu tư đồng bộ hệ thống thủy lợi, kiểm soát và ứng dụng giống mới,
Không chỉ riêng công ty XNK thủy sản An giang mà với tất cả các doanh
nghiệp tham gia vào ngành thủy sản luôn tồn tại những rào cản khi gia nhập
ngành. Đặc biệt là khi có các hoạt động xuất khẩu ra thị trường thế giới. Một
trong những rào cản lớn nhất khi công ty XNK thủy sản An giang khi xuất
khẩu tại nước ngoài đó chính là những chính sách của chính phủ các nước.
Công ty AN giang xuất khẩu mặt hàng thủy sản chủ yếu tập trung vào hai thị
trường chính là EU và Mỹ.
Theo các chuyên gia trong lĩnh vực xuất khẩu thủy sản, thị trường EU vẫn là
nơi có rất nhiều quy định nghiêm ngặt về an toàn vệ sinh thực phẩm. khách
hàng EU không chỉ tìm hiểu kỹ điều kiện của cơ sở sản xuất, kinh doanh thủy
8
Bộ môn Quản Trị Chiến Lược-ĐHTM
sản mà họ còn muốn biết nguồn gốc ở vùng nào, khai thác có hợp pháp không,
chế độ, điều kiện nuôi trồng như thế nào.
Tiêu chuẩn GlobalGAP và quy định IUU đối với các mặt hàng thủy sản có
nguồn gốc tư nuôi trồng. Theo Luật truy xuất nguồn gốc từ khai thác thủy sản
(IUU) của liên minh châu Âu (EU) tất cả lô hàng hải sản muốn vào được thị
trường này phải chứng minh nguồn gốc (vùng biển khai thác, tàu khai thác…).
Đây là một trong những khó khăn khi doanh nghiệp này gia nhập vào thị
trường Eu bởi việc kiểm soát nguồn gốc từ hàng trăm tàu thuyền khai thác còn
hạn chế.
Đối với thị trường Mỹ là một thị trường khắt khe với những rào cản kỹ
thuật,phi thuế quan và bảo hộ. Đặc biệt là những rào cản về các basa của Việt
Nam. Doanh nghiệp muốn xuất khẩu thủy sản sang Mỹ phải gửi kế hoạch,
chương trình HACCP cho Cục thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA), nếu FDA
kết luận là đạt yêu cầu thì doanh nghiệp được cấp phép xuất khẩu. FDA sẽ
kiểm tra từng lô hàng nhập khẩu, nếu phát hiện lô hàng không đảm bảo an toàn
vệ sinh thực phẩm thì sẽ bị từ chối nhập khẩu, sẽ bị trả về nước hoặc tiêu hủy
tại chỗ, mọi chi phí phát sinh do doanh nghiệp chịu, ngoài ra tên doanh nghiệp
được đưa vào mục “Cảnh báo nhanh” trên internet. Nếu 5 lô hàng tiếp theo của
loại thủy sản dùng riêng cho các món ăn,….
Hiện nay, sản phẩm trong ngành thủy sản đang chịu ảnh hưởng bởi văn hoá
sống hay nói cụ thể hơn là mỗi người đều có mỗi phong cách,sở thích ăn uống
chế biến khác nhau vì thế mà sản phẩm xuất ra đa dạng và phong phú hơn,
hình thức và chất lượng chính điều đó làm hạn chế cho hoạt động xuất khẩu
thủy sản ra nước khác.
Và mối đe doạ từ sản phẩm thay thế trong ngành là do sự phát triển về khoa
học công nghệ tiên tiến nhanh làm lỗi mốt sản phẩm, chu kỳ sống của sản
phẩm càng ngày càng bị rút ngắn. Tiếp đó là sản phẩm thay thế ở thủy sản biểu
hiện rõ ảnh hưởng sự so sánh về chất lượng và giá cả của sản phẩm khác nhau
ví như cùng một loại mặt hàng nhưng tùy theo từng loại chưa chế biến hoặc đã
qua chế biến, các loại thủy sản hiếm hay không, chất lượng dinh dưỡng của
thủy sản mà có những mức giá khác nhau. Doanh nghiệp An giang luôn đổi
10
Bộ môn Quản Trị Chiến Lược-ĐHTM
mới đảm bảo chất lượng, nghiên cứu những cách chế biến mớ phù hợp với thị
hiếu người tiêu dùng cũng như nâng cao được chất lượng và giảm giá bán.
Vì vậy, Thủy sản VN là ngành xuất hiện cũng khá lâu, nhưng ngày nay chịu
mọi đe doạ từ sản phẩm thay thế cũng rất lớn vì chính những đặc tính của
ngành.
III. Quyền lực thương lượng giữa các nhà cung ứng:
Vấn đề chính đặt ra cho ngành thủy sản hiện nay nói chung và công ty XNK
thủy sản An giang là làm sao mang các sản phẩm từ các nhà cung cấp tới tay
khách hàng thuận tiện nhất với giá thành hợp lý nhất.
Đầu tiên cần nói tới chính là khả năng đáp ứng nguyên vật liệu của các nhà
cung ứng tại từng khâu trong quá trình hoạt động để đảm bảo được quá trình
sản xuất kinh doah diễn ra một cách thông suốt và liên tục. Vấn đề này có thể
nhìn thấy rõ nhất ở khâu nuôi trồng và đánh bắt thủy sản. Các hộ nuôi trồng/
đánh bắt cần phải cung cấp nguyên liệu với đủ số lượng và chất lượng yêu cầu
cho nhà sản xuất. Các hộ nông dân nuôi trồng thủy sản thường là các hộ nhỏ lẻ,
cam kết vững chắc, đảm bảo các bên tuân thủ hợp đồng đã ký, không vì lợi ích
trước mắt mà vi phạm hợp đồng. Việc này ảnh hưởng rất nhiều đến sự ổn định
của chất lượng sản phẩm đầu ra - một trong những vấn đề cốt yếu
của sản phẩm thủy sản ViệtNam.
Để giải quyết vấn đề về chất lượng, có thể áp dụng thủ tục kiểm tra chất lượng
100%. Tuy nhiên, thực hiện việc này sẽ rất tốn kém và không phải lúc nào
cũng làm được. Nếu các thành viên trong chuỗi cam kết đảm bảo chất lượng tại
khâu của mình, không để sản phẩm chất lượng kém chuyển sang khâu sau, thì
sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí trong chuỗi cung ứng
các sản phẩm thủy sản.
Do hầu hết nguồn cung ứng cho công ty an giang là các trang trại chăn
nuôi nhỏ lẻ và hoạt động manh mún, nên quyền lực thương lượng giữa
nhà cung ứng và công ty là không cao.
IV.Quyền lực thương lượng với khách hàng
Thủy sản được coi là một trong những ngành trọng điểm của nền công nghiệp
Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngành
12
Bộ môn Quản Trị Chiến Lược-ĐHTM
thủy sản Việt Nam hiện nay đang được xem là ngành sản xuất mũi nhọn và có
tiềm lực phát triển khá mạnh.
Thị hiếu của khách hàng đa dạng, phức tạp, khó nắm bắt, và luôn thay đổi. Và
đặc biệt là trong ngành thủy sản. Khách hàng ngày nay đã trở nên thông minh
và mạnh mẽ hơn nhờ vào lượng thông tin mà họ tiếp thu qua mạng internet và
nhiều kênh truyền thông khác nhau. Việc đánh giá các nhà cung cấp đã được
mở rộng qua nhiều yếu tố trung gian như catalog, mạng internet và phương tiện
khác. Khách hàng có nhiều cơ hội để so sánh, lựa chọn chính xác về giá cả,
chất lượng, dịch vụ giữa nhiều nhà cung cấp khác nhau. Họ có xu hướng lựa
chọn những nhà cung cấp có dịch vụ hoàn hảo hơn, thúc đẩy các doanh nghiệp
phải chú ý đến chất lượng dịch vụ cung ứng của mình. Vì vậy để đáp ứng được
nhu cầu của khách hàng là một thách thức lớn đối với các doanh nghiệp thủy
tăng 18,3% so với năm 2009, vượt kế hoạch năm khoảng 7,5%. Trong đó sản
phẩm tôm chiếm 42,1%, cá tra-basa chiếm 28,3%, thủy hải sản khác chiếm
29,6%.
→ Ngành dệt may có sự tăng trưởng mạnh, tốc độ tăng trưởng nhanh, lợi
nhuận thu được rất lớn → nhiều doanh nghiệp không chỉ doanh nghiệp
nội địa mà cả doanh nghiệp nước ngoài muốn nhảy vào cùng xâu xé vùng
đất màu mỡ này→mức độ cạnh tranh cao→cường độ cạnh tranh cao→các
doanh nghiệp cần phải hoạch định chiến lược một cách hợp lý để đứng
vững và phát triển kinh doanh.
• Số lượng các đối thủ cạnh tranh trong ngành:
Số lượng doanh nghiệp đầu tư và thành công tại thị trường nội địa gia tăng. Có
thể kễ đến những doang nhiệp lớn mạnh như : Công Ty XNK thủy sản Cửa
long an giang, Công ty cổ phần Minh phú ( tỷ trọng 5,7 %), Công ty cổ phần
Hùng Vương, Công ty thủy sản phương nam,…
Số lượng lớn các doanh nghiệp trong ngành→ mức độ cạnh tranh cao.
• Sự đa dạng của các đối thủ cạnh tranh: Do sản phẩm thủy sản rất là rất đa dạng
nên các doanh nghiệp trong ngành cũng rất đa dạng, mỗi doanh nghiệp chuyên
về một mặt hàng, một sản phẩm nào đó→ cường độ cạnh tranh giảm.
• Đặc điểm của sản phẩm, dịch vụ:
14
Bộ môn Quản Trị Chiến Lược-ĐHTM
Đặc trưng của sản phẩm thủy sản là loại sản phẩm có yêu cầu phong phú, đa
dạng tùy thuộc vào thị hiếu, văn hóa, phong tục, tập quán, tôn giáo, địa lý, khí
hậu, về giới tính, tuổi tác và thu nhập của người tiêu dùng.
Sản phẩm thủy sản phải đảm bảo được những tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực
phẩm, vì vậy phải thường xuyên thay đổi công nghệ kỹ thuật các phương thức
chế biến hợp lý, tuân theo những tiêu chuẩn của nhà nước. Bên cạnh đó nhà
sản xuất phải tạo ra được một nhãn hiệu sản phẩm của riêng mình. Nhãn hiệu
sản phẩm theo quan điểm xã hội thường là yếu tố chứng nhận chất lượng hàng
hoá và uy tín của nhà sản xuất.
phát triển khai thác hải sản, trong đó có các chính sách hỗ trợ. Các chính sách
hỗ trợ nêu trên, một mặt, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển khai thác hải
sản, mặt khác, tăng cường quản lý hoạt động khai thác trên biển, chú trọng
phát triển khai thác gắn với bảo vệ nguồn lợi và môi trường biển như : giảm
50% thuế cho các tàu ra khơi xa, đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất,……
Bên cạnh đó, Chính phủ cũng có một số biện pháp khác nhằm khuyến
khích xuất khẩu nói chung và xuất khẩu hàng thủy sản nói riêng. Chẳng hạn,
Việt Nam có thực hiện Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia. Ngân hàng
Phát triển Việt Nam có cấp tín dụng xuất khẩu cho các doanh nghiệp, với lãi
suất ưu đãi. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp đánh giá việc vay vốn theo các hợp
đồng này là không dễ.
• Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam
Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) là tổ chức tự
nguyện của các doanh nghiệp hoạt động chế biến và xuất khẩu thủy sản của
Việt Nam, nhằm mục đích phối hợp, liên kết hoạt động của các doanh nghiệp,
giúp nhau nâng cao giá trị, chất lượng, khả năng cạnh tranh của sản phẩm thủy
sản Việt Nam, phát triển tạo nguồn nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu thủy
sản, đại diện và bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của các hội viên.
Với vai trò hỗ trợ phát triển ngành công nghiệp chế biến và xuất khẩu thuỷ sản
của Việt Nam, Hiệp hội VASEP đã và đang tiến hành nhiều hoạt động đa dạng
như:
• Tăng cường phát triển và xây dựng mối quan hệ hệ hội viên.
• Xây dựng mối liên kết với nông, ngư dân sản xuất nguyên liệu.
16
Bộ môn Quản Trị Chiến Lược-ĐHTM
• Thành lập các ủy ban ngành hàng và tăng cường hoạt động các ủy ban đi
sâu vào chuyên ngành
• Làm cầu nối giữa doanh nghiệp hội viên với các cơ quan quản lý Nhà
nước. Xử lý kịp thời các kiến nghị của hội viên, phổ biến và hướng dẫn hội
viên thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Nhà nước
biến và xuất khẩu thủy sản đều đạt tiêu chuẩn ngành và đặc biệt chiểm trên
80% tổng số doanh nghiệp được cấp code vào EU.
Đánh giá: Ngành thủy sản là ngành rất hấp dẫn đới với các
doanh nghiệp Việt Nam và có mức cường độ cạnh tranh lớn
Đánh giá :
Cường độ cạnh tranh mạnh
Cường độ cạnh tranh trung bình
Cường độ cạnh tranh thấp
Ngành hấp dẫn
Ngành không hấp dẫn
Xác định các nhân tố thành công chủ yếu trong ngành (KFS) :
Mặt hàng cá tra đông lạnh, một trong những mặt hàng thủy sản xuất khẩu
chính của Việt Nam, là khả năng cạnh tranh bằng giá rẻ của nông sản Việt
Nam
Do tỷ lệ quan trọng của nông sản và thủy sản trong cơ cấu xuất khẩu của Việt
Nam chiếm lớn nên chính phủ VIệt Nam rất quan tâm đến việc đẩy mạnh phát
triển và hỗ trợ.
Việt Nam vẫn là một quốc gia nông nghiệp không có nguồn vốn tài chính dồi
dào, thế mạnh của Việt Nam trong cạnh tranh quốc tế là nguồn lực lao động
sẵn có và rẻ tiền.
18
Bộ môn Quản Trị Chiến Lược-ĐHTM
PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG BÊN TRONG :
Sản phẩm chủ yếu :
Sản phẩm của công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản An Giang được nhiều
người biết đến, nổi tiếng trên thị trường thế giới với chất lượng thơm ngon, và
đã liên tục được công nhận là : « Hàng Việt Nam chất lượng cao » từ năm
2003 đến 2009.
Sản phẩm của công ty đa dạng, phong phú được khách hàng ưa chuộng
và đánh giá rất cao với các mặt hàng chủ lực như :
Hoạt động cơ bản : Sản xuất, Hậu cần, Marketing, Tài chính,
1. Sản xuất :
a, Quy trình sản xuất :
Agifish áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng trong toàn bộ quá trình
sản xuất: HACCP, ISO 9001:2000, Safe Quality Food 1000 (SQF 1000), Safe
Quality Food 2000 (SQF 2000), Global Standard For Food Safety (BRC), ISO
17025:2005, ISO 14001:2004
b, Hạ tầng và quy mô sản xuất :
AGIFISH chú trọng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng công nghệ để sản
xuất quy mô lớn với chất lượng cao. Năm 2011, doanh nghiệp đã cải tạo, nâng
cấp nhà máy đông lạnh AGF7: phá bỏ nhà máy cũ, xây dựng nhà máy mới trên
diện tích cũ.
Điểm mạnh của Agifish chính là có nền tảng của một doanh nghiệp tốt,
có cơ sở hạ tầng hiện đại để đẩy mạnh xuất khẩu. Chính điều này đã tạo nên sự
thành công của doanh nghiệp.
Ngoài ra doanh nghiệp còn tập trung củng cố, bảo trì, nâng cấp toàn diện về
thiết bị sản xuất, kho lạnh, mặt bằng sản xuất để nâng cao chất lượng sản
phẩm. AGF còn trú trọng vào phát triển các sản phẩm giá trị gia tăng mới từ cá
tra, cá basa ; các sản phẩm mới sử dụng phụ phẩm từ cá tra, cá basa như dầu
bio-diesel, gelatin, bột nêm và dầu cá tinh chất. Nhờ đó sản xuất hàng giá trị
gia tăng tiếp tục có mức tăng trưởng khá so với năm 2007 đạt tổng sản lượng
3.506 tấn, trong đó:
Doanh số và sản lượng hàng GTGT xuất khẩu như sau:
Sản lượng 717 tấn tăng 141%
20
Bộ môn Quản Trị Chiến Lược-ĐHTM
Doanh số 2,089 triệu USD tăng 120%
Doanh số và sản lương hàng GTGT nội địa như sau:
Sản lượng 2.789 tấn tăng 140%
Doanh số 86,106 tỷ đồng tăng 166%
AGIFISH cũng rất tích cực đẩy mạnh tìm kiếm khách hàng tiềm năng ở những
thị trường mới và thị trường chất lượng cao thông qua các hội chợ thủy sản
quốc tế; quảng bá thương hiệu và sản phẩm.
Không chỉ quan tâm đến hoạt động sản xuất kinh doanh, XNK, Công ty
Agifish luôn quan tâm đến hoạt động hỗ trợ cộng đồng. Trong thời gian vừa
qua đoàn cán bộ, nhân viên Công ty Agifish do Tổng Giám đốc Nguyễn Văn
Ký dẫn đầu vừa đến thăm và tặng quà hỗ trợ cho nhân dân vùng bị ảnh hưởng
lũ lụt của huyện An Phú và huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Mỗi huyện được
công ty hỗ trợ 100 triệu đồng, 3.000 quyển tập học sinh và 500 áo phao. Đối
với người lao động, trong cơn “bão giá” vừa qua, lãnh đạo Công ty đã thống
nhất tăng mức hỗ trợ lương, khẩu phần ăn và trợ cấp xăng… nhằm giúp công
nhân có điều kiện vượt qua “bão giá”. Với 3.500 công nhân, Agifish dự kiến số
tiền hỗ trợ khoảng 12 tỷ đồng/năm. Thời gian qua, Công ty Agifish cũng đã
dành hàng trăm triệu đồng để xây nhà tình nghĩa, hỗ trợ sửa nhà, trợ cấp khó
khăn và trợ cấp để trị chữa bệnh hiểm nghèo. Bằng các hoạt động như vậy,
hình ảnh một doanh nghiệp năng động, quan tâm đến cộng đồng sẽ luôn in đậm
trong tâm trí của cộng đồng.
4. Tài chính :
Nếu xét riêng về mặt tài chính của AGF trước năm 2010 thì có thể nói là
không được thực sự tốt. Tuy vậy đến năm 2010, sau khi công ty thuộc về
quyền điều hành của công ty cổ phần Hùng Vương thì nguồn lực tài chính của
công ty được bổ sung lên rất nhiều. Thay vì phải dồn quá nhiều vốn vào đầu tư
vào các khoản tài chính dài hạn như trước đây thì công ty đã có thêm được
nguồn tài chính tương đối lớn để bổ sung cho các hoạt động chính và trực tiếp
tạo ra lợi nhuận cho công ty là sản xuất chế biến và xuất khẩu. Ngoài ra thì cơ
cấu sử dụng vốn cũng được định hình lại và phát huy kết quả tốt.
Chúng ta có thể thấy, giai đoạn 2004-2007 là thời hoàng kim của
Agifish. Theo báo cáo tài chính kiểm toán hàng năm, năm 2004 công ty đạt lợi
22
Bộ môn Quản Trị Chiến Lược-ĐHTM
23
Bộ môn Quản Trị Chiến Lược-ĐHTM
Tỷ suất thanh
toán tiền mặt
0.03 0.03 0.07
Tỷ suất thanh
toán nhanh
0.08 0.09 0.07
Tỷ suất thanh
toán hiện thời
0.97 1.16 1.06
Vốn vay dài
hạn/vốn CSH
0.07 0.01 0.00
Vốn vay dài
hạn/tổng tài sản
0.03 0.01 0.00
Vốn vay/vốn
CSH
0.85 0.76 0.93
Vốn vay/tổng tài
sản
0.39 0.4 0.43
Công nợ ngắn
hạn/ vốn CSH
1.07 0.92 1.15
Công nợ ngắn hạn
/ tổng tài sản
0.49 0.48 0.53
Nợ phải trả/vốn
Tỷ lệ lãi EBIT % 2.75 4.28 5.88
Tỷ lệ lãi trước
thuế %
0.62 1.35 3.03
Tỷ lệ lãi thuần % 0.55 1.08 2.48
Tính đến hết quý 2 năm 2011, tổng tài sản đã lên đến 1.653.255.694.126
vnđ. Trong đó đầu tư vào tài sản dài hạn là 550.479.852.425 vnđ. (tổng tài sản
năm 2005 là 251.633.250, tổng tài sản năm 2006 là 468.269.225)
Hoạt động bổ trợ : Nhân sự, Công nghệ, Hệ thống thông tin,
1. Quản trị thu mua:
Các doanh nghiệp ngành chế biến thủy sản nói chung và Agifish nói
riêng ở Việt Nam hầu hết nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất đều thu mua từ
An Giang và Đồng Tháp. Ngoài ra, công ty Agifish là doanh nghiệp đẩu tiên
(và cũng là duy nhất) của ngành thủy sản có mô hình sản xuất kinh doanh khép
kín từ khâu sản xuất cá giống, phát triển sinh sản nhân tạo, nuôi cá bè, chế biến
thủy sản đông lạnh xuất khẩu và chế biến tận dụng các phụ phẩm của cá Tra và
Basa . Do vậy, có thể tiết kiệm đáng kể các chi phí cho nguyên vật liệu thông
qua khâu trung gian.
2. Phát triển công nghệ:
Công nghệ được coi là nguồn lực quan trọng,quyết định trong việc xây
dựng lợi thế cạnh tranh. Xác định đúng tầm quan trọng của công nghệ, Agifish
luôn chú trọng đầu tư đổi mới, phát triển công nghệ sản xuất tiên tiến hiện đại.
Nhập khẩu các dây truyền máy móc,công nghệ sản xuất hiện đại.Công ty đã
xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn HACCP
25